Thiên sứ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thiên sứ Gabriel báo tin cho Maria biết bà sẽ mang thai Chúa Giê-xu (El Greco, 1575)

Thiên sứ, còn gọi là thiên thần (Chữ "thiên" nghĩa là trời còn chữ "thần" nghĩa là cái gì đó linh thiêng, gọp lại thành chữ có nghĩa là cái gì đó linh thiêng từ trời), là những thực thể ở trên cao, được tìm thấy trong nhiều tôn giáo. Bổn phận của thiên sứ là phục vụ Thiên Chúa. Theo niềm tin của ba tôn giáo chính thuộc độc thần giáo, các thiên sứ thường thi hành nhiệm vụ của các sứ giả.

Ngữ nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Từ thiên sứ trong tiếng Anh có nguồn gốc từ tiếng Latinh, angelus, từ này lại đến từ Hi văn, ángelos, nghĩa là "sứ giả". Một từ trong tiếng Hebrew có nghĩa gần nhất với ángelos là מלאך, mal’ach trong Từ điển Strong (Strong’s Concordance) cũng có nghĩa là "sứ giả".

Thiên sứ học[sửa | sửa mã nguồn]

Thiên sứ học (angelology) là một nhánh của thần học, nghiên cứu về hệ thống đẳng cấp của thiên sứ, sứ giả hoặc các quyền lực trên chốn thinh không, chủ yếu quan hệ với Do Thái giáo (gọi hệ thống này là kaballistic), và Cơ Đốc giáo, là một trong mười nhánh chính của nền thần học này, dù vẫn thường bị lãng quên.

Có những người tin rằng đạo Zoroastra có ảnh hưởng trên thiên sứ học của Do Thái giáo, như vậy cũng ảnh hưởng trên thiên sứ học của Cơ Đốc giáo, do có những yếu tố của đạo Zoroastra xuất hiện trong Do Thái giáo sau khi dân tộc Israel tiếp xúc với nền văn minh Ba Tư trong thời kỳ lưu đày ở Babylon, trong đó Satan được xem là kẻ đứng đầu các quyền lực tội ác trong sự đối đầu với Thiên Chúa (so sánh Satan với Angra Mainyu, cũng gọi là Ahriman, trong đức tin Zoroastra, chống nghịch Ahura Mazda, thần linh tối thượng). Danh hiệu "Vua của sự tối tăm" dành cho Satan có thể có nguồn gốc từ đức tin Zoroastra.

Ngược lại, có những nhà phê bình bày tỏ xác tín rằng Do Thái giáo và Cơ Đốc giáo đã có ảnh hưởng trên đạo Zoroastra. Họ cho rằng những điểm tương đồng như đã thấy giữa Zoroastra và Chúa Giê-xu, cũng như trong các nhân tố khác, là sản phẩm của những thầy tư tế trong nỗ lực tôn cao Zoroastra và ngăn cản tín đồ đạo Zoroastra quay sang các tôn giáo khác.

Thiên sứ trong Kinh Tanakh (Cựu Ước)[sửa | sửa mã nguồn]

Tên trong Kinh Thánh của thiên sứ, מלאך ("malakh"), có ý nghĩa sâu xa hơn khi được thêm vào danh xưng của Thiên Chúa như "thiên sứ của Chúa", hoặc "thiên sứ của Thiên Chúa" (Zechariah 12.8 – "Trong ngày đó, Chúa sẽ làm đấng bảo hộ của dân cư Jerusalem, và trong ngày đó kẻ rất yếu trong vòng chúng nó sẽ như David, nhà David sẽ như Thiên Chúa, sẽ như thiên sứ của Chúa ở trước mặt chúng nó."). Có những danh xưng khác dành cho thiên sứ như "Các con trai của Thiên Chúa" (Sáng thế ký 6.4; Job 1. 6).

Theo Do Thái giáo, danh xưng Elohim chỉ dành riêng cho một Thiên Chúa duy nhất; song có những lúc Elohim (thế lực), bnē 'Elohim, bnē Elim, (các con trai của thần linh) (ngụ ý các thực thể thuộc thế giới thần linh) được dùng để chỉ các thực thể có quyền năng lớn. Dần dà được dùng để chỉ những thực thể siêu nhiên, khác với Yahweh (Đức Giê-hô-va tức Thiên Chúa) và vì vậy, là thực thể cấp thấp và hoàn toàn phục tùng Ngài (Sáng thế ký 6.2; Job 1.6; Thi thiên 8.5).

