Tiêu thổ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tiêu thổ là một phương pháp chiến thuật quân sự khi một đội quân trước khi rút ra khỏi một địa điểm phá hủy tất cả những thứ địch quân có thể sử dụng được. Tuy nghĩa chính là đốt lương thực, nhưng chiến pháp này kể luôn phá sạch các phương tiện trọng yếu như nhà cửa, giao thông, liên lạc, kỹ nghệ, v.v. Mục đích là tạo khó khăn cho địch quân khi vào vùng đất bị tàn phá, không đủ điều kiện đóng quân, ăn nghỉ và sửa sang dụng cụ máy móc.

Quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Truyện trong Kinh thánh[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Abraham vào khu sau này là đất Do Thái, người Philistines lấp các giếng nước(Genesis 26: 15, 18).

Samson dùng lửa đốt đuôi của 300 con chồn và xua chúng chạy vào đốt cháy ruộng của dân Philistines (Judges 15: 4, 5).

Jeremiah tiên đoán rằng người Babylon sẽ tàn phá vùng đất Judah và đất sẽ trở thành vô dụng trong 70 năm (Jeremiah 25: 8-11; 2 Chronicles 36: 20, 21).

Giáo sư Lawrence E. Stager của Đại học Harvard nói: "Qua thời đại Philistia và sau đó thời đại Judah, chiến pháp tiêu thổ của các vua Babylon đã tạo nên nhiều vùng đất hoang thực sự."[1]

Đất Babylon trở thành vùng đất hoang vu cho đến ngày nay.[2]

Thời La Mã[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời Chiến tranh xâm lược xứ Gaule, khi bị các bộ lạc Đức tấn công, dân Helvetii gốc Celt phải chạy giặc xuống miền nam. Để tỏ chí quyết tâm ra đi, họ đốt sạch nhà cửa và mọi thứ họ không thể đem theo. Sau khi các bộ lạc Đức bị quân La Mã và quân xứ Gaule đánh dẹp, dân Helvetii phải trở lại khu đất ở Thụy Sĩ và Đức xây dựng lại những gì họ từng tàn phá.

Cũng trong thời này, dân Gaule, dưới chỉ huy của Vercingetorix, âm mưu dụ quân La Mã vào một khu đất họ đã tàn phá và vây lại để đánh. Mặc dù bị thiếu thốn khó khăn nhưng quân La Mã vẫn đủ sức phá tan quân Gaule, bắt họ phải phục tòng đế quốc La Mã. Khu đất bị tàn phá này là khu xứ Benelux và Pháp ngày nay.

Trong Chiến tranh Punic thứ hai (218 TCN - 202 TCN) quân Carthaginia dùng tiêu thổ kháng chiến khi họ tràn vào thủ đô Roma.

Cận đại[sửa | sửa mã nguồn]

Lãnh tụ ScotlandRobert the Bruce sử dụng chiến thuật tiêu thổ chống cuộc xâm lăng của vua AnhEdward I.

Năm 1462 hoàng thân Vlad III Dracula chống quân Thổ Nhĩ Kỳ tại Công quốc Wallachia.

Nhiều viên chỉ huy quân sự Anh thế kỷ 16 như Walter Devereux, Richard Bingham và Humphrey Gilbert dùng tiêu thổ binh pháp trong các cuộc chiến với Ireland.

Năm 1578-1590, dân Ba Tư cũng dùng cách này để ngăn chận cuộc xâm lăng của đế quốc Ottoman.

Thế kỷ 19[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời chiến của Napoléon, tiêu thổ kháng chiến rất có hiệu quả tại chiến cuộc Tây Ban NhaNga.

Trong cuộc chiến tại Utah năm 1858, dân Mormon theo chỉ huy của Brigham Young tàn phá vùng họ ở trước khi rút lui.

Tướng Hoa Kỳ William Tecumseh Sherman trong cuộc Nội chiến Mỹ tàn phá những vùng quân đội của ông đi qua, 300 dặm dọc, 60 dặm ngang, từ Atlanta đến Savannah, Georgia.

Chiến tranh dân Boer[sửa | sửa mã nguồn]

Horatio Kitchener dùng tiêu phép thổ trong thời kỳ thứ nhì của cuộc chiến với dân Boer khi quân Đế quốc Anh không hạ được kháng chiến quân Boer. Lính Anh đốt nhà, đốt ruộng của dân Boer để dân quân xứ họ không có đủ ăn và đau lòng khi thấy vợ con không nhà không cửa. Tuy nhiên chiến thuật này thất bại. Sau đó, lính Anh bắt những vợ con của quân kháng chiến vào trại tập trung làm chết nhiều người vì bệnh tật và thiếu ăn.

