Thiên hoàng Sushun
|
||||||||||||||||||||
Thiên hoàng Sushun (崇峻天皇, Sushun-tennō?, Sùng Tuấn Thiên hoàng, — 592) là vị Thiên hoàng thứ 32 của Nhật Bản[1], theo Danh sách Thiên hoàng truyền thống,[2] ông trị vì từ năm 587 tới 592.[3] Tên húy là Hatsusebe no Miko (泊瀬部皇子). Cổ Ký Sự ghi là Hatsusebe No Wakasasakgi no Sumeramikoto (長谷部若雀天皇).
Mục lục |
Phả hệ [sửa]
Tên lúc nhỏ của ông là Hatsusebe no Miko (長谷部皇子?). Ông là con thứ mười hai của Thiên hoàng Kimmei. Mẹ ông là Hoàng hậu Oane-no-kimi (小姉君?), con gái của Soga no Iname, trưởng tộc, hoặc Ō-omi, của gia tộc Soga.
Ông kế thừa anh em họ của ông là Thiên hoàng Yōmei vào năm 587, và sống tại cung Kurahashi (Kurahashi no Miya) ở Yamato.
Sushun có một Hoàng hậu và hai người con.[4]
- Hoàng hậu: Ōtomo no Koteko,[5] hay còn được gọi là Otehime.[6]
- Thứ phi: Kahakami no Iratsume, con gái của Soga no Umako
- Vợ: Futsuhime, em gái Mononobe no Moriya )
- Mẹ không rõ
- Sadayo no Shinno
Các sự kiện trong đời Sushun [sửa]
Ông lên ngôi với sự hỗ trợ của gia tộc Soga và Nữ hoàng Suiko, chị em họ của mình và là góa phụ của Thiên hoàng Bidatsu. Ban đầu, gia tộc Mononobe, là đối thủ của Soga, liên minh với Hoàng tử Anahobe, con của Thiên hoàng Kimmei, và cố gắng để sắp đặt ông như một hoàng đế. Soga no Umako, người kế vị cha mình chức Ōomi của gia tộc Soga, cuối cùng đã giết chết Mononobe no Moriya, người đứng đầu gia tộc Mononobe, dẫn tới sự suy yếu của gia tộc này. Sau đó Umako đặt Thiên hoàng Sushun lên ngai vàng Yamato.
Thiên hoàng Sushun rốt cuộc chỉ là bù nhìn, mọi quyền hành đều nằm trong tay của Umako, và Thiên hoàng muốn lật đổ ông. Có thuyết nói, một hôm Thiên hoàng nhìn thấy một con heo rừng và tuyên bố:
- "Trẫm muốn giết Soga no Umako như con heo rừng này".
Soga no Umako nghe được chuyện đó vừa tức giận vừa lo lắng sẽ bị hạ thủ lúc nào không hay, ra lệnh cho thủ hạ của mình là Yamato no Aya no Ataikoma (东汉 直 驹?) ám sát Thiên hoàng Sushun vào ngày 4 tháng 10 năm 592.
Sự suy sụp của gia tộc Mononobe đã tạo cơ hội cho gia tộc Soga ra sức khuyến khích và phát triển đạo Phật, bằng chứng là 2 ngôi chùa được xây dựng vào thời này là Hokouji và Shitennouji
Triều đại của Thiên hoàng Sushun chỉ kéo dài được 5 năm trước khi ông qua đời ở tuổi 72.
Chú thích [sửa]
- ^ Imperial Household Agency (Kunaichō): 崇峻天皇 (32)
- ^ Ponsonby-Fane, Richard. (1959). The Imperial House of Japan, p. 47.
- ^ Titsingh, Isaac. (1834). Annales des empereurs du Japon, pp. 38-39; Brown, Delmer et al. (1979). Gukanshō, p. 263; Varley, H. Paul. (1980). Jinnō Shōtōki, p. 126.
- ^ Brown, p. 263.
- ^ Jochi Daigaku. (1989). Monumenta Nipponica, Vol. 44, p. 455 -- Snippet view.
- ^ Kawamata municipal website: 絹製品
Tài liệu tham khảo [sửa]
- Aston, William George. (1896). Nihongi: Chronicles of Japan from the Earliest Times to A.D. 697. London: Kegan Paul, Trench, Trubner. OCLC 448337491
- Brown, Delmer M. and Ichirō Ishida, eds. (1979). Gukanshō: The Future and the Past. Berkeley: University of California Press. 10-ISBN 0-520-03460-0; 13-ISBN 978-0-520-03460-0; OCLC 251325323
- Jochi Daigaku. (1989). Monumenta Nipponica, Vol. 44. Tokyo: Sophia University Press. OCLC 1640509
- Ponsonby-Fane, Richard Arthur Brabazon. (1959). The Imperial House of Japan. Kyoto: Ponsonby Memorial Society. OCLC 194887
- Titsingh, Isaac. (1834). Nihon Odai Ichiran; ou, Annales des empereurs du Japon. Paris: Royal Asiatic Society, Oriental Translation Fund of Great Britain and Ireland. OCLC 5850691
- Varley, H. Paul. (1980). Jinnō Shōtōki: A Chronicle of Gods and Sovereigns. New York: Columbia University Press. 10-ISBN 0-231-04940-4; 13-ISBN 978-0-231-04940-5; OCLC 59145842
Xem thêm [sửa]
| Tiền nhiệm: Thiên hoàng Yōmei |
Nhật hoàng: Thiên hoàng Sushun 587-592 |
Kế nhiệm: Thiên hoàng Suiko |
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||