Tiếng Nùng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tiếng Nùng
Nói tại Việt Nam, Trung Quốc
Tổng số người nói 856.000 (thống kê 1999); 968.800 (thống kê 2009)[1]
Ngữ hệ Tai-Kadai
Phân nhánh
Mã ngôn ngữ
ISO 639-3 nut
Phân bố
Taikadai-en.svg

Phân bố ngữ hệ Tai-Kadai.[a]

  1. ^ Hệ thống phân loại các ngôn ngữ Tai gồm: Tai Bắc, Tai Trung Tâm, Tai Tây Nam do André-Georges Haudricourt (1956), Li Fang-Kuei 李方桂 (1977), William J. Gedney (1989) đưa ra. Pittayawat Pittayaporn trong luận văn tiến sĩ tại đại học Cornell (2009) đưa ra hệ thống phân loại hoàn toàn khác

Tiếng Nùng là một nhóm các ngôn ngữ thuộc nhánh Tai Trung Tâm trong ngữ chi Tai của ngữ hệ Tai-Kadai. Các cư dân nói nhóm ngôn ngữ này được chính phủ Việt Nam phân loại là người Nùng. Ngôn ngữ này được nói chủ yếu ở các tỉnh Lạng SơnCao Bằng, Việt Nam.

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Nùng ở Việt Nam có dân số 968.800 người, là dân tộc có dân số đứng thứ 7 tại Việt Nam, có mặt trên tất cả 63 tỉnh, thành phố[1]. Số người nói tiếng Nùng có thể nhỏ hơn số liệu trên chút ít.

Các nhóm địa phương của người Nùng như Nùng An, Nùng Phàn Sình, Nùng Cháo, Nùng Dín, Nùng Xuồng có sự khác biệt ít nhiều về ngôn ngữ, bao gồm ngữ âm và một phần từ vựng giữa tiếng nói các địa phương[2]. Tiếng Nùng An phát âm gần như tiếng Cao LanSán Chaytiếng Giáy. Tiếng nói người Nùng Phủ ảnh hưởng âm sắc của tiếng Tày[3].

Người Nùng dùng chữ Hán hay chữ Nôm Nùng (được phát triển khoảng thế kỷ 17) để ghi chép thơ ca và truyện cổ dân gian[4]. Bài Mo Nùng được ghi bằng chữ Nôm trên giấy bản, gia phả nhiều dòng họ còn giữ lại cũng được ghi bằng chữ Nôm Nùng[3]. Năm 1924, tiếng Nùng lần đầu tiên được ghi theo hệ chữ Latinh nhờ các công trình của linh mục người Pháp François M. Savina. Viện Ngôn Ngữ Học Mùa Hè (Summer Institute of Linguistics - SIL International) trước năm 1975 cũng có một bộ chữ cho người Nùng Phản Slình sống ở miền nam Việt Nam. Ở miền bắc Việt Nam, có thêm phương án chữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ quốc ngữ từ năm 1961.

Các phương ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Nùng bao gồm nhiều phương ngữ, một vài trong số đó được liệt kê như sau:

