Tiếng Nùng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tiếng Nùng
Nói tại Việt Nam, Trung Quốc
Tổng số người nói 856.000 (thống kê 1999); 968.800 (thống kê 2009)[1]
Ngữ hệ Tai-Kadai
Phân nhánh
Mã ngôn ngữ
ISO 639-3 nut
Phân bố
Taikadai-en.svg

Phân bố ngữ hệ Tai-Kadai.[a]

  1. ^ Hệ thống phân loại các ngôn ngữ Tai gồm: Tai Bắc, Tai Trung Tâm, Tai Tây Nam do André-Georges Haudricourt (1956), Li Fang-Kuei 李方桂 (1977), William J. Gedney (1989) đưa ra. Pittayawat Pittayaporn trong luận văn tiến sĩ tại đại học Cornell (2009) đưa ra hệ thống phân loại hoàn toàn khác

Tiếng Nùng là ngôn ngữ của người Nùng, đây là ngôn ngữ thuộc Hệ ngôn ngữ Tai-Kadai (hay Tày-Thái theo cách gọi của Việt Nam) được nói chủ yếu ở các tỉnh Lạng SơnCao Bằng, Việt Nam.

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Nùng ở Việt Nam có dân số 968.800 người, là dân tộc có dân số đứng thứ 7 tại Việt Nam, có mặt trên tất cả 63 tỉnh, thành phố[1]. Số người nói tiếng Nùng có thể nhỏ hơn số liệu trên chút ít.

Các nhóm địa phương của người Nùng như Nùng An, Nùng Phàn Sình, Nùng Cháo, Nùng Dín, Nùng Xuồng có sự khác biệt ít nhiều về ngôn ngữ, bao gồm ngữ âm và một phần từ vựng giữa tiếng nói các địa phương[2]. Tiếng Nùng An phát âm gần như tiếng Cao LanSán Chaytiếng Giáy. Tiếng nói người Nùng Phủ ảnh hưởng âm sắc của tiếng Tày[3].

Người Nùng dùng chữ Hán hay chữ Nôm Nùng (được phát triển khoảng thế kỷ 17) để ghi chép thơ ca và truyện cổ dân gian[4]. Bài Mo Nùng được ghi bằng chữ Nôm trên giấy bản, gia phả nhiều dòng họ còn giữ lại cũng được ghi bằng chữ Nôm Nùng[3]. Năm 1924, tiếng Nùng lần đầu tiên được ghi theo hệ chữ Latinh nhờ các công trình của linh mục F.M.Savina. Viện Ngôn Ngữ Học Mùa Hè (Summer Institute of Linguistics - SIL International) trước năm 1975 cũng có một bộ chữ cho người Nùng Phản Slình sống ở miền nam Việt Nam. Ở miền bắc Việt Nam, có thêm phương án chữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ quốc ngữ từ năm 1961.

Các phương ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Nùng bao gồm nhiều phương ngữ, một vài trong số đó được liệt kê như sau:

  • Nùng Phản Slình được nói ở huyện Cao Lộc, Bình Gia, Văn Quan, Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn và huyện Yên Thế, Lạng Giang của tỉnh Bắc Gaing
  • Nùng Cháo được nói ở huyện Văn Quan, Văn Lãng, Tràng Định tỉnh Lạng Sơn, huyện Nà Rì tỉnh Bắc Cạn và huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên. Phương ngữ Nùng Cháo tương đồng với Tráng Long Châu của William J. Gedney.
  • Nùng Inh được nói ở huyện Chi Lăng, Hữu Lũng, Bình Gia, Văn Quang tỉnh Lạng Sơn. Phương ngữ Nùng Inh tương đồng với Nùng phía tây của William J. Gedney ở Mường Khương, tỉnh Lao Cai.
  • Nùng An được nói ở Quảng Uyên, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng. Giống những người nói tiếng Tráng ở Long An (Long'an 隆安), huyện Tĩnh Tây (Jingxi 靖西县), tỉnh Quảng Tây, Nùng An mang cả hai đặc điểm của Tai trung tâm và Tai bắc.
  • Nùng Giang được nói ở huyện Hà Quảng, Hạ Lang, Trà Lĩnh tỉnh Cao Bằng. Nùng Giang cũng được nói xuyên biên giới tại Bình Mãng (Pingmeng 平孟镇), huyện Tĩnh Tây, tỉnh Quảng Tây. Ở đó Nùng Giang được gọi là Tráng Yang.
  • Nùng Dín được nói ở huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần thuộc tỉnh Hà Giang và Bắc Hà, Mường Khương thuộc tỉnh Lào Cai.[5] Nùng Dín cùng các phương ngữ Nùng ở Vân Nam Trung Quốc được coi là Nùng phía tây; đây là những phương ngữ Nùng nằm giáp ranh giữa nhóm Tai trung tâm và Tai tây nam.[5]