Thiên sứ đôi khi được gọi là "đấng thánh’’ (Zechariah 14.5) và "đấng canh giữ" (Daniel 4.13 – "Ta nhìn xem những sự hiện thấy trong đầu ta, khi ta nằm trên giường, và này, có một đấng thánh canh giữ từ trên trời xuống,") cũng được gọi là "thiên binh" (Phục truyền luật lệ ký 17.3 – "...đi hầu việc và quì lạy các thần khác, hoặc mặt trời, Mặt Trăng, hay là cả thiên binh - tức là điều ta không dạy bảo;") hoặc là "Tướng đạo binh của Yahweh" (Joshua 5.14 – "Người đáp: Không, bây giờ ta đến làm tướng đạo binh của Yahweh.")

Các thiên sứ thường được nối kết với các vì tinh tú. YHWH (Yahweh tức Thiên Chúa) luôn phân biệt Ngài với các thiên sứ, do đó, Moses (Mô-sê hoặc Môi-se) cấm dân Hebrew (Do Thái cổ) thờ lạy "thiên binh".

Hình dạng của thiên sứ[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Kinh Thánh Hebrew, thiên sứ thường xuất hiện trong hình dạng con người, và người ta thường không nhận ra thiên sứ (Sáng thế ký 18.2; Các Quan xét 6. 21,22; Xuất Ai cập ký 3.2).

Là những thực thể siêu nhiên, thiên sứ có thể mang hình dạng loài người, thích ứng với sứ mạng thực thi. Thiên sứ có thể cầm gươm trần hoặc các loại vũ khí khác (Dân số ký 22. 23; Joshua 5. 13; Ezekiel 9. 2). Có một thiên sứ thi hành sự trừng phạt được đề cập ở 1Sử ký 21. 16,30 "David ngước mắt lên, thấy thiên sứ của Chúa đứng giữa lưng trời, tay cầm gươm đưa ra trên Jerusalem". Sách Daniel có nhắc đến một thiên sứ "mặc vải gai, chung quanh lưng thắt đai bằng vàng ròng U-pha. Mình người như bích ngọc; mặt người như chớp, và mắt như đuốc cháy; tay và chân như đồng đánh bóng, và tiếng nói như tiếng đám đông" (Daniel 10. 5,6). Hình tượng này của thiên sứ tương tự như sự miêu tả dành cho Chúa Giê-xu trong sách Khải Huyền. Người ta tin rằng thiên sứ có cánh (Daniel 9. 21 – "Gabriel, người mà ta đã thấy trong sự hiện thấy đầu tiên, được sai bay mau đến gặp ta độ lúc dâng lễ chiều hôm") theo sự mô tả trong hội hoạ Cơ Đốc, Do Thái và Zoroastra, theo đó, các thiên sứ thường có vầng hào quang.

Thiên sứ thường được tin là có quyền năng và đáng sợ, khôn ngoan và thấu suốt mọi điều trên đất, sáng suốt trong phán đoán, thánh khiết mặc dù là không phải không thể sa ngã. (Thi thiên 103. 20; 2Samuel 14. 17, 20; 19. 27; Zechariah 14. 5; Job 4. 18; 25. 2).

Thiên sứ được cho là có liên quan đến các sứ mạng đặc biệt như "thiên sứ cứu nạn", "kẻ truyền giải", "thiên sứ huỷ diệt", "sứ giả của giao ước", "thiên sứ đứng chầu Thiên Chúa", cũng có "một nhóm thiên sứ ác" (Sáng thế ký 48. 16; 33. 23; 2Samuel 24. 16; Malachi 3.1; Isaiah 63. 9; Thi thiên 78. 49).

Quan điểm Cơ Đốc giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Tân Ước thiên sứ thường xuất hiện như là những sứ giả đem mặc khải đến từ Thiên Chúa như khi hiện đến cho Thánh Giuse (Joseph)[1], cho Chúa Giê-su[2], cho Maria [3], cho Phê-rô[4]; Chúa Giê-xu cũng nói về các thiên sứ thi hành nhiệm vụ ở sách Mác-cô 8.38[5] và Mác-cô 13.27[6], có lần ngài đã ngụ ý rằng họ không kết hôn. Tân Ước không nói nhiều về thứ bậc của thiên sứ, nhưng có những ám chỉ về điều này. Sự phân biệt giữa thiên sứ thiện và thiên sứ ác được thừa nhận. Các thiên sứ thiện như Gabriel[7], Metratron[8], và Michael[9]. Các thiên sứ ác như Beelzebul[10], Satan[11]Apollyon[12]. Có những thứ bậc trong hàng ngũ thiên sứ cũng được nhắc đến, thiên sứ trưởng Michael[13]. Các thiên sứ của Bảy Hội thánh vùng Tiểu Á đã được mô tả trong Khải Huyền 1-3. Đây có lẽ là những thiên sứ bảo vệ, đại diện cho các hội thánh cũng giống như các thiên sứ trong sách Daniel đại diện cho các dân tộc.

