Tiger II

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Panzer VI Ausf. B Tiger II
Một chết xe tăng lớn với tháp pháo và thân nguỵ trang màu vàng, xanh nâu, được trưng bày bên trong một bảo tàng. Các xích rộng, và giáp trước nghiêng. Súng chính dài vượt tháp nhiều mét.
Tiger II được bảo tồn tại Bảo tàng Tăng Bovington
Loại Xe tăng hạng nặng
Nguồn gốc  Nazi Germany
Lược sử hoạt động
Trang bị 1944–1945
Sử dụng trong Thế chiến II
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế Henschel & Son / Krupp (tháp pháo)
Năm thiết kế 1943
Nhà sản xuất Henschel & Son / Krupp (tháp pháo)
Giai đoạn sản xuất 1943–1945
Số lượng chế tạo 492 [1]
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 68.5t (tháp pháo thời kỳ đầu)
69.8t (tháp pháo sản xuất)[2]
Chiều dài 6.4m
10.286m với súng chĩa phía trước[2]
Chiều rộng 3.755m[2]
Chiều cao 3.09m
Kíp chiến đấu 5 (chỉ huy, pháo thủ, người nạp đạn, người điều khiển radio, lái xe)

Bọc giáp 25–180mm
Vũ khí chính 8.8 cm KwK 43 L/71
tháp "Porsche": 80 viên[3]
Tháp pháo sản xuất: 86 viên[3]
Vũ khí phụ 7.92 mm Maschinengewehr 34
5,850 viên[4]
Động cơ V-12 Maybach HL 230 P30 xăng
700 PS (690 hp, 515 kW)[2]
Công suất/trọng lượng 10 PS/tấn (8.97 hp/tấn)
Hệ truyền động Maybach OLVAR EG 40 12 16 B (8 trước và 4 đảo chiều)[2]
Hệ thống treo lò xo xoắn
Khoảng sáng gầm 500mm[4]
Sức chứa nhiên liệu 860l[4]
Tầm hoạt động Trên đường: 170km[5]
Việt dã: 120km[5]
Tốc độ Tối đa, trên đường: 41.5km/h[5]
Duy trì, trên đường: 38km/h[5]
Việt dã: 15 - 20km/h[5]

Tiger II là tên thường gọi của một loại xe tăng hạng nặng Đức trong Thế chiến II. Tên định danh chính thức của Đức là Panzerkampfwagen Tiger Ausf. B [notes 1], thường được gọi tắt là Tiger B,[6] với tên định danh lưu trữ Sd.Kfz. 182.[6] Nó cũng thường được biết đến với cái tên không chính thức Königstiger[6] (tên tiếng Đức cho "hổ Bengal"), thường được người Mỹ dịch là King Tiger, và Anh QuốcRoyal Tiger.[7]

Thiết kế theo cùng ý tưởng như Tiger I, nhưng được dự định để có tính năng cao hơn. Tiger II kết hợp giáp dày của Tiger I cùng với giáp nghiêng của Panther. Chiếc xe tăng nặng gần bảy mươi mốt tấn, được bảo vệ bởi giáp phía trước dày 100 đến 180 mm (3,9 đến 7,1 in),[8] và được trang bị pháo 8.8 cm Kampfwagenkanone 43 L/71.[notes 2] Thân tăng cũng là cơ sở cho loại phương tiện chống tăng không tháp pháo Jagdtiger.[9]

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Việc phát triển một bản thiết kế xe tăng hạng nặng đã được đưa ra năm 1937; hợp đồng thiết kế ban đầu được trao cho Henschel. Một hợp đồng khác tiếp theo vào năm 1939, và được trao cho Porsche.[10] Cả hai loạt nguyên mẫu đều sử dụng thiết kế tháp pháo từ Krupp; những khác biệt chính là thân vỏ, hệ truyền động, hệ thống treo và các đặc điểm máy móc.[10]