Nùng Vẻn (En) là một ngôn ngữ trước kia không được phân loại ra khỏi các ngôn ngữ Tai trung tâm. Cuối thập niên 1990, nhà ngôn ngữ học Hoàng Văn Ma đầu tiên nhận ra nó không phải là một ngôn ngữ Tai. Năm 1998, Hoàng Văn Ma và Jerold A. Edmondson phát hiện đó là một ngôn ngữ thuộc ngữ chi Kadai (Kra). Tỷ lệ tương đồng từ vựng giữa tiếng Nùng Vẻn và các phương ngữ Nùng khác là dưới 50%.[6] Người Nùng Vẻn sống tại bản Cja Tjeng, xã Nội Thôn (Hà Quảng), tỉnh Cao Bằng.[7] Vào năm 1998, họ cho biết dân số của mình là 200 người.[8] Họ tự gọi mình là Anh [aiɲ], người Nùng (Tai) địa phương quanh vùng gọi họ là Nùng Vẻn.[8] Người Nùng Vẻn không có ghi chép nào về nguồn gốc của mình và cũng không biết trước kia họ đã từng sống ở đâu, khi nào và bằng cách nào họ di cư tới Việt Nam.[6] Các nhà nghiên cứu thẩm định rằng Nùng Vẻn có quan hệ gần gũi nhất với tiếng Bố Ương (Buyang, 布央语). Các cư dân nói tiếng Nùng Vẻn được chính phủ Việt Nam phân loại là người Nùng.

Lịch Sử[sửa | sửa mã nguồn]

Giữa các dân tộc Tai gồm Thái (Thái Lan), Lào, Nùng, Tráng, Tày...có cùng một tên gọi chỉ người Việt (Kinh) là Keo (kɛɛuA1). Trong tiếng Việt gọi là giao.[9] Từ này được lấy từ tên của một quận Trung Quốc gọi là Giao Chỉ (Jiaozhi 交址), thành lập ở Việt Nam khoảng năm 112 TCN, cùng tám quận khác: Nam Hải (Nanhai 南海), Uất Lâm (Yulin hay Guilin 郁林), Thương Ngô (Cangwu 苍梧), Hợp Phố (Hepu 合浦), Cửu Chân (Jiuzhen 九真), Nhật Nam (Rinan 日南), Châu Nhai (Zhuya 珠崖), và Đam Nhĩ (Dan’er 儋耳).[9] Jerold A. Edmondson của đại học Texas, Arlington, trích dẫn bài báo của Phạm Hoằng Quý (Fan Honggui 范宏貴) (1989), cho rằng sự phân tách giữa các ngôn ngữ Tráng và các ngôn ngữ Tai tây nam diễn ra không sớm hơn sự thành lập của Giao Chỉ tại Việt Nam năm 112 TCN, nhưng không muộn hơn khoảng thời gian từ thế kỷ thứ 5 đến thứ 6 SCN.[9]

Chữ Nùng Latinh 1961[sửa | sửa mã nguồn]

Chữ Tày Nùng Latinh được chính phủ Việt Nam phê chuẩn năm 1961 cho khu tự trị Việt Bắc (1956-1975). Chữ Tày Nùng Latinh được xây dựng dựa trên cơ sở chữ quốc ngữ: cùng con chữ, cùng một cách ghép vần đối với những âm tiết giống nhau.[10] Bảng chữ cái Tày Nùng chỉ được dạy trong các trường tiểu học trong một thời gian ngắn vào thập niên 1960, rồi sau đó rơi vào quên lãng.[11] Bảng chữ cái này không được truyền bá sử dụng trong cộng đồng.[11] Ngay cả những phát thanh viên tiếng Tày Nùng tại các đài phát thanh vùng nói tiếng Tày Nùng cũng không biết bảng chữ cái này.[11] Họ viết tin tức để đọc trong các chương trình phát thanh bằng ký tự riêng của mỗi người giống các phát thanh viên tiếng Dao ngày nay đang làm.[11]