  • Nùng Phản Slình được nói ở huyện Cao Lộc, Bình Gia, Văn Quan, Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn và huyện Yên Thế, Lạng Giang của tỉnh Bắc Gaing
  • Nùng Cháo được nói ở huyện Văn Quan, Văn Lãng, Tràng Định tỉnh Lạng Sơn, huyện Nà Rì tỉnh Bắc Cạn và huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên. Phương ngữ Nùng Cháo tương đồng với Tráng Long Châu của William J. Gedney. Nùng Cháo cũng gần như tương đồng với ngôn ngữ được Lý Phương Quế (Li Fang Kuei) gọi là Longzhou (Long Châu) nhiều năm về trước. Trong tác phẩm A Handbook of Comparative Tai (1977) của ông, Longzhou là một ví dụ về ngôn ngữ Tai Trung Tâm.[5] Nùng Cháo ở Việt Nam khác biệt chút ít về thanh điệu so với Longzhou của Lý Phương Quế tại Quảng Tây, Trung Quốc, nhưng có thể khẳng định rằng chúng là cùng một ngôn ngữ xét về tất cả các phương diện khác.[5]
  • Nùng Inh được nói ở huyện Chi Lăng, Hữu Lũng, Bình Gia, Văn Quang tỉnh Lạng Sơn. Phương ngữ Nùng Inh tương đồng với Nùng Phía Tây của William J. Gedney ở Mường Khương, tỉnh Lao Cai.
  • Nùng An được nói ở Quảng Uyên, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng. Giống những người nói tiếng Tráng ở Long An (Long'an 隆安), huyện Tĩnh Tây (Jingxi 靖西县), tỉnh Quảng Tây, Nùng An mang cả hai đặc điểm của Tai Trung Tâm và Tai Bắc. Có khoảng 26.000 Nùng An sống ở Tĩnh Tây, nằm ngay phía bắc các khu vực sinh sống của Nùng An ở Việt Nam.[5] Theo Beth Nicolson (năm 2000), có một nhóm nhỏ tại xã Cao Trĩ, huyện Ba Bể, cách không xa hồ Ba Bể, cũng tự gọi mình là Nùng An.[6] Họ cho biết đã di cư từ phía đông Cao Bằng tới hơn 60 năm trước và tổ tiên của họ đến từ Trung Quốc một trăm năm trước.[6] Các đặc điểm Tai Bắc của Nùng An có thể được lý giải khi các cư dân nói nhóm Tai Bắc di cư vào vùng nói nhóm Tai Trung Tâm ở Cao Bằng. Sự pha trộn giữa Tai Bắc và Tai Trung Tâm cũng được tìm thấy ở tiếng Cao Lan và Tsưn-wa.[7]
  • Nùng Giang được nói ở huyện Hà Quảng, Hạ Lang, Trà Lĩnh tỉnh Cao Bằng. Nùng Giang cũng được nói xuyên biên giới tại Bình Mãng (Pingmeng 平孟镇), huyện Tĩnh Tây, tỉnh Quảng Tây. Người Nùng Giang tự gọi mình là nung jang hoặc pou jang.[5] Theo Zheng (1996:3), các cư dân ở huyện Tĩnh Tây (Jingxi) thuộc Quảng Tây, nằm ngay phía bắc khu vực sinh sống của Nùng Giang tự gọi mình là ken2 tho3 hoặc jang1.[5] Các khu vực này tập trung đông đúc cư dân Tai; riêng tại Tĩnh Tây nơi nhóm này được nhân loại là người Tráng, người Tai chiếm hơn 99%.[5]
  • Nùng Dín được nói ở huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần thuộc tỉnh Hà Giang và Bắc Hà, Mường Khương thuộc tỉnh Lào Cai.[8] Nùng Dín cùng các phương ngữ Nùng ở Vân Nam Trung Quốc được coi là Nùng Phía Tây; đây là những phương ngữ Nùng nằm giáp ranh giữa nhóm Tai Trung Tâm và Tai Tây Nam.[8]

Nùng Vẻn (En) là một ngôn ngữ trước kia không được phân loại ra khỏi các ngôn ngữ Tai Trung Tâm. Cuối thập niên 1990, nhà ngôn ngữ học Hoàng Văn Ma đầu tiên nhận ra nó không phải là một ngôn ngữ Tai. Năm 1998, Hoàng Văn Ma và Jerold A. Edmondson phát hiện đó là một ngôn ngữ thuộc ngữ chi Kadai (Kra). Tỷ lệ tương đồng từ vựng giữa tiếng Nùng Vẻn và các phương ngữ Nùng khác là dưới 50%.[5] Người Nùng Vẻn sống tại bản Cja Tjeng, xã Nội Thôn (Hà Quảng), tỉnh Cao Bằng.[9] Vào năm 1998, họ cho biết dân số của mình là 200 người.[10] Họ tự gọi mình là Anh [aiɲ], người Nùng (Tai) địa phương quanh vùng gọi họ là Nùng Vẻn.[10] Người Nùng Vẻn không có ghi chép nào về nguồn gốc của mình và cũng không biết trước kia họ đã từng sống ở đâu, khi nào và bằng cách nào họ di cư tới Việt Nam.[5] Các nhà nghiên cứu thẩm định rằng Nùng Vẻn có quan hệ gần gũi nhất với tiếng Bố Ương (Buyang, 布央语). Các cư dân nói tiếng Nùng Vẻn được chính phủ Việt Nam phân loại là người Nùng.

Lịch Sử[sửa | sửa mã nguồn]

Các phương ngữ Nùng và tất cả các ngôn ngữ trong ngữ chi Tai như: Lào, Shan, Lự, Thái Đen, Ahom, Làn Nà, Thái Lan, Bố Y, Tráng đều phát triển từ cùng một tổ tiên chung gọi là Tai Nguyên Thủy (Proto-Tai). Tai Nguyên Thủy được phục nguyên bởi Lý Phương Quế năm 1977 và Pittayawat Pittayaporn năm 2009.