Thiên sứ trưởng Gabriel hiện ra cùng Đức Mẹ Maria trong vai trò truyền thống của một sứ giả tỏ cho Đức Mẹ biết con của bà là đấng Cứu thế[Messiah hoặc Savior theo tiếng Anh], các thiên sứ khác cũng hiện ra để báo tin về sự ra đời của hài nhi Giê-xu. Trong Matthew 28.2 một thiên sứ hiện ra tại mộ của Chúa Giê-xu, làm lính gác La Mã kinh khiếp, lăn tảng đá ở cửa mộ, và bảo cho những phụ nữ đến thăm mộ biết về sự phục sinh của Chúa Giê-xu ("Và này, đất rúng động dữ dội, vì có thiên sứ của Chúa ở trên trời xuống, đến lăn hòn đá mà ngồi ở trên."). Trong Phúc âm Máccô 16.5, khi các phụ nữ này vào bên trong ngôi mộ trống họ thấy một thiên sứ được miêu tả như là "một người trẻ tuổi". Theo ký thuật của Phúc âm Luca 24.4, có hai thiên sứ hiện ra khi những phụ nữ này đã vào bên trong ngôi mộ; ở đây các thiên sứ được miêu tả mặc áo "sáng như chớp". Tương tự, Phúc âm Giăng 20.12 thuật lại rằng Mary nói chuyện với "hai thiên sứ mặc áo trắng" ngồi trong mộ Chúa Giê-xu.

Khi Chúa Giê-xu về trời, có hai thiên sứ hiện ra và báo rằng Ngài sẽ trở lại (Công vụ 1. 10,11). Khi Phê-rô (Peter - Tiếng Anh) bị bắt giam, một thiên sứ khiến lính gác ngủ mê, giải thoát ông khỏi xiềng xích và đưa ông ra khỏi nhà giam (Công vụ 12. 7-8).Trong sách Khải Huyền, các thiên sứ thi hành nhiều nhiệm vụ khác nhau, trong đó có việc chầu quanh Ngai Thiên Chúa và ca hát chúc tụng: "Thánh thay, thánh thay, thánh thay".

Các thiên sứ thường khi xuất hiện trong hình dạng loài người, mặc dù các nhà thần học cho rằng thiên sứ không có thân xác, nhưng có thể hoá thân. Seraphim được miêu tả trong Kinh Thánh là có sáu cánh toả sáng từ bên trong. Từ cuối thế kỷ thứ 4, người ta hình dung các thiên sứ xuất hiện với đôi cánh, một cách giải thích dễ hiểu cho khả năng di chuyển của thiên sứ đến từ thiên đàng. Khả năng này được ngụ ý trong Kinh Thánh. Các nhà thần học kinh viện cho rằng các thiên sứ có thể lập luận và di chuyển cực nhanh. Những người này cũng dạy rằng thiên sứ là những nhân tố trung gian của một số năng lực, hoặc là năng lực tự nhiên của vũ trụ như lực quay của các hành tinh hoặc lực chuyển động của các vì sao. Thiên sứ được ban cho những khải tượng phước hạnh, hoặc sự hiểu biết thấu suốt về Thiên Chúa.

Mặc dù các bản tín điều không nhắc đến một học thuyết chính thức nào về thiên sứ, trong thời trung cổ, các tư tưởng tôn giáo thường chịu ảnh hưởng bởi tác phẩm Phẩm hàm các Thiên thể (Celestial Hierachy) của một tác giả ẩn danh vào thế kỷ thứ 5 hoặc của các tác giả viết theo văn phong của Dionysius the Areopagite. Người theo thuyết Bất khả tri có khuynh hướng bác bỏ sự hiện hữu của thiên sứ, hoặc cho đó là điều không thể biết. Song, theo nguyên lý về tính liên tục, cần có những thực thể trung gian giữa loài người và Thiên Chúa.

Một số truyền thống Cơ Đốc cho rằng các thiên sứ được tổ chức vào ba thứ bậc chính, rồi có những thứ bậc nhỏ hơn nữa, có đến mười cấp bậc thiên sứ. Dựa vào Phẩm hàm các Thiên thể mà có: Thiên sứ, Thiên sứ trưởng hoặc Tổng lãnh thiên thần, Vương hầu (Pricipalities), Thế lực (Powers), Đức hạnh (Virtues), Quyền thống trị (Dominion), Vương quyền (Thrones), Cherubim và Seraphim. Trong các phẩm hàm này, Cherubim và Seraphim là thân cận nhất với Thiên Chúa, trong khi các Thiên sứ và Thiên sứ trưởng hoạt động tích cực trong tiếp xúc với loài người; tuy nhiên có một số truyền thống cho rằng các Thiên sứ trưởng có phẩm hàm cao nhất, và con số các thiên sứ trưởng cũng ít hơn các thiên thể khác.

