Tiền Hải

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tiền Hải
Huyện
Địa lý
Diện tích 226,04 km2
Dân số  
 Tổng cộng 213.616 người
Hành chính
Quốc gia  Việt Nam
Tỉnh Thái Bình

Tiền Hải là một huyện ven biển của tỉnh Thái Bình.

Vị trí[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Tiền Hải giáp huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình về phía tây. Phía đông giáp vịnh Bắc Bộ (biển Đông Việt Nam). Phía bắc giáp huyện Thái Thụy Thái Bình. (Ranh giới là sông Trà Lý.) Phía nam giáp tỉnh Nam Định. (Ranh giới là sông Hồng.) Huyện Tiền Hải nằm kẹp giữa hai cửa biển Trà Lý và Ba Lạt của sông Hồng.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Tiền Hải gồm 1 Thị trấn Tiền Hải và 34 xã, đó là các xã:

An Ninh
Bắc Hải
Đông Cơ
Đông Hải
Đông Hoàng
Đông Lâm
Đông Long
Đông Minh
Nam Thịnh
Nam Trung
Phương Công
Tây An

 

Đông Phong
Đông Quý
Đông Trà
Đông Trung
Đông Xuyên
Nam Chính
Nam Cường
Nam Hà
Nam Hải
Nam Hồng
Nam Hưng

 

Nam Phú
Nam Thanh
Nam Thắng
Tây Giang
Tây Lương
Tây Ninh
Tây Phong
Tây Sơn
Tây Tiến
Vân Trường
Vũ Lăng.

Lịch sử, văn hoá[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền Hải là vùng đất trẻ, mới được bồi đắp. Lịch sử hình thành huyện Tiền Hải chỉ thực sự rõ nét từ thời nhà Nguyễn, khi Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ năm 1828 đưa dân đến khai hoang lấn biển lập nên các làng xã tại đây. Lúc đầu (năm 1828, 1832), Tiền Hải thuộc phủ Kiến Xương, tỉnh Nam Định (cũ), gồm 7 tổng, huyện lị đặt tại ấp Phong Lai. Tới năm 1891, nhập thêm hai tổng: Đại Hoàng (chuyển từ huyện Trực Định, tức huyện Kiến Xương ngày nay, sang) và Đông Thành (từ huyện Giao Thủy tỉnh Nam Định), thành ra có 9 tổng và thuộc phủ Kiến Xương tỉnh Thái Bình.

Nguyễn Công Trứ coi vùng đất mới Tiền Hải cùng với Kim Sơn (Ninh Bình) là những vùng đất màu mỡ, phì nhiêu. Ngay ở tên gọi của 2 huyện này đã nói lên điều đó (Tiền Hải là biển bạc, Kim Sơn là rừng vàng - 2 khu vực ven biển này đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới).

Là vùng đất trẻ, Tiền Hải không có nhiều những di sản văn hóa lâu đời. Song, từng là đất thiêng của cuộc khởi nghĩa nông dân Phan Bá Vành; ngoài ra có các di tích như đình Nho Lâm, đình Tiểu Hoàng, đình Tô hay lễ hội làng Thanh Giám cũng là những tài nguyên du lịch quý giá trên vùng đất này.

Sau năm 1954, huyện Tiền Hải có 27 xã: Đông Cơ, Đông Hoàng, Đông Lâm, Đông Long, Đông Minh, Đông Phong, Đông Quý, Đông Trà, Đông Trung, Đông Xuyên, Hữu Ban, Nam Chính, Nam Hà, Nam Hải, Nam Hồng, Nam Hưng, Nam Thanh, Nam Thắng, Nam Thịnh, Nam Trung, Tây An, Tây Giang, Tây Lương, Tây Ninh, Tây Phong, Tây Sơn, Tây Tiến.

Ngày 2 tháng 12 năm 1955, hợp nhất xã Hữu Ban của huyện Tiền Hải và xã Thần Huống của huyện Thái Ninh thành xã Thái Thịnh thuộc huyện Thái Ninh.

Ngày 10 tháng 9 năm 1969, chuyển 5 xã: Bắc Hải, Phương Công, Vân Trường, Vũ Lăng, An Ninh thuộc huyện Kiến Xương về huyện Tiền Hải quản lý.

Ngày 5 tháng 9 năm 1975, thành lập xã Nam Cường.

Ngày 13 tháng 12 năm 1986:

- Chia xã Đông Trà thành 2 xã: Đông Trà và Đông Hải.

- Chia xã Nam Hưng thành 2 xã: Nam Hưng và Nam Phú.

- Thành lập thị trấn Tiền Hải trên cơ sở 89,95 ha diện tích tự nhiên với 5.653 nhân khẩu của xã Tây Sơn và 56,70 ha diện tích tự nhiên với 1.653 nhân khẩu của xã Tây Giang.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền Hải (Thái Bình) là huyện ven biển, có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế và an ninh quốc phòng ở vùng duyên hải vịnh Bắc Bộ. Bước vào thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011, tuy nền kinh tế cả nước cũng như của tỉnh gặp nhiều khó khăn, nhưng Tiền Hải là một trong những địa phương đi đầu về phát triển kinh tế của Thái Bình. Năm 2012, tổng giá trị sản xuất đạt 3.754 tỷ đồng, tăng 10,38% so với năm 2011. Trong đó, nông - lâm - thủy sản đạt 1.090 tỷ đồng; công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây dựng cơ bản đạt 1.858 tỷ đồng; thương mại - dịch vụ đạt 626 tỷ đồng. Năm 2013, Tiền Hải đề ra mục tiêu đạt giá trị sản xuất 4.105 tỷ đồng, tăng 14,86% so với năm 2012. Trong đó nông nghiệp đạt 1199 tỷ đồng, tăng 10%; công nghiệp - xây dựng đạt 2192 tỷ đồng, tăng 18%; dịch vụ - thương mại đạt 714 tỷ đồng, tăng 14% so với năm trước. Giá trị sản xuất bình quân đầu người phấn đấu đạt 49,7 triệu đồng/người/năm. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên ở mức 0,8%.

Với chiều dài 23 km bờ biển, Tiền Hải là địa phương có thế mạnh về phát triển nuôi trồng thủy, hải sản. Năm 2011, huyện có tổng diện tích nuôi trồng là 4.073 ha, tăng 0,1% so với năm 2010. Trong đó: diện tích nuôi nước ngọt: 907 ha; diện tích nuôi nước lợ: 2.046 ha; diện tích nuôi nước mặn: 1.120 ha với tổng sản lượng đạt 39.100 tấn, tăng 27,5% so với năm 2010. Với diện tích 1.380 ha, ngao là vật nuôi đạt sản lượng cao, với 32.000 tấn và có giá trị kinh tế cao. Ngao của Tiền Hải đã xuất khẩu sang các thị trường trên thế giới.