Nhiều người cho rằng Tai Nguyên Thủy có nguồn gốc từ Vân Nam hoặc vùng trung lưu sông Trường Giang. Tuy nhiên một nghiên cứu do John Hartmann, Jerold A. Edmondson, Jingfang Li và những người khác thực hiện kết hợp giữ ngôn ngữ học và hệ thống thông tin địa lý (GIS) chỉ ra rằng Tai Nguyên Thủy có nguồn gốc từ vùng ranh rới Quảng Tây—Quý Châu ngày nay và kỹ thuật tưới tiêu trong canh tác lúa nước sử dụng müangA1 (mương) và faiA1 (đập) đã tương đối phát triển vào thời đại của Tai Nguyên Thủy, khoảng 2000 năm trước hoặc xa hơn và kỹ thuật này bắt nguồn từ vùng ranh giới Quảng Tây—Quý Châu ngày nay chứ không phải Vân Nam hay trung lưu sông Trường Giang.[11][12] Do đó người Tai có khuynh hướng tập trung sinh sống ở các vùng đất thấp gần nguồn nước để trồng lúa nước.

Jerold A. Edmondson thuộc đại học Texas, Arlington, trích dẫn bài báo của Phạm Hồng Quý (Fan Honggui 范宏貴) (1989), cho rằng sự phân tách giữa các ngôn ngữ Tráng (Tai Bắc+Tai Trung Tâm) và các ngôn ngữ Tai Tây Nam diễn ra không sớm hơn sự thành lập của Giao Chỉ tại Việt Nam năm 112 TCN, nhưng không muộn hơn khoảng thời gian từ thế kỷ thứ 5 đến thứ 6 SCN.[13]

Edmondson chỉ ra rằng người Thái (Thái Lan) và người Tráng có cùng một tên gọi chỉ người Việt Nam Keo (kɛɛuA1). Trong tiếng Việt gọi là giao.[13] Từ này được lấy từ tên của một quận Trung Hoa gọi là Giao Chỉ (Jiaozhi 交址), thành lập ở Việt Nam khoảng năm 112 TCN, cùng tám quận khác: Nam Hải (Nanhai 南海), Uất Lâm (Yulin hay Guilin 郁林), Thương Ngô (Cangwu 苍梧), Hợp Phố (Hepu 合浦), Cửu Chân (Jiuzhen 九真), Nhật Nam (Rinan 日南), Châu Nhai (Zhuya 珠崖), và Đam Nhĩ (Dan’er 儋耳).[13] Giao Chi ban đầu được gọi là Kiao-chi. James R. Chamberlain cho rằng Kiao-chi khởi đầu dùng để chỉ lãnh thổ địa lý chứ không phải chỉ người.[14] Sau đó từ này được áp dụng rộng rãi cho các cư dân sống trong Kiao-chi, đầu tiên là đồng bằng bắc bộ Việt Nam và sau đó cho tất cả cư dân của Annam.

Tai Nguyên Thủy Thái Lan Lào Sapa Bảo Yên Cao Bằng Longzhou Shangshi Giáy Saek
Người Việt Nam *ke:wA kɛ:wA1 kɛːw kewA1 kɛ:wA1 kɛwA1 ke:wA1 kewA1 cewA1 ke:wA1
  • Dữ liệu lấy từ luận văn tiến sĩ (2009) của Pittayawat Pittayaporn, trang 337. Riêng tiếng Lào ແກວ /kɛːw/ lấy từ thư viện SEAlang.net.[1]

Chamberlain khi nghiên cứu về nguồn gốc của tiếng Saek, một ngôn ngữ Tai Bắc nằm cô lập giữa các ngôn ngữ Tai Tây Nam ở hai bên bờ sông Mê Kông tại miền trung Lào và đông bắc Thái Lan, cho rằng Saek là ngôn ngữ xa nhất về phía nam cuối cùng còn sót lại của một giải cư dân nói ngôn ngữ Tai Bắc (hay Be-Saek) trải dài từ vùng biên giới Việt-Trung, qua đồng bằng sông Hồng và tới các tỉnh ngày nay là Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình ở Việt Nam.[15] Do đó Saek không phải là ngôn ngữ Tai Bắc bị trục xuất và buộc phải di cư về phía nam ra khỏi các cư dân ban đầu ở Quảng Đông.[15] Người Saek, theo truyền thuyết truyền miệng của mình, di cư sang Lào và Thái Lan từ khu vực miền trung Việt Nam ngày nay khoảng 150-200 năm trước.[16][17][18] Điều này giải thích tại sao tiếng Saek lại có các từ mượn tiếng Việt, mặc dù ngày nay không còn người Saek nào ở Việt Nam.[18] William G. Boltz (1991) cho rằng tên gọi 12 con giáp trong tiếng Saek được mượn từ tiếng Hán trong khoảng thời gian từ năm 200—năm 600 và mặc dù có ảnh hưởng từ tiếng Việt nhưng không có bất cứ liên hệ trực tiếp nào.[19] Qua nghiên cứu tiếng Saek, Chamberlain đưa ra một kết luận rằng sắc tộc Việt Nam thay thế các cư dân nói ngôn ngữ Tai ở vùng đồng bằng sông Hồng vào khoảng thời gian từ thế kỷ thứ 7—thế kỷ 9.[15] Ông cho rằng quê hương của Vietic Nguyên Thủy (Proto-Vietic), ngôn ngữ tổ tiên của tiếng Việt, Mường, Nguồn, Toum, Liha, Phong ..v..v.., nằm ở các tỉnh Khammouane và Borikhamxay thuộc Lào và một phần của tỉnh Nghệ An và Quảng Bình thuộc Việt Nam ngày nay chứ không phải đồng bằng sông Hồng.