Phiên bản Henschel sử dụng một thiết kế thân vỏ quy ước với giáp nghiêng giống với cấu hình của xe tăng Panther. Nó có động cơ đặt phía sau và dùng tám bánh xe thép-lốp chồng với lò xo phía trong mỗi bên, được lắp đặt trên các thanh xoắn ngang, theo cách tương tự với loại Tiger nguyên thuỷ. Tuy nhiên, để đơn giản hoá việc bảo dưỡng, các bánh xe theo kiểu chồng lên nhau chứ không phải kiểu chen như trên Tiger I.[11]

Các thiết kế thân vỏ của Porsche gồm một tháp pháo lắp phía sau và một động cơ ở giữa. Hệ thống treo tương tự như trên chiếc Jagdpanzer Elefant. Nó có sáu bánh lăn mỗi phía được lắp thành giá kép treo với các thanh xoắn dọc ngắn ở giữa các cặp bánh; điều này giúp tiết kiệm không gian phía trong tạo thuận lợi cho việc bảo dưỡng. Một phiên bản Porsche có một hệ thống động cơ lai xăng-điện; hai chuỗi lái riêng biệt, mỗi chuỗi một phía xe, mỗi bên gồm một chuỗi lái lai; bánh răng lái xăng điện - phát điện - động cơ điện. Phương pháp động lực này đã được thử nghiệm trước đó trên chiếc Tiger (P) (các nguyên mẫu Elefant sau này) và trên một số thiết kế của Mỹ, nhưng chưa từng được đưa vào chế tạo. Hệ thống treo Porsche sau này được sử dụng trên một số phương tiện chống tăng Jagdtiger. Một đề xuất khác là việc sử dụng hệ thống lái thuỷ lực. Các thiết kế không chính thống của Tiến sĩ Porsche ít được ưa chuộng.[12]

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Một tháp pháo tăng với bề mặt phía trước cong lên trên và xuống dưới. Các bên nghiêng theo chiều dọc và cong ở bên.
Một model thể hiện mặt trước cong thời kỳ đầu, được gọi là tháp pháo "Porsche".
Một tháp pháo tăng với một bề mặt hầu như vuông, phẳng và dọc, các bên hầu như thẳng, và chỉ hơi cong hai bên.
Một góc nhìn rõ về mặt góc trước của tháp pháo sản xuất "Henschel", được chụp trong Chiến dịch Panzerfaust tại Budapest, 15 tháng 10 năm 1944.

Henschel giành được hợp đồng, và tất cả những chiếc Tiger II đều được sản xuất bởi công ty này.[13] Hai thiết kế tháp pháo được sử dụng trong sản xuất. Thiết kế ban đầu thỉnh thoảng bị gọi nhầm là tháp pháo "Porsche" bởi mọi người tin nó do Porsche thiết kế cho nguyên mẫu của họ; trên thực tế nó là thiết kế ban đầu của Krupp cho cả hai nguyên mẫu. Tháp pháo này có mặt trước tròn và hai bên có độ dốc lớn, với một chỗ phồng nghiêng rất khó chế tạo ở phía trái tháp pháo để lấy không gian cho vòm của chỉ huy. Năm mươi tháp pháo ban đầu đã được lắp đặt trên các thân vỏ của Henschel và được sử dụng trong chiến đấu. Tháp pháo "sản xuất" thường thấy hơn, thỉnh thoảng được gọi là tháp pháo "Henschel", đã được đơn giản hoá với một bề mặt trước phẳng và dày hơn rất nhiều, không có khoang bắn (được tạo ra bởi bề mặt nghiêng của tháp pháo ban đầu), các cạnh bên ít nghiêng hơn, và không có chỗ phồng làm vòm cho chỉ huy.[14]

