Thiên hoàng Kimmei

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thiên hoàng Kimmei
Kimmei-tennō
天皇
Thiên hoàng thứ 29 của Nhật Bản
Tại vị 539 – 571
Tiền nhiệm Thiên hoàng Senka
Kế nhiệm Thiên hoàng Bidatsu
Thông tin chung
Hoàng thất Nhật Bản
Thân phụ Thiên hoàng Keitai
An táng Hinokuma no saki Ai no Misasagi (Nara)

Thiên hoàng Kimmei (Nhật: 欽明天皇 (Khâm Minh Thiên hoàng") Kinmei-tennō?) (509?-571) là vị Hoàng đế thứ 29 của Nhật Bản theo Danh sách Nhật hoàng. Triều đại của ông kéo dài từ năm 539 đến năm 571, là triều đầu tiên mà lịch sử đương đại có thể xác định thời gian thẩm tra được.[1]

Tước hiệu khi ấy của ông không phải là tennō, vì phần lớn các nhà sử học đều tin rằng tước hiệu ấy không xuất hiện cho đến thời Thiên hoàng TenmuThiên hoàng Jitō. Hơn nữa, có lẽ nó là Sumeramikoto hay Amenoshita Shiroshimesu Ōkimi (治天下大王), nghĩa là "Trị Thiên Hạ Đại Vương." Thay vào đó, Khâm Minh có thể được gọi là (ヤマト大王/大君) "Đại Hòa Đại Vương/Đại Quân."

Phả hệ[sửa | sửa mã nguồn]

Cha của Thiên hoàng Khâm Minh là Thiên hoàng Keitai và mẹ là con gái của Thiên hoàng Ninken, Công chúa Tashiraka (Nhật: 手白香皇女 Tashiraka Ōjo?, Thủ Bạch Hương Hoàng Nữ).[2] Trong thời mình, ông được biết đến với cái tên Amekuni Oshiharaki Hironiwa (Nhật: 天国排開広庭?).

Kimmei có 6 phi tử và 25 người con (16 con trai và 9 con gái).[2] Theo Nihongi, ông có 6 bà vợ; nhưng Kojiki cho rằng ông chỉ có 5 bà, với bà phi thứ 3 và thứ 6 là một. 3 người đầu tiên là các cháu gái của ông, con gái của người anh cùng cha khác mẹ Senka; 2 người khác là em và con gái của Omi Soga no Iname

  • Công chúa Ishi-Hime (hay Iwa-hime), con gái của Thiên hoàng Senka và Tachibana no Nakatsu; phi tần năm 540 ; Hoàng hậu năm 572; 3 con :
    • Hoàng tử Yata no Tamakatsu no Oe (con trưởng)
    • Hoàng tử Nunakura Futotama-Shiki (Thiên hoàng Bidatsu); sinh năm 538 (con thứ hai)
    • Công chúa Kasanui (còn gọi là Công chúa Satake)
  • Công chúa Kura Wayaka-Hime, con gái của Thiên hoàng Senka và Tachibana no Nakatsu; phi tần thứ 2; 1 con :
    • Hoàng tử Iso no Kami, born 539/540
  • Công chúa Hikage, con gái của Thiên hoàng Senka có lẽ với một người thiếp; phi thứ 3; 1 con:
    • Hoàng tử Kura (Hoàng tử Soga no Kura)
  • Soga no Kitashi Hime, con gái của Soga no Iname ; phi thứ 4; qua đời trước năm 612; 13 con :
    • Hoàng tử Oe or Ikebe (Thiên hoàng Yōmei); sinh năm 540 (con trai thứ 4)
    • Công chúa Ihane-hime hay Ihakumo, trinh nữ; phải từ nhiệm vì dan díu với anh trai cùng cha khác mẹ, Hoàng tử Mubaragi
    • Hoàng tử Atori
    • Công chúa Nukatabe (Thiên hoàng Suiko), sinh năm 553, mất năm 626
    • Hoàng tử Maroko
    • Công chúa Ohoyake
    • Hoàng tử Iso no Kami Be (Imigako)
    • Hoàng tử Yamashiro
    • Công chúa Ohotomo or Ohomata; sinh khoảng năm 560; cưới cháu trai Hoàng tử Oshisako no Hikohito no Oe, con trai Thiên hoàng Bidatsu
    • Hoàng tử Sakurawi
    • Công chúa Katano
    • Hoàng tử Tachibana Moto no Wakugo
    • Công chúa Toneri, sinh khoảng 565; mất 603; kết hôn với cháu trai là Hoàng tử Tame Toyora, con trai Thiên hoàng Yōmei
  • Soga no Oane hime, con gái của Soga no Iname ; phi thứ 5 ; 5 con:
    • Hoàng tử Mubaragi
    • Hoàng tử Katsuraki
    • Công chúa Hasetsukabe no Anahobe no Hashihito, sinh khoảng 560; mất 621; kết hôn với anh trai cùng cha khác mẹ Yōmei; rồi cháu trai và con trai của chồng, Hoàng tử Tame Toyora, con trai Thiên hoàng Yōmei
    • Hoàng tử Amatsukabe Anahobe (Hoàng tử Sume-Irodo), bị giết 7 VI 587
    • Hoàng tử Hatsusebe (Thiên hoàng Sushun)
  • Nukako no Iratsume, con gái của Kasuga no Hifuri no Omi ;phi thứ 6; 2 con:
    • Công chúa Kasuga no Yamada no Iratsume
    • Hoàng tử Tachibana no Maro