Tên 12 con giáp trong tiếng Saek
Hán tự Hán Cổ
thời kỳ sớm
Hán Thượng Cổ Tiếng Việt Saek
Chuột tsɨ’/tsi’ *tsəʔ tử / tý tiː6
Trâu trʰuw' *n̥ruʔ sửu tʰriw3
Hổ jin *ɢər dần rɯn4
Thỏ maɨw’/ mɛːw’ *mˤruʔ mẹo/mão mɛːw4
Rồng ʥin *dər thin/thần sin4
Rắn zɨ’/zi’ *s-ɢəʔ tị tiː5
Ngựa ŋɔ’ *m.qʰˤaʔ ngọ ŋɔː5
mujʰ *mət-s mùj/vị muj4
Khỉ ɲim *nəm thân tʰrɯn1
juw’ *m.ruʔ dầu raw3
Chó swit *s.mit tuất tut4
Lợn ɣəj’ *gˤəʔ hợi hɤːj5
  • Bảng được lấy từ "Saek as a not-so-aberrant Tai language", tác giả: Pittayawat Pittayaporn, trang 36. [2]

Vị trí trong ngữ chi Tai[sửa | sửa mã nguồn]

  • André-Georges Haudricourt (1956) xếp Thổ (Tày) và Nùng cùng với Tai Tây Nam vào hai tiểu nhánh trong cùng một nhánh, trong khi Tai Bắc là một nhánh độc lập.
 
Tai Nguyên Thủy


Tai Bắc

Vũ Minh, Po-ai
Tien-chow, Giáy






Tai Trung Tâm


Thổ (Tày)
Nùng
Longzhou

Tai Tây Nam


Thái Lan
Lào, Shan
Ahom, Lự


  • Lý Phương Quế (Li Fang Kuei) (1977) đề xuất hệ thống phân loại gồm ba nhánh độc lập trong đó Thổ (Tày), Nùng được xếp vào nhánh Tai Trung Tâm. Hệ thống phân loại này được xem là mô hình chuẩn trong lĩnh vực ngôn ngữ học so sánh các ngôn ngữ Tai.
 
Tai Nguyên Thủy


Tai Bắc


Vũ Minh, Po-ai
Tien-chow, Giáy

Tai Trung Tâm


Thổ (Tày)
Nùng
Longzhou

Tai Tây Nam


Thái Lan
Lào, Shan
Ahom, Lự


  • Pittayawat Pittayaporn (2009) đưa ra phân hệ thống loại dựa trên sự biến đổi âm vị của các ngôn ngữ Tai.[20] Theo đó các ngôn ngữ có cùng một dạng biến đổi âm vị được xếp vào cùng nhóm. Một ngôn ngữ Tai được xếp vào một tiểu nhóm trong cùng một nhánh phải có cùng kiểu biến đổi âm vị với các ngôn ngữ Tai khác trong nhánh đó. Ví dụ, Thái Lan được xếp vào tiểu nhóm Q vì ngôn ngữ này có các biến đổi âm vị cũng tồn tại ở các ngôn ngữ thuộc nhánh A và các nút E, G, K, O và Q. Trong hệ thống phân loại này Tai Trung Tâm không tồn tại vì Pittayaporn cho rằng các tiêu chuẩn mà Lý Phương Quế dùng để phân loại Tai Trung Tâm cũng tồn tại ở cả bốn nhánh A, B, C, D.
 
Tai Nguyên Thủy


A


B

Ningming

C

Chongzuo, Shangshi,
Cao Lan

D




E


F

Longzhou, Leiping

I

Qinzhou

J




G





H

Lungming, Daxin

M

Vũ Minh, Yongnan, Long'an, Fusui

N

Seak, Po-ai, Giáy, Lingyue, Rong'an, Quibei, Bố Y
..v..v..


K


L

Debao, Jingxi, Nùng Inh,
Nùng Guangnan, Nùng Yanshan


O



P

Bảo Yên, Cao Bằng, Wenma


Q

Thái Lan, Lào, Shan, Thái Đen, Thái Trắng, Làn Nà, Phu Thai, Dehong, Tai Aiton, Tai Phake, Shan Phía Nam, Lự, Nyo, Yoy, Kaloeng, Phuan ..v..v..