Các tháp pháo được thiết kế để mang súng 8.8 cm KwK 43 L/71. Cộng với kính ngắm một mắt Turmzielfernrohr 9d (TZF 9d—kính ngắm viễn vọng tháp pháo) (với toàn bộ nhưng chỉ một số ít Tiger II thời kỳ đầu sử dụng), nó là một vũ khí rất chính xác và chết người. Trong thử nghiệm, khả năng chính xác ước tính của viên đạn đầu tiên vào một mục tiêu cao 2m, rộng 2.5m chỉ dưới 100% ngoài tầm 1000m, ở mức 95–97% ở 1500m và 85–87% ở 2000m, tuỳ thuộc vào kiểu đạn. Tính năng chiến đấu được ghi nhận kém hơn, nhưng vẫn trên mức 80% ở khoảng cách 1,000 m, ở mức 60% ở 1,500 m và 40% ở khoảng cách 2,000 m. Khả năng xuyên tấm giáp nghiêng 30% là 202 và 132mm ở khoảng cách 100 và 2000m với đạn phóng Panzergranate 39/43 (PzGr—bắn xuyên giáp), và 238 và 153mm với đạn phóng PzGr. 40/44 trong cùng khoảng cách. Đạn có đương lượng nổ cao Sprenggranate 43 (SpGr) có thể được sử dụng cho các mục tiêu mềm, hay Hohlgranate hay Hohlgeschoss 39 (HlGr—HEAT hay đạn đầu đạn chống tăng đương lượng nổ cao), có khả năng xuyên giáp 90mm ở bất kỳ khoảng cách nào có thể được sử dụng như đạn lưỡng dụng chống lại các mục tiêu mềm hay giáp thép.[15]

Tốc độ quay tháp pháo nhanh có được nhờ động cơ thuỷ lực kết nối với động cơ chính; một vòng xoay tròn có thể được thực hiện trong mười chín giây khi động cơ ở chế độ chờ, và trong vòng mười giây nếu động cơ ở tốc độ hoạt động tối đa cho phép. Việc di chuyển tháp pháo bằng động cơ được dùng để nhanh chóng đưa mục tiêu vào trong tầm ngắm của súng, nhưng những điều chỉnh thêm khi di chuyển và nâng nòng súng được thực hiện bằng bánh tay quay của pháo thủ. Nếu mất động cơ, tháp pháo có thể di chuyển chậm bằng tay, được hỗ trợ bởi người nạp đạn cũng có một bánh xe quay khác.[16]

The overhanging rear face of a large tank, two laterally spaced exhaust pipes protrude from mountings, pointing upwards, curving away from the vehicle at their ends.
Góc nhìn từ phía sau với hai ống xả khí.

Như mọi xe tăng của Đức, nó có một động cơ xăng, trong trường hợp này là loại 700 PS (690 hp, 515 kW) V-12 Maybach HL 230 P30 tương tự như động cơ dùng cho loại PantherTiger I nhẹ hơn. Tiger II có động cơ yếu, giống nhiều loại xe tặng hạng nặng khác trong Thế chiến II, và tiêu thụ rất nhiều nhiên liệu, vốn luôn thiếu thốn với người Đức. Bộ truyền động là Maybach OLVAR EG 40 12 16 Model B, với tám số tiến và bốn số lùi, điều khiển các bánh xe xích. Đây là Henschel L 801, một thiết kế bán kính kép vốn rất dễ hư hỏng. Thanh xoắn treo ngang đỡ thân vỏ, và chín bánh xe chồng 800mm có vỏ cao su lăn trong xích mỗi bên.[17]

Giống như Tiger I, mỗi chiếc xe được xuất xưởng với hai bộ xích: một bộ thường là "xích chiến đấu" và một bộ hẹp hơn là xích "di chuyển" được dùng khi xe được vận chuyển bằng tàu hoả. Các bộ xích di chuyển làm giảm tổng chiều rộng của xe và có thể được sử dụng để xe đi qua các khoảng cách ngắn trên mặt đất cứng. Tổ lái sẽ phải thay xích chiến đấu càng sớm càng tốt khi xe được hoàn thành vận chuyển. Áp lực trên mặt đất là 0.76 kg/cm2 (10.8 psi).[18]

Các biến thể Panzerbefehlswagen[sửa | sửa mã nguồn]