Một số truyền thống trong Cơ Đốc giáo cho rằng thiên sứ giữ các vai trò đặc biệt trong đời sống tín hữu. Người Công giáo tin rằng có thiên thần bảo hộ cho mỗi người ngay khi vừa chào đời.

Phổ biến trong cộng đồng Kháng Cách (Protestant), Anh giáo và Công giáo là niềm tin cho rằng danh hiệu "Thiên sứ của Đức Giê-hô-va" là dành cho Chúa Giê-xu trước khi ngài hoá thân thành người.

Ngày nay, quan điểm về sự hiện hữu của thiên sứ vẫn được chấp nhận rộng rãi trong vòng các giáo phái thuộc Cơ Đốc giáo.

Satan (còn gọi là Beelzebul) và ma quỷ, theo quan điểm Cơ Đốc, là các thiên sứ phản loạn chống nghịch Thiên Chúa và bị đuổi khỏi Thiên đàng. Cơ Đốc giáo không công nhận sự hiện hữu của thần linh nào khác ngoài Thiên Chúa, nên các trường phái thần học xem những thiên sứ ác này là những thực thể phản loạn chống lại Ba Ngôi và dối trá tự nhận mình là các thần linh.

Quan điểm Cơ Đốc về đời sau tin rằng linh hồn của những người công chính sau khi chết sẽ lên Thiên đàng và được biến hoá trở nên giống các thiên sứ. Kinh Thánh ký thuật lời của Chúa Giê-xu miêu tả người được cứu sau khi phục sinh sẽ trở nên giống như thiên sứ trong các vấn đề liên quan đến hôn nhân và sự sống vĩnh cửu, "...song những người đã được kể đáng dự phần đời sau và đáng từ kẻ chết sống lại, thì không lấy vợ gả chồng. Bởi vì họ sẽ không chết được nữa, vì giống như các thiên sứ, và là con của Thiên Chúa, tức là con của sự phục sinh." (Luca 20. 35-36). Sứ đồ Phao-lô cũng đề cập đến sự hoá thân này, "Này là sự mầu nhiệm tôi tỏ cho anh em: Chúng ta không ngủ hết, nhưng hết thảy đều sẽ biến hoá" (1Côr. 15.51), Phao-lô cho biết các thánh đồ sẽ "xét đoán các thiên sứ" (1Cor 6. 3).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "Thiên sứ của Chúa hiện đến cùng Joseph trong chiêm bao, mà phán rằng: Hỡi Giuse, con cháu David, ngươi chớ ngại lấy Maria làm vợ, vì con mà người chịu thai đó là bởi Chúa Thánh Linh." Matthew 1.20
  2. ^ "Ma quỉ bèn bỏ đi; liền có thiên sứ đến gần mà hầu việc Ngài." Mat-thêu 4.11
  3. ^ "Đến tháng thứ sáu, Thiên Chúa sai thiên sứ Gabriel đến thành Nazareth, xứ Galilee, tới gặp một người nữ đồng trinh tên Maria" Luca 1.26
  4. ^ "Thình lình, một thiên sứ của Chúa đến, và có ánh sáng soi trong ngục tối. Thiên sứ đập vào sườn Phê-rô, đánh thức người mà rằng: Hãy mau chờ dậy. Xiềng xích bèn rơi khỏi tay người." Công vụ 12.7,
  5. ^ "Vì giữa dòng dõi gian dâm tội lỗi này, hễ ai hổ thẹn về ta và về đạo ta, thì Con người sẽ hổ thẹn về kẻ ấy, khi ngự trong sự vinh hiển của Cha Ngài mà đến với các thiên sứ thánh." Mác-cô 8.38
  6. ^ "Ngài sẽ sai các thiên sứ đặng nhóm những kẻ được chọn ở bốn phương, từ đầu cùng đất cho đến đầu cùng trời." Mác-cô 13.27
  7. ^ "Thiên sứ trả lời rằng: Ta là Gabriel, đứng trước mặt Thiên Chúa; Ngài đã sai ta đến truyền cho ngươi và báo tin mừng này." Luca 1.19
  8. ^ "Đoạn, tôi thấy một vị thiên sứ khác sức mạnh lắm, ở từ trời xuống, có đám mây bao bọc lấy. Trên đầu người có mống; mặt người giống như mặt trời và chân như trụ lửa." Khải Huyền 10.1
  9. ^ "Trong kỳ đó, Michael, quan trưởng lớn, là đấng đứng thay mặt con cái dân ngươi sẽ chổi dậy. Lúc đó sẽ có tai nạn, đến nỗi từ khi mới có nước đến kỳ đó cũng chẳng có như vậy bao giờ. Bấy giờ, trong vòng dân sự ngươi, kẻ nào được ghi trong quyển sách kia thì sẽ được cứu." Daniel 12.1
  10. ^ "Có các thầy thông giáo ở thành Jerusalem xuống, nói rằng: Người bị quỉ Beelzebul ám, và nhờ phép chúa quỉ mà trừ quỉ." Mark 3.22
  11. ^ "Ngài - Chúa Giê-xu - ở nơi đồng vắng, chịu quỉ Satan cám dỗ bốn mươi ngày, ở chung với thú rừng, và có thiên sứ hầu việc Ngài." Mark 1.13
  12. ^ "Nó có vua đứng đầu, là sứ giả của vực sâu, tiếng Hebrew gọi là Abaddon, tiếng Hi Lạp gọi là Apollyon." Khải Huyền 9.11
  13. ^ "Vả, khi chính mình thiên sứ trưởng Michael chống với ma quỉ gành xác Môi-se..." Jude 9

