Thiệu Tân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Thiệu Tân là một nằm men theo triền núi Đọ và ở bờ nam của sông Chu, thuộc huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hoá, Việt Nam.


Thiệu Tân
Tỉnh/Thành phố Thanh Hóa
Quận/Huyện/Thị xã Thiệu Hóa
Diện tích 4,12 [1] km²
Số dân 3.125 người (1999)[1]
Mật độ dân số 758 người/km²
Mã đơn vị hành chính 15862[2]
Mã bưu chính

Thông tin địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Xã Thiệu Tân có diện tích: 4,12 km2;[1].

Địa giới hành chính:

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Tổng điều tra dân số năm 1999, xã Thiệu Tân có dân số 3.125 người[1]. Với mật độ dân số 758 người/km²(1999), đây là xã có mật độ dân cư thấp của huyện Thiệu Hóa.

Tuy được gọi là Thiệu Tân nhưng thật ra làng đã có lịch sử rất lâu đời. Sau năm 1975, theo chính sách kinh tế mới, khoảng một nửa số hộ trong xã được đưa đi định cư ở huyện Thạch Thành, để mở rộng đất canh tác. Ngoài ra các hộ sinh sống ở ngoài đê cũng được chuyển vào trong núi và trong đê nhằm tránh lũ sông Chu về mỗi năm một lớn.

Lịch sử hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng đất xã Thiệu Tân ngày nay thời Lê là làng Đông Xá thuộc tổng Đại Bối, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Thiên. Đến triều Gia Long, phủ Thiệu Thiên được đổi làm phủ Thiệu Hóa.[3]. Sau đó Đông Xá được đổi thành Trần Xá rồi đổi sang Tòng Tân.

Năm 1900, hai tổng Vận Quy và Đại Bối của huyện Đông Sơn được chuyển vào huyện Thuỵ Nguyên, cùng phủ Thiệu Hóa.

Sau Cách mạng Tháng Tám, thành lập huyện Thiệu Hóa, xã Thiệu Tân thuộc huyện Thiệu Hóa.

Năm 1977, cùng với các xã hữu ngạn sông Chu thuộc huyện Thiệu Hóa, xã Thiệu Tân được sáp nhập với huyện Đông Sơn thành huyện Đông Thiệu. Năm 1982 huyện Đông Thiệu đổi lại là huyện Đông Sơn, xã Thiệu Tân thuộc huyện Đông Sơn. Năm 1996, xã Thiệu Tân trở lại huyện Thiệu Hóa mới tái lập.

Xã Thiệu Tân gồm hai làng là Tòng Tân Nội (trong đê sông Chu) và Tòng Tân Ngoại (ngoài đê) [3]. Năm 1976 Tòng Tân Ngoại thực hiện chính sách di dân (do ngoài đê thì thường xuyên bị nước lũ gây thiệt hại về người và của) lên huyện Thạch Thành được thành lập một xã là Thành Trực và một số hộ thì chuyển đi huyện khác.

Hiện nay xã Thiệu Tân có 5 xóm dân số khoảng 6000 người. Là vùng đất trù phú, dân cư thuần nông.

Di tích lịch sử, văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Trước đây ở xã có nhiều công trình văn hóa lớn và rất linh thiêng, nhưng do sự thiếu hiểu biết những công trình này dần bị phá bỏ để xây dựng nhà kho cho hợp tác xã([cần dẫn nguồn]).

Nằm chân núi Đọ (núi Đọ (Kim Quy) có hình một con rùa lớn) là một ngôi đình làng hoặc chùa, các cụ lớn tuổi trong làng kể lại nó được xây dựng từ rất xa xưa, khi các hộ gia đình chuyển vào núi sinh sống khu vực này còn rất hoang sơ. Khi đào giếng ở khu vực này để lấy nước làm nhà, người ta phát hiện dưới độ sâu 3 m đến 4 m có rất nhiều am được xây bằng gạch lớn với kích thước khoảng 20x40x10cm và nhiều hiện vật bằng đồng, gốm... có giá trị cao. Ngôi chùa sau này bị phá và xây dựng nhà kho chúa lương thực và thuốc trừ sâu, khi nhà kho bị phá thì trở thành vườn bạch đàn, hiện nay nơi đây được xây dựng thành nhà văn hóa xã.([cần dẫn nguồn])

Nghè Thượng nằm ở chân núi đầu đường đê, hiện nay đã trở thành trường cấp 2 của xã. Theo kể lại, cái nghè này được xây dựng rất lớn và đắp nổi nhiều hình thù đẹp. Đình Trung được xây trong đê hiện nay là trụ sở UBND. Cả hai công trình này cũng bị phá để xây nhà kho, trước khi trường cấp 2 được xây hai nơi này vẫn còn được dùng làm nơi vui chơi tết. ([cần dẫn nguồn])

Nghè Hạ thì đã bị phá từ lâu khi các gia đình chuyển vào trong núi, nghe nói nó nằm ở khoảng đất được gọi là Bản Cao mà hiện nay là nghĩa địa của xã. Đến nay cũng chỉ còn một vài cụ trong làng biết đến những lễ hội của làng được tổ chức hàng năm với đám rước đi quanh các đình nghè này. ([cần dẫn nguồn])

Trên núi Đọ trong địa phận xã tìm thấy nhiều rìu đá được chế tác từ thơ sơ đến những cái rất tinh xảo. Thậm chí nhiều gia đình còn tìm được cả quan tài bằng đất nung chứa nhiều đồ đồng. Trên lưng chừng núi có hai khối đá lớn, một khối đá còn in lại dấu một dấu chân người và một dấu chân ngựa, khối còn lại chỉ có một dấu chân người. Hai khối đá này được gọi đá Chân Tiên, chúng nằm rất xa nhau.([cần dẫn nguồn])

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b Quyết định số 19/2006/QĐ-BTNMT ngày 01/12/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành Danh mục địa danh các đơn vị hành chính Việt Nam thể hiện trên bản đồ. 
  2. ^ Quyết định số 124/2004/QĐ-TTg ngày 08/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành bảng Danh mục và mã số các đơn vị hành chính Việt Nam. 
  3. ^ a ă Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá. Tên làng xã Thanh Hoá, tập I. Nhà xuất bản Thanh Hoá, 2000. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]