Hai biến thể chỉ huy của Tiger II, Panzerbefehlswagen (Pz.Bef.Wg. Tiger Ausf. B) được đặt kế hoạch sản xuất. Chúng chỉ mang theo 63 viên đạn 8.8 cm để có khoảng không đặt các thiết bị radio và trang bị phụ thêm.[6] Phiên bản Sd.Kfz. 267 đã sử dụng các bộ radio FuG 8 và FuG 5, với những thay đổi đáng chú ý nhất bên ngoài là một cần ăng ten dài 2 mét trên nóc tháp pháo và một Sternantenna D ("Star antenna D"), được lắp trên một đáy cách ly (104mm Antennenfuss Nr. 1) được bảo vệ bởi một hình trụ bọc thép lớn. Thiết bị này nằm ở phía sau trên vị trí ban đầu được dùng đặt các thiết bị lội nước.[6] Phiên bản Sd.Kfz. 268 sử dụng các bộ radio FuG 7 và FuG 5 với một cần ăng ten dài 2 m trên tháp pháo phía sau.[19]

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Tiger II được phát triển muộn trong cuộc chiến và được sản xuất với số lượng khá nhỏ - 1,500 chiếc Tiger II đã được đặt hàng, nhưng việc sản xuất gặp rất nhiều khó khăn bởi những cuộc ném bom của Đồng Minh.[20] Trong số những cuộc ném bom đó, năm phi vụ trong khoảng thời gian 22 tháng 9 và 7 tháng 10 năm 1944 đã phá huỷ 95% diện tích sàn của nhà máy Henschel. Ước tính việc này đã làm thiệt hại sản xuất khoảng 657 chiếc Tiger II.[21] Chỉ 492 chiếc đã được chế tạo: 1 năm 1943, 379 năm 1944, và 112 năm 1945. Việc sản xuất đầy đủ bắt đầu từ giữa năm 1944 tới cuối cuộc chiến.[1]

Tiger II là một cơ sở cho một biến thể sản xuất, chiếc Jagdtiger,[9] và một xe thiết giáp tự hành Grille 17/21/30/42 lắp đặt các loại súng lớn nhưng chưa bao giờ tiến tới giai đoạn sản xuất.[22]

Các kế hoạch tương lai[sửa | sửa mã nguồn]

Một phiên bản dùng động cơ Maybach HL230 với hệ thống phun nhiên liệu và bộ điều khiển cải tiến đã được thiết kế để gia tăng công suất lên khoảng 1,000 PS (986 hp, 736 kW). Henschel đã đề xuất sử dụng nó cho việc chế tạo tương lai và trang bị lại cho những chiếc Tiger II sẵn có, nhưng tình hình ngày càng xấu đi khiến việc nâng cấp không bao giờ đi quá phòng thiết kế.[23] Các đề xuất cải tiến khác gồm một súng chính mới (10.5 cm KwK L/68), các bộ kính ngắm ổn định, súng chính ổn định, nạp đạn tự động, một thiết bị đo tầm kính nổi Zeiss, khoang tổ lái điều hoà nhiệt độ, tăng dự trữ đạn 12 viên, và một hệ thống quá áp chống khí động và lọc không khí, nhưng chúng cũng không bao giờ vượt quá giai đoạn đề xuất hay tới giai đoạn sản xuất trước khi cuộc chiến chấm dứt.[23]