R

Sapa

Từ vựng[sửa | sửa mã nguồn]

Từ thuần Tày Nùng[sửa | sửa mã nguồn]

Các từ thuần Tai chiếm tuyệt đại đa số trong kho từ vựng và thường thuộc vốn từ cơ bản, có mặt ở tất cả các lớp từ, nhất là các từ chỉ các hiện thượng thiên nhiên, các bộ phận cơ thể, các hoạt động, tính chất...

Mừ (tay), nả (mặt), đông/đung (rừng), tha vằn (mặt trời), kin (ăn), pay (đi), nòn (ngủ), hảy (khóc), đeng (đỏ), đay (tốt), slâư (trong, sạch), cau (tao)...

Từ mượn tiếng Hán[sửa | sửa mã nguồn]

Các từ mượn tiếng Hán đi vào vốn từ vựng tiếng Tày Nùng vào những thời kỳ khác nhau. Đối với nhiều từ, người Tày Nùng hiện nay không ý thức được đấy là những từ mượn gốc Hán nữa.

  • Số từ: ết (một), nhì (hai), slam (ba), pét (tám)...
Số đếm Nùng[21] *Tai Nguyên Thủy[22]
Pittayaporn (2009)
Hán Cổ[23] Hậu Hán[23] *Hán Thượng Cổ[23]
3 ɬam35 *sa:m sâm sɑm/ səm *sə̂m
4 ɬi13 *si:B siC sis *sis/ slis
5 ha31 *ha:C ŋuoB ŋɑB *ŋâɁ
6 hoːk31 *krokD ljuk iuk *ruk; *C-rjuk (Baxter)
7 ɕɛt35 *cetD tsʰjet tsʰit *tsʰit < *snhit
8 pet13 *pe:tD păt pɛt *prêt
9 kau31 *kɤwC kjəuB kuB *kuɁ/ kwəɁ
10 ɬiːp35 *sipD (Li 1977)[24] dʑip[24] *gip[24]


  • Động vật, sự vật: mạ (ngựa), an (yên ngựa), tắng (ghế), chỉa (giấy)...
  • Từ chỉ tính chất: quảng (rộng), đáo (hồng)...
  • Từ chỉ hoạt động: xỉnh (mời), chiềng (thưa), sleng (sinh), sloán (tính)...
  • Từ xưng hô: nỉ (cậu, anh), ngỏ (tôi, tớ)...

Từ mượn tiếng Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Từ mượn tiếng Việt gồm hai loại lớn: từ thuần Việt và từ Việt gốc nước ngoài (chủ yếu là từ Hán-Việt)

  • Các từ mượn thuần Việt là những từ thường dùng hàng ngày: hòm (hòm), khóa (khóa), đồng hồ (đồng hồ), xe đạp (xe đạp)...
  • Các từ mượn Hán-Việt là các thuật ngữ thuộc lĩnh vực kinh tế, chính trị, kỹ thuật và các hiện tượng xã hội: chính phủ, hành chính, toán, văn, công nhân, điện, mậu dịch, bệnh viện, nông trường...

Đại từ nhân xưng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôi thứ nhất Ngôi thứ 2 Ngôi thứ 3
Số ít Khỏi (tôi) mầư/mầng/mưng mền/te
Ngỏ (tôi, tớ) nỉ
Câu, cau (tao)
Số nhiều boong khỏi boong mầư boong mền
boong ngỏ boong nỉ
boong câu/cau

Các đại từ số ít được dùng trong những cảnh huống khác nhau.

Khỏi là đại từ được người ở vị trí thấp sử dụng để xưng với những người ở vị thế cao hơn, có giá trị biểu cảm lịch sự, kính trọng.[25]

Câu/Cau tạo thành cặp xưng hô tương liên Câu/Cau (tao) - Mầư/Mưng (mày). Tùy theo vị thế của người sử dụng, câu/cau có sắc thái biểu cảm khác nhau: thân mật, suồng sã...[25]

Ngỏ tạo thành cặp xưng hô tương liên với nỉ (ngôi thứ 2). Ngỏ thường thường được sử dụng để xưng hô giữa những người có vị thế ngang vai. Với sắc thái thân mật gần gũi, ngò được dùng rộng rãi trong nhiều hoàn cảnh giao tiếp khác nhau: giữa bạn bè, vợ chồng...[25]

Ngoài những đại từ dùng trên, trong tiếng Tày Nùng còn có các đại từ xưng gọi ngôi gộp, như: hau (ta), ràu/làu (mình), rà (mình). Những đại từ này được sử dụng nhiều trong thơ ca dân tộc Tày Nùng.[26]