Phụ âm[12]
Phiên âm Chữ Thí dụ Nghĩa
/ɓ/ b bẻ
/k/ c,k,q cáy
ki còi
quai khôn
/z/ d
/ɗ/ đ đo đủ
/f/ f fạ trời
/h/ h hai trăng
/l/ l lăng lưng
/m/ m ma chó
/n/ n ruộng
/r/ r rụ biết
/p/ p pu cua
/s/ x xu tai
/t/ t tu cửa
/v/ v sải
/ɲ/ nh nhả cỏ
/c/~/tɕ/ ch chả mạ
/ŋ/ ng ngà vừng
/tʰ/ th tha mắt
/kʰ/ kh kha chân
/pʰ/ ph phải vải
/ɬ/ sl slam ba
/ɓj/ bj bjoóc hoa
/mj/ mj mjạc trơn
/pj/ pj pja
/pʰj/ phj phja núi đá
những âm địa phương
/t'/ t' t'ả sông
/w/ w wằn ngày
/j/ z za thuốc
/ɣ/ g gần người
Những âm mượn tiếng Việt
/ / gi giờ
/tʂ/ tr trường
/s/ s (học) sinh
Nguyên âm[13]
Phiên âm Chữ Thí dụ Nghĩa
/a:/ a ca con quạ
/a/ ă mắn vững chắc
/ə:/ ơ tơ lụa
/ə/~/ɤ/ â bân trời
/ɛ/ e bén cái mẹt
/e/ ê mên thối, hôi
/i/ i tin chân
/u/ u mu lợn
/ɨ/~/ɯ/ ư mử mợ
/ɔ/ o mỏ nồi
/o/ ô nồm sữa
/iə/ iê, ia 1.niêng; 2.mìa 1.diều; 2.vợ
/uə/ uô, ua 1.tuống; 2.tua 1.dây quai; 2.con
/ɨə/~/ɯɤ/ ươ, ưa 1.nưới; 2.mừa 1.mệt; 2.về
  • Các nguyên âm dài: i, u,ư...trong các ngành Nùng sẽ được thể hiện bằng hai chữ cái, như: khiing (gừng), khuúp (đầy năm)[14]...
  • Thêm kí hiệu để ghi thanh lửng trong tiếng Nùng: dùng một gạch ngang nhỏ đặt dưới âm chính.[14]
Ta (sông)- tả (bỏ)
Pinh (bệnh) - Pỉnh (nướng)
  • Đánh dấu sắc (') các từ có kết cấu là âm tiết khép: hap (cách viết theo phương án không dấu) ---> háp (gánh)[14]
Thanh điệu
Tên Dấu Nét
Không dấu ˧
Dấu sắc ˧˥
Dấu huyền ˨˩
Dấu hỏi ʔ ˧˩˧
Dấu nặng . ˧˨ˀ

Trong phương án có dùng dấu ngã /~/ để ghi các từ mượn từ tiếng Việt. Trong phương án không có kí hiệu để ghi thanh lửng, những từ mang thanh lửng đề được thể hiện bằng thanh hỏi /?/.[15]

Từ vựng[sửa | sửa mã nguồn]

Từ thuần Tai[sửa | sửa mã nguồn]

Các từ thuần Tai chiếm tuyệt đại đa số trong kho từ vựng và thường thuộc vốn từ cơ bản, có mặt ở tất cả các lớp từ, nhất là các từ chỉ các hiện thượng thiên nhiên, các bộ phận cơ thể, các hoạt động, tính chất...

Mừ (tay), nả (mặt), đông/đung (rừng), tha vằn (mặt trời), kin (ăn), pay (đi), nòn (ngủ), hảy (khóc), đeng (đỏ), đay (tốt), slâư (trong, sạch), cau (tao)...

Từ mượn tiếng Hán[sửa | sửa mã nguồn]

Các từ mượn tiếng Hán đi vào vốn từ vựng tiếng Tày Nùng vào những thời kỳ khác nhau. Đối với nhiều từ, người Tày Nùng hiện nay không ý thức được đấy là những từ mượn gốc Hán nữa.

  • Số từ: ết (một), nhì (hai), slam (ba), pét (tám)...
  • Động vật, sự vật: mạ (ngựa), an (yên ngựa), tắng (ghế), chỉa (giấy)...
  • Từ chỉ tính chất: quảng (rộng), đáo (hồng)...
  • Từ chỉ hoạt động: xỉnh (mời), chiềng (thưa), sleng (sinh), sloán (tính)...
  • Từ xưng hô: nỉ (cậu, anh), ngỏ (tôi, tớ)...