Đặc điểm kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hộp số: Maybach OLVAR EG 40 12 16 B (8 số tiến và 4 số lùi)[17]
  • Radio: FuG 5, phiên bản Befehlswagen (tăng chỉ huy): FuG 8 (Sd. Kfz. 267), FuG 7 (Sd. Kfz. 268)[6]
  • Vũ khí:
    • 8.8 cm – 80 viên (tháp pháo Porsche)[3], 86 viên (tháp pháo Henschel), thường 50% PzGr 39/43 và 50% SprGr 43, thỉnh thoảng với một số lượng hạn chế PzGr 40/43, hay với SprGr được thay thế bằng HlGr[3]
      PzGr 39/43 (xuyên giáp, lõi tungsten) (tầm xa hơn, khả năng xuyên giáp thấp hơn, thuốc nổ nhồi)[2][15]
      PzGr 40/43 (xuyên giáp, lõi tungsten) (tầm gần hơn, khả năng xuyên giáp cao hơn, trơ)[2][15]
      SprGr 43 (Sức nổ cao)[2]
      HlGr 39 (Đầu đạn nổ lõm)[2]
    • 7.92mm – lên tới 5,850 viên[4]
  • Kính ngắm súng: Turmzielfernrohr 9b/1 (TZF 9b/1) hai mắt cho tới tháng 5 năm 1944, sau đó là 9d (TZF 9d) một mắt.[24]
Bố trí giáp: (tất cả các góc theo phương ngang)[8]
Thân trước (thấp) 100mm ở 40° (cao) 150mm ở 40°
Cạnh thân (thấp) 80mm ở 90° (cao) 80mm ở 65°
Thân sau 80mm ở 60°
Đỉnh thân 40mm ở 90°
Đáy thân (trước) 40mm ở 90° (sau) 25mm ở 90°
Tháp pháo trước (sản xuất) 180mm ở 80° ("Porsche") 60 tới 110mm, tròn
Tháp pháo cạnh (sản xuất) 80mm ở 69° ("Porsche") 80mm ở 60°
Tháp pháo sau (sản xuất) 80mm ở 70° ("Porsche") 80mm ở 60°
Tháp pháo đỉnh (sản xuất) 44mm ở 0–10° ("Porsche") 40mm ở 0–12°

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Tính năng súng và giáp[sửa | sửa mã nguồn]

Lớp giáp dày cộng với súng tầm xa mạnh khiến Tiger II có một lợi thế chống lại mọi xe tăng đối thủ của Đồng MinhLiên xô tham chiến với nó từ phía trước. Điều này đặc biệt đúng ở Mặt trận phía Tây, nơi cả lực lượng Anh và Mỹ đều không có xe tăng hạng nặng tham chiến. Chỉ súng chống tăng 17 pdr của Anh sử dụng đạn APDS trên lý thuyết mới có thể bắn xuyên giáp trước tháp pháo và mũi của Tiger II (thân trước phía dưới) ở khoảng cách 1100 và 1200 yard.[25] Chiến thuật tấn công từ bên sườn đã được sử dụng để chống lại những chiếc Tiger II có giáp bên và giáp sau mỏng hơn, đây là một ưu thế chiến thuật trong các trận đánh của Tiger II.[26] Hơn nữa, vũ khí chính của Tiger II có khả năng tiêu diệt mọi xe tăng của Đồng Minh từ phía trước ở những khoảng cách vượt quá 2.5 km, vượt ngoài khoảng cách hiệu quả của súng của xe tăng Đồng Minh.[27]

Tại Mặt trận phía Đông, Tiger II gặp nhiều đối thủ ngang tầm hơn. Pháo tự hành SU-100 có thể xuyên thủng giáp trước của Tiger II ở cự ly 1000 mét và xe tăng hạng nặng IS-2 (sử dụng pháo 122mm) khi dùng đạn nổ cũng có thể tiêu diệt nó ở cự ly tương tự. Đặc biệt, pháo tự hành SU-152ISU-152 (trang bị pháo 152mm) nếu bắn trúng Tiger II thì sức nổ của viên đạn nặng 48 kg gần như chắc chắn sẽ xé toang giáp và giết chết tổ lái.

