Tiên Phước

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tiên Phước là một huyện trung du phía tây của tỉnh Quảng Nam.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Phía tây giáp huyện Bắc Trà My, phía đông giáp huyện Phú Ninh, phía nam giáp huyện Núi Thành, phía bắc giáp huyện Hiệp Đức. Diện tích tự nhiên của Tiên Phước là 45.322 ha (2001). Thị trấn Tiên Kỳ nằm ở vị trí trung tâm của huyện.

Điều kiện tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Là một huyện trung du nên khí hậu trong vùng tương đối khắc nghiệt, nhiều hạn hán, thiên tai. Phần lớn diện tích trong vùng là đất nông nghiệp nhưng kém màu mỡ và tỷ lệ đất thịt rất thấp. Đây là một vùng kinh tế nghèo của tỉnh Quảng Nam. Do đặc điểm cấu tạo địa hình nên sông Tiên - con sông chảy quanh địa bàn huyện được mệnh danh là "con sông chảy ngược", không xuôi về biển Đông mà ngược về hướng tây-nam, đổ ra sông Thu Bồn.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện gồm 15 xã và thị trấn.


Dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Đến đầu 2005, dân số huyện Tiên Phước là 73.106 người. Tỷ lệ gia tăng dân số chậm.

Nhân vật nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Hai nhân vật kiệt xuất trong vùng vẫn thường được mọi người nhắc đến là Phan Chu TrinhHuỳnh Thúc Kháng.

Đặc sản[sửa | sửa mã nguồn]

Tiêu là loại cây trồng có giá trị kinh tế cao của Tiên Phước, rất phù hợp với loại đất có tỷ lệ màu mỡ thấp. Đặc điểm của cây tiêu: thân dây, được trồng quanh hồ (tự tạo) hoặc cọc (chói) bám vào cây tự nhiên, độ cao từ 3–10 m là có thể cho hạt. Hạt tiêu Tiên Phước có vị cay, nồng nhưng rất thơm và là một loại nông sản được xuất khẩu sang các nước châu Áchâu Âu. Cùng với cây tiêu, Tiên Phước còn có quế, lòn bon, thanh trà cũng là các loại cây nông sản đặc trưng của vùng.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]