Chiến tranh Da đỏ Hoa Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Trong cuộc chiến với các bộ lạc dân da đỏ tại Hoa Kỳ, Kit Carson sử dụng chiến thuật tiêu thổ khi muốn khuất phục bộ lạc dân Navajo. Quân đội Mỹ đốt ruộng lúa, phá nhà cửa và tịch thu hay giết gia súc của bộ lạc này. Đồng thời khích lệ những bộ lạc thù địch với Navajo tiếp sức đánh phá làm đời sống của họ thêm khó khăn. Năm 1864, khi cạn lương thực và hết chỗ sống, bộ lạc Navajo phải đầu hàng và 8.000 dân này phải chịu đựng cuộc hành trình đi bộ 300 dặm đến đồn Sumter thuộc New Mexico. Rất nhiều người chết trong cuộc đi bộ này và nhiều năm tù tội sau đó.

Chiến tranh Hoa-Nhật[sửa | sửa mã nguồn]

Trong trận Hoa-Nhật thứ nhì, năm 1938 quân Trung Quốc phá đê đào hào làm lụt đất để làm chậm mức tiến của quân ngoại xâm từ Nhật Bản. Quân Nhật cũng dùng phép tương tự (gọi là Sanko sakusen) chống lại quân Trung Quốc. Kết quả là đời sống của dân chúng rất khổ sở.

Đệ nhị thế chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1941 khi quân Đức xâm chiếm Liên Xô, Iosif Vissarionovich Stalin ra lệnh dân và quân Nga dùng tiêu thổ kháng chiến làm chậm bước tiến của ngoại xâm. Vài năm sau, khi quân Đức rút lui khỏi lãnh thổ Liên Xô họ cũng làm thế để ngăn mức tiến của quân Nga đang rượt đuổi.

Tháng 11 năm 1944 quân Đức cũng dùng chiến thuật tiêu thổ khi rút ra khỏi hai nước Bắc Âu Phần LanNa Uy. Vùng ngoại ô Rovaniemi của Phần Lan bị thiêu rụi. Trong khu Lapland, chỉ có hai cái cầu là không bị phá, còn lại đều bị giựt sập, và các đường đi đều bị gài mìn.

Đến cuối cuộc chiến, Adolf Hitler ra lệnh tướng Albert Speer phá hủy mọi phương tiện địa ốc và kỹ nghệ trên đất Đức để quân Đồng Minh và quân Liên Xô đang tiến vào không thể sử dụng. Nhưng Albert Speer không nghe và bỏ trốn khỏi Berlin.

Chiến tranh vùng Vịnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1990, trước khi tháo chạy, quân Iraq đốt và đặt mìn chung quanh các giếng dầu của Kuwait để quân đồng minh Mỹ khó chiếm và quản lý dầu khí.

Gần đây[sửa | sửa mã nguồn]

Quân Indonesia và các nhóm quân ủng hộ, dùng phép tiêu thổ khủng bố dân Đông Timor trong cuộc trưng cầu dân ý độc lập năm 1999.

Mexico đốt ruộng nương của nông dân nhỏ để làm lợi cho các đại kinh doanh nông nghiệp.

Thương mại[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay cả trong thương mại cũng có thể dùng chiến pháp tiêu thổ. Thí dụ khi một công ty có nguy cơ bị sang lại cho công ty khác khi chưa ngã ngũ chuyện bàn giao mua bán có thể sẽ tận dụng năng lực làm khủng hoảng công ty của mình bằng nhiều cách: lấy hết vốn ra trả nợ, bán hay phá hủy mọi tài sản, vốn liếng quan trọng. Mục đích không phải là trả thù mà là hy vọng không ai muốn mua rẻ công ty mình để mình có thể thời giờ từ từ xây dựng lại.

Những công ty lớn cũng có thể dùng phép này để làm phá sản công ty nhỏ đối địch, bằng cách mua và phá hết các đầu mối thương mãi của công ty nhỏ đó. Khi không có cung cấp và mất kháck hàng công ty nhỏ phải chịu thua lỗ và phá sản.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Báo The Watchtower November 15, 2006, page 32
  2. ^ Báo The Watchtower