Từ mượn tiếng Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Từ mượn tiếng Việt gồm hai loại lớn: từ thuần Việt và từ Việt gốc nước ngoài (chủ yếu là từ Hán-Việt)

  • Các từ mượn thuần Việt là những từ thường dùng hàng ngày: hòm (hòm), khóa (khóa), đồng hồ (đồng hồ), xe đạp (xe đạp)...
  • Các từ mượn Hán-Việt là các thuật ngữ thuộc lĩnh vực kinh tế, chính trị, kỹ thuật và các hiện tượng xã hội: chính phủ, hành chính, toán, văn, công nhân, điện, mậu dịch, bệnh viện, nông trường...

Đại từ nhân xưng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôi thứ nhất Ngôi thứ 2 Ngôi thứ 3
Số ít Khỏi (tôi) mầư/mầng/mưng mền/te
Ngỏ (tôi, tớ) nỉ
Câu, cau (tao)
Số nhiều boong khỏi boong mầư boong mền
boong ngỏ boong nỉ
boong câu/cau

Các đại từ số ít được dùng trong những cảnh huống khác nhau.

Khỏi là đại từ được người ở vị trí thấp sử dụng để xưng với những người ở vị thế cao hơn, có giá trị biểu cảm lịch sự, kính trọng.[16]

Câu/Cau tạo thành cặp xưng hô tương liên Câu/Cau (tao) - Mầư/Mưng (mày). Tùy theo vị thế của người sử dụng, câu/cau có sắc thái biểu cảm khác nhau: thân mật, suồng sã...[16]

Ngỏ tạo thành cặp xưng hô tương liên với nỉ (ngôi thứ 2). Ngỏ thường thường được sử dụng để xưng hô giữa những người có vị thế ngang vai. Với sắc thái thân mật gần gũi, ngò được dùng rộng rãi trong nhiều hoàn cảnh giao tiếp khác nhau: giữa bạn bè, vợ chồng...[16]

Ngoài những đại từ dùng trên, trong tiếng Tày Nùng còn có các đại từ xưng gọi ngôi gộp, như: hau (ta), ràu/làu (mình), rà (mình). Những đại từ này được sử dụng nhiều trong thơ ca dân tộc Tày Nùng.[17]

So sánh một số phương ngữ Nùng[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng tỷ lệ tương đồng từ vựng giữa các phương ngữ Nùng theo bảng 100 từ của Swadesh:[18]

Các phương ngữ Nùng Nùng Giang Nùng Lòi Nùng Phản
Slình
Nùng Inh Nùng Cháo Nùng An
Nùng Dín 80% 81% 79% 79% 80% 76%
Nùng Giang 90% 86% 86% 87% 82%
Nùng Lòi 94% 95% 96% 83%
Nùng Phản Slình 96% 96% 82%
Nùng Inh 94% 79%
Nùng Cháo 80%

Bảng tỷ lệ tương đồng từ vựng giữa các phương ngữ Nùng và Tày theo bảng 650 từ của Lý Phương Quế (Li Fang-Kuei, 李方桂):[19]

  • 383/495: số lượng từ tương đồng/tổng số từ được so sánh giữa hai phương ngữ.
  • 77,37%: tỷ lệ tương đồng từ vựng giữa hai phương ngữ.
Các phương ngữ Nùng Giang Nùng Lòi Nùng Phản
Slình
Nùng Inh Nùng Cháo Nùng An Tày Hòa An Tày Tràng
Định
Tày Hoàng
Su Phì
Nùng Dín 383/495
77,37%
390/487
80,08%
370/490
75,51%
376/491
76,57%
385/486
79,21%
349/489
71,37%
389/489
78,52%
380/490
77,55%
433/482
89,83%
Nùng Giang 422/486
86,83%
406/492
82,52%
414/491
84,31%
421/488
86,27%
370/496
74,59%
410/496
82,66%
424/498
85,14%
364/487
74,74%
Nùng Lòi 425/485
87,62%
431/486
88,68%
428/480
89,16%
374/482
77,59%
423/485
87,21%
433/488
88,72%
377/480
78,54%
Nùng Phản Slình 433/491
88,18%
443/492
90,04%
361/491
73,52%
402/491
81,87%
415/492
84,34%
361/482
74,89%
Nùng Inh 451/490
92,04%
382/488
78,27%
411/491
83,70%
435/490
88,77%
373/481
77,54%
Nùng Cháo 373/489
76,27%
417/489
85,27%
412/488
84,42%
371/479
77,45%
Nùng An 355/491
72,30%
377/492
76,62%
325/482
67,42%
Tày Hòa An 466/495
94,14%
385/487
79,05%
Tày Tràng Định 389/486
80,04%