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cheyne, James Kelly (ed.) (1899). Angel. Encyclopædia biblica. New York, Macmillan.
  • Driver, Samuel Rolles (Ed.) (1901) The book of Daniel. Cambridge UP.
  • Hastings, James (ed.) (1898). Angel. A dictionary of the Bible. New York: C. Scribner's sons.
  • Oosterzee, Johannes Jacobus van. Christian dogmatics: a text-book for academical instruction and private study. Trans. John Watson Watson and Maurice J. Evans. (1874) New York, Scribner, Armstrong.
  • Smith, George Adam (1898) The book of the twelve prophets, commonly called the minor. London, Hodder and Stoughton.
  • Bamberger, Bernard Jacob, (March 15, 2006). Fallen Angels: Soldiers of Satan's Realm. Jewish Publication Society of America. ISBN 0-8276-0797-0
  • Bennett, William Henry. Angel. 1911 Encyclopædia Britannica
  • Briggs, Constance Victoria, 1997. The Encyclopedia of Angels: An A-to-Z Guide with Nearly 4,000 Entries. Plume. ISBN 0-452-27921-6.
  • Bunson, Matthew, (1996). Angels A to Z: A Who's Who of the Heavenly Host. Three Rivers Press. ISBN 0-517-88537-9.
  • Cruz, Joan C. 1999. Angels and Devils. Tan Books & Publishers. ISBN 0-89555-638-3.
  • Davidson, Gustav. A Dictionary of Angels: Including the Fallen Angels. Free Press. ISBN 0-02-907052-X
  • Graham, Billy, 1994. Angels: God's Secret Agents. W Pub Group; Minibook edition. ISBN 0-8499-5074-0
  • Guiley, Rosemary, 1996. Encyclopedia of Angels. ISBN 0-8160-2988-1
  • Kreeft, Peter J. 1995. Angels and Demons: What Do We Really Know About Them? Ignatius Press. ISBN 0-89870-550-9
  • Lewis, James R. (1995). Angels A to Z. Visible Ink Press. ISBN 0-7876-0652-9
  • Melville, Francis, 2001. The Book of Angels: Turn to Your Angels for Guidance, Comfort, and Inspiration. Barron's Educational Series; 1st edition. ISBN 0-7641-5403-6
  • Ronner, John, 1993. Know Your Angels: The Angel Almanac With Biographies of 100 Prominent Angels in Legend & Folklore-And Much More! Mamre Press. ISBN 0-932945-40-6.
  • Swedenborg, Emanuel (1979). Conjugal Love. Swedenborg Foundation. ISBN 0-87785-054-2

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Thứ bậc một
(thờ phượng Chúa)

Luyến thần (Seraphim) • Minh thần (Cherubim) 
Bệ thần (Ophanim) • Ngai thần (Thrones) 

Paradiso Canto 31.jpg
Thứ bậc hai
(hoạt động)

Quản thần (Dominions) • Dũng thần (Virtues)  • Quyền thần (Powers)

Thứ bậc ba
(mang thông điệp)

Lãnh thần (Principalities) • Tổng lãnh thiên thần (Archangel) • Thiên thần (Angel)