So sánh một số phương ngữ Nùng[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng tỷ lệ tương đồng từ vựng giữa các phương ngữ Nùng theo bảng 100 từ của Swadesh:[27]

Các phương ngữ Nùng Nùng Giang Nùng Lòi Nùng Phản
Slình
Nùng Inh Nùng Cháo Nùng An
Nùng Dín 80%
80/100
81%
81/100
79%
79/100
79%
79/100
80%
80/100
76%
76/100
Nùng Giang 90%
90/100
86%
86/100
86%
86/100
87%
87/100
82%
82/100
Nùng Lòi 94%
94/100
95%
95/100
96%
96/100
83%
83/100
Nùng Phản Slình 96%
96/100
96%
96/100
82%
82/100
Nùng Inh 94%
94/100
79%
79/100
Nùng Cháo 80%
80/100

Bảng tỷ lệ tương đồng từ vựng giữa các phương ngữ Nùng và Tày theo bảng 650 từ của Lý Phương Quế (Li Fang-Kuei, 李方桂):[28]

  • 383/495: số lượng từ tương đồng/tổng số từ được so sánh giữa hai phương ngữ.
  • 77,37%: tỷ lệ tương đồng từ vựng giữa hai phương ngữ.
Các phương ngữ Nùng Giang Nùng Lòi Nùng Phản
Slình
Nùng Inh Nùng Cháo Nùng An Tày Hòa An Tày Tràng
Định
Tày Hoàng
Su Phì
Nùng Dín 383/495
77,37%
390/487
80,08%
370/490
75,51%
376/491
76,57%
385/486
79,21%
349/489
71,37%
389/489
78,52%
380/490
77,55%
433/482
89,83%
Nùng Giang 422/486
86,83%
406/492
82,52%
414/491
84,31%
421/488
86,27%
370/496
74,59%
410/496
82,66%
424/498
85,14%
364/487
74,74%
Nùng Lòi 425/485
87,62%
431/486
88,68%
428/480
89,16%
374/482
77,59%
423/485
87,21%
433/488
88,72%
377/480
78,54%
Nùng Phản Slình 433/491
88,18%
443/492
90,04%
361/491
73,52%
402/491
81,87%
415/492
84,34%
361/482
74,89%
Nùng Inh 451/490
92,04%
382/488
78,27%
411/491
83,70%
435/490
88,77%
373/481
77,54%
Nùng Cháo 373/489
76,27%
417/489
85,27%
412/488
84,42%
371/479
77,45%
Nùng An 355/491
72,30%
377/492
76,62%
325/482
67,42%
Tày Hòa An 466/495
94,14%
385/487
79,05%
Tày Tràng Định 389/486
80,04%

Chữ Nùng Latinh 1961[sửa | sửa mã nguồn]

Chữ Tày Nùng Latinh được chính phủ Việt Nam phê chuẩn năm 1961 cho khu tự trị Việt Bắc (1956-1975). Chữ Tày Nùng Latinh được xây dựng dựa trên cơ sở chữ quốc ngữ: cùng con chữ, cùng một cách ghép vần đối với những âm tiết giống nhau.[29] Bảng chữ cái Tày Nùng chỉ được dạy trong các trường tiểu học trong một thời gian ngắn vào thập niên 1960, rồi sau đó rơi vào quên lãng.[30] Bảng chữ cái này không được truyền bá sử dụng trong cộng đồng.[30] Ngay cả những phát thanh viên tiếng Tày Nùng tại các đài phát thanh vùng nói tiếng Tày Nùng cũng không biết bảng chữ cái này.[30] Họ viết tin tức để đọc trong các chương trình phát thanh bằng ký tự riêng của mỗi người giống các phát thanh viên tiếng Dao ngày nay đang làm.[30]