Thử nghiệm thời chiến của Liên xô[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tháng 8 năm 1944, một số chiếc Tiger II đã bị người Liên xô bắt được gần Sandomierz và nhanh chóng được đưa về các địa điểm thử nghiệm của họ tại Kubinka. Đội Liên xô đưa ra quan niệm của họ rằng những cuộc thử nghiệm cho thấy những chiếc xe tăng có rất nhiều khuyết điểm; hệ thống treo và truyền động rất hay hỏng và động cơ thường bị quá nóng và hư hỏng. Ngoài ra, người Liên xô còn cho rằng giáp có tính năng kém sau khi bắn thử vào nó bằng nhiều loại đạn chống tăng. Báo cáo của họ không chỉ cho rằng kim loại có chất lượng tồi (một vấn đề không chỉ riêng với Tiger II— khi cuộc chiến ngày càng phát triển, người Đức ngày càng khó kiếm được các hợp kim cần thiết để chế tạo ra loại thép chất lượng cao), mà cả việc hàn cũng vậy, dù đã có "sự chế tạo cẩn thận", đặc biệt kém. Vì thế, thậm chí khi đạn không xuyên qua giáp, có một lượng lớn mảnh vỡ, và tấm giáp bị rạn ở các vết hàn khi nó bị trúng nhiều viên đạn hạng nặng, khiến xe tăng không thể hoạt động được nữa.[28][29]

Độ tin cậy và khả năng cơ động[sửa | sửa mã nguồn]

A three quarters view of a large tank with a flat-faced turret, dull yellow, green and brown wavy camouflage, on display inside a museum. The frontal armor is sloped. The long gun overhangs the bow by several meters. Two waist-high cartridges sit on their bases infront of it.
Tiger II với tháp pháo sản xuất, tại Deutsches Panzermuseum, Munster, Đức

Có hai lý do kỹ thuật chính dẫn tới độ tin cậy kém ban đầu của Tiger II, thiếu các roăng và tấm đệm nối, và hệ thống lái quá tải vốn ban đầu chỉ được thiết kế cho phương tiện nhẹ hơn.[30] Bánh số hai cấp rất dễ hư hỏng.[31] Việc thiếu huấn luyện cho kíp lái có thể làm trầm trọng thêm vấn đề; các lái xe ban đầu chỉ được huấn luyện hạn chế trên các xe khác và thường được gửi trực tiếp tới các đơn vị chiến đấu trên đường ra mặt trận.[30]

Tiểu đoàn tăng hạng nặng số 501 tới Mặt trận phía Đông với chỉ 8 trong số 45 chiếc có thể hoạt động, chủ yếu bởi hư hỏng hệ thống lái. Năm chiếc Tiger II đầu tiên được chuyển cho Panzer-Lehr-Division bị hỏng và bị phá huỷ để khỏi bị rơi vào tay quân địch, mà không hề tham chiến.[32]

Độ tin cậy đã được cải thiện theo thời gian với việc đưa vào sử dụng các roăng và đệm sửa đổi và các thành phần hệ thống lái, huấn luyện lái xe, và bảo dưỡng đầy đủ. Các thống kê từ ngày 15 tháng 3 năm 1945 so sánh khả năng của Tiger II với các loại tăng khác: 62% Panzer IV, 59% Tiger II và 48% Panther hoạt động trong giai đoạn này của cuộc chiến.[33]

Tổng thể, Tiger II là một loại xe tăng đáng ngưỡng mộ dù có những vấn đề của nó. Súng 88 mm của nó có thể tiêu diệt hầu hết phương tiện chiến đấu bọc thép của Đồng Minh từ xa bên ngoài tầm chiến đấu hiệu quả của chúng.[27] Tương tự, không tính tới các vấn đề về độ tin cậy của nó, Tiger II khá nhanh nhẹn đối với một phương tiện hạng nặng. Những ghi chép đương thời của người Đức cho thấy tính cơ động của nó tốt tương đương hay hơn hầu hết các loại xe tăng của Đức hay Đồng Minh.[34]

Phiên chế[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài xe tăng nghiên cứu, huấn luyện và năm chiếc trực thuộc Panzer Lehr, những chiếc Tiger II chỉ được phiên chế vào năm tiểu đoàn tăng hạng nặng (schwere Panzer Abteilung) của Quân đội Đức (Heer), hay Waffen-SS.[25]

A row of seven large tanks lined up with their long guns pointing up at an angle, as if saluting.
Tiger II thuộc Tiểu đoàn tăng hạng nặng số 503 'Feldherrnhalle' dàn đội hình cho việc đưa tin tuyên truyền của Đức