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Hà Nội, 6-2010. Biểu 5, tr.134-225. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2011.
  2. ^ Tiếng Nùng. Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam. Truy cập 02/5/2011.
  3. ^ a ă Dân tộc Nùng. Cổng giao tiếp điện tử tỉnh Yên Bái. Truy cập 02/5/2011.
  4. ^ Viện Dân tộc học (1983). Sổ tay về các dân tộc ở Việt Nam. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. tr. 135. 
  5. ^ a ă Viện ngôn ngữ học, Luận án tiến sĩ ngữ văn; Lê Văn Trường (2004). Vị trí tiếng Nùng Dín trong quan hệ với các phương ngữ Nùng và Tày ở Việt Nam. Hà Nội. tr. 11. 
  6. ^ a ă The university of Texas at Arlington. Map and language descriptions. 
  7. ^ Báo Cao Bằng điện tử; Hoàng Thị Nhuận (Chủ nhật 21/09/2014). Bảo tồn, gìn giữ bản sắc văn hóa của người Nùng Vẻn. 
  8. ^ a ă The university of Texas at Arlington; Jerold A.Edmondson. Notes on the Subdivision in Kra. Arlington. 
  9. ^ a ă â University of Texas, Arlington, Department of Linguistic and TESOL; Jerold A. Edmondson. the power of language over the past: Tai settlement and Tai linguistics in southern China and northern Vietnam. tr. 15. 
  10. ^ Ủy ban dân tộc và miền núi, Trung tâm bồi dưỡng cán bộ dân tộc; Hoàng Văn Ma-Hoàng Văn Sán-Mông Ký Slay (2002). Sách học tiếng Tày-Nùng. Hà Nội: Nhà xuất bản Văn Hóa Dân Tộc. tr. 14. 
  11. ^ a ă â b sealang.net; Hoàng Thị Châu, Hanoi national university. Phonetic typology of languages in Vietnam and a common transcription for them. tr. 194 và trang introduction. 
  12. ^ Ủy ban dân tộc và miền núi, Trung tâm bồi dưỡng cán bộ dân tộc; Hoàng Văn Ma-Hoàng Văn Sán-Mông Ký Slay (2002). Sách học tiếng Tày-Nùng. Hà Nội: Nhà xuất bản Văn Hóa Dân Tộc. tr. 15,16. 
  13. ^ Ủy ban dân tộc và miền núi, Trung tâm bồi dưỡng cán bộ dân tộc; Hoàng Văn Ma-Hoàng Văn Sán-Mông Ký Slay (2002). Sách học tiếng Tày-Nùng. Hà Nội: Nhà xuất bản Văn Hóa Dân Tộc. tr. 16,17. 
  14. ^ a ă â Ủy ban dân tộc và miền núi, Trung tâm bồi dưỡng cán bộ dân tộc; Hoàng Văn Ma-Hoàng Văn Sán-Mông Ký Slay (2002). Sách học tiếng Tày-Nùng. Hà Nội: Nhà xuất bản Văn Hóa Dân Tộc. tr. 18. 
  15. ^ Ủy ban dân tộc và miền núi, Trung tâm bồi dưỡng cán bộ dân tộc; Hoàng Văn Ma-Hoàng Văn Sán-Mông Ký Slay (2002). Sách học tiếng Tày-Nùng. Hà Nội: Nhà xuất bản Văn Hóa Dân Tộc. tr. 17. 
  16. ^ a ă â Ủy ban dân tộc và miền núi, Trung tâm bồi dưỡng cán bộ dân tộc; Hoàng Văn Ma-Hoàng Văn Sán-Mông Ký Slay (2002). Sách học tiếng Tày-Nùng. Hà Nội: Nhà xuất bản Văn Hóa Dân Tộc. tr. 27. 
  17. ^ Ủy ban dân tộc và miền núi, Trung tâm bồi dưỡng cán bộ dân tộc; Hoàng Văn Ma-Hoàng Văn Sán-Mông Ký Slay (2002). Sách học tiếng Tày-Nùng. Hà Nội: Nhà xuất bản Văn Hóa Dân Tộc. tr. 28. 
  18. ^ Viện ngôn ngữ học, Luận án tiến sĩ ngữ văn; Lê Văn Trường (2004). Vị trí tiếng Nùng Dín trong quan hệ với các phương ngữ Nùng và Tày ở Việt Nam. Hà Nội. tr. 18. 
  19. ^ Viện ngôn ngữ học, Luận án tiến sĩ ngữ văn; Lê Văn Trường (2004). Vị trí tiếng Nùng Dín trong quan hệ với các phương ngữ Nùng và Tày ở Việt Nam. Hà Nội. tr. 36. 
  • Ethnologue, "Nung a language of Vietnam".

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]