Các sự kiện trong đời Kimmei[sửa | sửa mã nguồn]

Vì vài sự khác nhau trong ghi chép về Thiên hoàng Kimmei trong Nihon Shoki, một vài người tin rằng đây thực chất là một triều đình đối địch với triều đình của Thiên hoàng AnkanThiên hoàng Senka. Tuy nhiên, theo ghi chép truyền thống, không phải cho đến lúc anh trai của Thiên hoàng Kimmei là Thiên hoàng Senka qua đời thì ông mới lên ngôi.

Theo ghi chép này, Thiên hoàng Senka qua đời năm 539 ở tuổi 73;[3] và việc thừa kế ngôi báu 践祚 (Nhật: senso tiễn tộ?) được trao cho con trai thứ 3 của Thiên hoàng Keitai, là người em trai ngay sau Thiên hoàng Senka. Ít lâu sau đó, Thiên hoàng Kimmei được cho rằng đã giành được ngai vàng 即位 (Nhật: sokui tức vị?).[4]

Thiên hoàng Kimmei thành lập triều đình tại điện Shikishima no Kanazashi (磯城嶋金刺宮) (Ky Thành Đảo Kim Thích Cung)ở tỉnh Yamato.[2]

Những vị đại thần của Nhật hoàng là:

Mặc dù triều đình chưa chuyển đến vùng Asuka trước năm 592, triều Thiên hoàng Khâm Minh được một số người coi là khởi đầu cho thời Asuka của Nhật Bản, đặc biệt là những người kết hợp thời Asuka trước hết với việc truyền bá Phật giáo vào Nhật Bản từ Triều Tiên.

Theo Nihon Shoki, Thiên hoàng Khâm Minh nhận bức tượng đồng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni như là một món quà từ Thánh Minh Vương (聖明王, Seimei Ō) của Bách Tế cùng với đoàn sứ thần đặc biệt có thợ thủ công, nhà sư, và các đồ tạo tác khác vào năm 552. (Tuy vậy, theo Jōgū Shōtoku Hōō Teisetsu, Phật giáo được truyền vào năm 538.) Mặc dù Phật giáo đã được nhiều người nhập cư từ Triều Tiên thờ phụng từ trước đó, sự kiện này được coi là sự truyền bá chính thức Phật giáo vào đất nước.

Với việc truyền bá tôn giáo mới vào triều đình, quan hệ giữa gia tộc Mononobe ủng hộ thờ cùng các vị thần truyền thống Nhật Bản, và gia tộc Soga ủng hộ tiếp thu Phật giáo xấu đi nhiều. Ít lâu sau khi nhà Soga bắt đầu thờ cúng các bức tượng Phật, một bệnh dịch nổ ra, và nhà Mononobe gán cho đó là lời nguyền của các vị thần Nhật Bản trừng phạt việc thờ cúng các vị thần ngoại lai. Mononobe no Okoshi và người của mình ngay lập tức ném các bức tượng xuống sông Naniwa và đốt cháy ngôi chùa mà nhà Soga đã dựng để ngăn chặn bệnh dịch.

Theo Nihon Shoki, Thiên hoàng Kimmei trị vì cho đến khi qua đời năm 571 và được chôn cất ở lăng Hinokuma no Sakai (桧隈坂合陵) (Cối Ôi Phản Cáp Lăng) nhưng một thuyết mạnh hơn cho rằng ông thực ra được chôn ở kofun Misemaruyama (見瀬丸山古墳) nằm ở thành phố Kashihara (橿原市).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Titsingh, Isaac. (1834). Annales des empereurs du Japon, pp. 34-36; Brown, Delmer et al. (1979). Gukanshō, pp. 261-262; Varley, H. Paul. (1980). Jinnō Shōtōki. pp. 123-124.
  2. ^ a ă â b c d Brown, p. 262.
  3. ^ Varley, p. 121.
  4. ^ Titsingh, p. 34; Brown, p. 261; Varley, p. 44. [Vị trí senso riêng biệt không được công nhận trước thời Thiên hoàng Tenji; và sensosokui cho mọi Nhật hoàng trước Go-Murakami ngoại trừ Jitō, Yōzei, Go-Toba và Fushimi lên ngôi cùng năm đó.]

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]