Phụ âm[31]
Phiên âm Chữ Thí dụ Nghĩa
/ɓ/ b bẻ
/k/ c,k,q cáy
ki còi
quai khôn
/z/ d
/ɗ/ đ đo đủ
/f/ f fạ trời
/h/ h hai trăng
/l/ l lăng lưng
/m/ m ma chó
/n/ n ruộng
/r/ r rụ biết
/p/ p pu cua
/s/ x xu tai
/t/ t tu cửa
/v/ v sải
/ɲ/ nh nhả cỏ
/c/~/tɕ/ ch chả mạ
/ŋ/ ng ngà vừng
/tʰ/ th tha mắt
/kʰ/ kh kha chân
/pʰ/ ph phải vải
/ɬ/ sl slam ba
/ɓj/ bj bjoóc hoa
/mj/ mj mjạc trơn
/pj/ pj pja
/pʰj/ phj phja núi đá
những âm địa phương
/t'/ t' t'ả sông
/w/ w wằn ngày
/j/ z za thuốc
/ɣ/ g gần người
Những âm mượn tiếng Việt
/ / gi giờ
/tʂ/ tr trường
/ʂ/ s (học) sinh
Nguyên âm[32]
Phiên âm Chữ Thí dụ Nghĩa
/a/ a ca con quạ
/ă/ ă mắn vững chắc
/ə/~/ɤ/ ơ tơ lụa
/ə̆/~/ɤ̌/ â bân trời
/ɛ/ e bén cái mẹt
/e/ ê mên thối, hôi
/i/ i tin chân
/u/ u mu lợn
/ɨ/~/ɯ/ ư mử mợ
/ɔ/ o mỏ nồi
/o/ ô nồm sữa
/iə/ iê, ia 1.niêng; 2.mìa 1.diều; 2.vợ
/uə/ uô, ua 1.tuống; 2.tua 1.dây quai; 2.con
/ɨə/~/ɯɤ/ ươ, ưa 1.nưới; 2.mừa 1.mệt; 2.về
  • Các nguyên âm dài: i, u,ư...trong các ngành Nùng sẽ được thể hiện bằng hai chữ cái, như: khiing (gừng), khuúp (đầy năm)[33]...
  • Thêm kí hiệu để ghi thanh lửng trong tiếng Nùng: dùng một gạch ngang nhỏ đặt dưới âm chính.[33]
Ta (sông)- tả (bỏ)
Pinh (bệnh) - Pỉnh (nướng)
  • Đánh dấu sắc (') các từ có kết cấu là âm tiết khép: hap (cách viết theo phương án không dấu) ---> háp (gánh)[33]
Thanh điệu
Tên Dấu Nét
Không dấu ˧
Dấu sắc ˧˥
Dấu huyền ˨˩
Dấu hỏi ʔ ˧˩˧
Dấu nặng . ˧˨ˀ

Trong phương án có dùng dấu ngã /~/ để ghi các từ mượn từ tiếng Việt. Trong phương án không có kí hiệu để ghi thanh lửng, những từ mang thanh lửng đều được thể hiện bằng thanh hỏi /?/.[34]


Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Hà Nội, 6-2010. Biểu 5, tr.134-225. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2011.
  2. ^ Tiếng Nùng. Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam. Truy cập 02/5/2011.
  3. ^ a ă Dân tộc Nùng. Cổng giao tiếp điện tử tỉnh Yên Bái. Truy cập 02/5/2011.
  4. ^ Viện Dân tộc học (1983). Sổ tay về các dân tộc ở Việt Nam. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. tr. 135. 
  5. ^ a ă â b c d đ e The university of Texas at Arlington. Map and language descriptions. 
  6. ^ a ă Beth Nicolson, The Nung An Language of Vietnam: Stepchild or Aberrant Son ?, trang 267, năm 2000.
  7. ^ The classification of the Caolan languages Tác giả: David Strecker, xuất bản: 1985.
  8. ^ a ă Viện ngôn ngữ học, Luận án tiến sĩ ngữ văn; Lê Văn Trường (2004). Vị trí tiếng Nùng Dín trong quan hệ với các phương ngữ Nùng và Tày ở Việt Nam. Hà Nội. tr. 11. 
  9. ^ Báo Cao Bằng điện tử; Hoàng Thị Nhuận (Chủ nhật 21/09/2014). Bảo tồn, gìn giữ bản sắc văn hóa của người Nùng Vẻn. 
  10. ^ a ă The university of Texas at Arlington; Jerold A.Edmondson. Notes on the Subdivision in Kra. Arlington. 
  11. ^ Luo, Wei; Hartmann, John; Li, Jinfang; Sysamouth, Vinya (December 2000). GIS Mapping and Analysis of Tai Linguistic and Settlement Patterns in Southern China. Geographic Information Sciences (DeKalb: Northern Illinois University) 6 (2): 129–136
  12. ^ Rachel Hauser (March 28, 2002). Tais that Bind". Socioeconomic Data and Applications Center DAAC.
  13. ^ a ă â University of Texas, Arlington, Department of Linguistic and TESOL; Jerold A. Edmondson. the power of language over the past: Tai settlement and Tai linguistics in southern China and northern Vietnam. tr. 15. 
  14. ^ Chamberlain, James R. (1998). The Origin of the Sek: Implications for Tai and Vietnamese History". Journal of the Siam Society 86.1 & 86.2: 46.
  15. ^ a ă â Chamberlain, James R. (1998). The Origin of the Sek: Implications for Tai and Vietnamese History". Journal of the Siam Society 86.1 & 86.2: 44.
  16. ^ William J. Gedney. THE SAEK LANGUAGE OF. NAKHON PHANOM PROVINCE". trang 68.
  17. ^ Joachim Schliesinger. Ethnic Groups of Thailand: Non-Tai-Speaking Peoples". trang 56.
  18. ^ a ă Paul Hattaway. Peoples of the Buddhist World: A Christian Prayer Diary". trang 231.
  19. ^ Pittayawat Pittayaporn. (2012). Saek as a not-so-aberrant Tai language trang 35.
  20. ^ Pittayaporn, Pittayawat (2009). The Phonology of Proto-Tai. Department of Linguistics, Cornell University. pp. 298-322. http://ecommons.library.cornell.edu/bitstream/1813/13855/1/Pittayaporn%2c%20Pittayawat.pdf. 
  21. ^ http://lingweb.eva.mpg.de/numeral/
  22. ^ Pittayaporn, Pittayawat (2009). The Phonology of Proto-Tai. Department of Linguistics, Cornell University. pp. 358. http://ecommons.library.cornell.edu/bitstream/1813/13855/1/Pittayaporn%2c%20Pittayawat.pdf. 
  23. ^ a ă â Pittayaporn, Pittayawat (2009). The Phonology of Proto-Tai. Department of Linguistics, Cornell University. pp. 376. http://ecommons.library.cornell.edu/bitstream/1813/13855/1/Pittayaporn%2c%20Pittayawat.pdf. 
  24. ^ a ă â The Genetic Position of Chinese Tác giả: Guillaume Jacques, trang 2.
  25. ^ a ă â Ủy ban dân tộc và miền núi, Trung tâm bồi dưỡng cán bộ dân tộc; Hoàng Văn Ma-Hoàng Văn Sán-Mông Ký Slay (2002). Sách học tiếng Tày-Nùng. Hà Nội: Nhà xuất bản Văn Hóa Dân Tộc. tr. 27. 
  26. ^ Ủy ban dân tộc và miền núi, Trung tâm bồi dưỡng cán bộ dân tộc; Hoàng Văn Ma-Hoàng Văn Sán-Mông Ký Slay (2002). Sách học tiếng Tày-Nùng. Hà Nội: Nhà xuất bản Văn Hóa Dân Tộc. tr. 28. 
  27. ^ Viện ngôn ngữ học, Luận án tiến sĩ ngữ văn; Lê Văn Trường (2004). Vị trí tiếng Nùng Dín trong quan hệ với các phương ngữ Nùng và Tày ở Việt Nam. Hà Nội. tr. 18. 
  28. ^ Viện ngôn ngữ học, Luận án tiến sĩ ngữ văn; Lê Văn Trường (2004). Vị trí tiếng Nùng Dín trong quan hệ với các phương ngữ Nùng và Tày ở Việt Nam. Hà Nội. tr. 36. 
  29. ^ Ủy ban dân tộc và miền núi, Trung tâm bồi dưỡng cán bộ dân tộc; Hoàng Văn Ma-Hoàng Văn Sán-Mông Ký Slay (2002). Sách học tiếng Tày-Nùng. Hà Nội: Nhà xuất bản Văn Hóa Dân Tộc. tr. 14. 
  30. ^ a ă â b sealang.net; Hoàng Thị Châu, Hanoi national university. Phonetic typology of languages in Vietnam and a common transcription for them. tr. 194 và trang introduction. 
  31. ^ Ủy ban dân tộc và miền núi, Trung tâm bồi dưỡng cán bộ dân tộc; Hoàng Văn Ma-Hoàng Văn Sán-Mông Ký Slay (2002). Sách học tiếng Tày-Nùng. Hà Nội: Nhà xuất bản Văn Hóa Dân Tộc. tr. 15,16. 
  32. ^ Ủy ban dân tộc và miền núi, Trung tâm bồi dưỡng cán bộ dân tộc; Hoàng Văn Ma-Hoàng Văn Sán-Mông Ký Slay (2002). Sách học tiếng Tày-Nùng. Hà Nội: Nhà xuất bản Văn Hóa Dân Tộc. tr. 16,17. 
  33. ^ a ă â Ủy ban dân tộc và miền núi, Trung tâm bồi dưỡng cán bộ dân tộc; Hoàng Văn Ma-Hoàng Văn Sán-Mông Ký Slay (2002). Sách học tiếng Tày-Nùng. Hà Nội: Nhà xuất bản Văn Hóa Dân Tộc. tr. 18. 
  34. ^ Ủy ban dân tộc và miền núi, Trung tâm bồi dưỡng cán bộ dân tộc; Hoàng Văn Ma-Hoàng Văn Sán-Mông Ký Slay (2002). Sách học tiếng Tày-Nùng. Hà Nội: Nhà xuất bản Văn Hóa Dân Tộc. tr. 17. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]