Một tiểu đoàn tiêu chuẩn (abteilung) gồm 45 xe tăng:[25]

Ban chỉ huy Tiểu đoàn
3 x Tiger I
Ban chỉ huy đại đội số 1
2 x Tiger I
Ban chỉ huy đại đội số 2
2 x Tiger I
Ban chỉ huy đại đội số 3
2 x Tiger I
Trung đội số 1
4 x Tiger I
Trung đội số 2
4 x Tiger I
Trung đội số 3
4 x Tiger I
Trung đội số 1
4 x Tiger I
Trung đội số 2
4 x Tiger I
Trung đội số 3
4 x Tiger I
Trung đội số 1
4 x Tiger I
Trung đội số 2
4 x Tiger I
Trung đội số 3
4 x Tiger I

Các đơn vị đã sử dụng Tiger II như sau:[35]

Heer: (s.H.Pz.Abt) Tiểu đoàn 501, 502, 503, 504, 505, 506, 507, 508, 509, 510, 511
SS: (s.SS.Pz.Abt) 501, 502, 503

Lịch sử chiến đấu[sửa | sửa mã nguồn]

A large tank throws dust from its tracks as it drives by, a man is casually sitting on the front of the turret.
Một chiếc Tiger II thuộc Tiểu đoàn tăng hạng nặng số 503 tại Normandy, 1944, với tháp pháo thời kỳ đầu (cái gọi là "Porsche")

Tiger II lần đầu tiên tham chiến trong đại đội 1 thuộc Tiểu đoàn tăng hạng nặng số 503 chống lại Chiến dịch Atlantic giữa TroarnDemouville ngày 18 tháng 7 năm 1944; hai chiếc thiệt hại trong chiến đấu, cộng thêm xe tăng chỉ huy bị kẹt không thể hồi phục sau khi rơi vào một hố bom từ Chiến dịch Goodwood.[36]

Tại Mặt trận phía Đông, nó lần đầu được sử dụng ngày 12 tháng 8 năm 1944 bởi Tiểu đoàn tăng hạng nặng số 501 chống lại Cuộc tấn công Lvov–Sandomierz. Nó tấn công vào điểm đầu cầu của Liên xô tại Sông Vistula gần Baranów Sandomierski. Trên đường tới Oględów, ba chiếc Tiger II đã bị phá huỷ trong một cuộc phục kích của một số chiếc T-34-85.[37] Vì những chiếc xe tăng này bị nổ đạn dược nên các kíp lái bị nhiều thương vong, các viên đạn súng chính không còn được cho phép cất trữ trong tháp pháo nữa, làm giảm số lượng đạn xuống còn 68.[38] Tới 14 chiếc Tiger II thuộc tiểu đoàn số 501 bị thiệt hại trong vùng từ ngày 12 tới ngày 13 tháng 8 khi đương đầu với những chiếc T-34-85 và IS-2 của Liên xô ở địa hình cát không thích hợp.[29]

A large tank with sloped frontal armor and a flat faced turret, by a column of marching soldiers wearing overcoats and helmets, in a wide city street. A large building to the rear shows the scars of battle.
Một chiếc Tiger II thuộc Tiểu đoàn tăng hạng nặng số 503 và các binh sĩ Hungary trên đường phố tại quận Buda's Castle, tháng 10 năm 1944

Ngày 15 tháng 10 năm 1944 những chiếc Tiger II thuộc Tiểu đoàn tăng hạng nặng số 503 đã đóng vai trò quyết định trong Chiến dịch Panzerfaust, hỗ trợ quân đội của Otto Skorzeny đánh chiếm thủ đô Budapest của Hungary, đảm bảo nước này vẫn ở trong Phe Trục cho tới cuối cuộc chiến. Tiểu đoàn số 503 sau đó tham gia vào Trận Debrecen. Tiểu đoàn số 503 tiếp tục ở lại Hungary trong các chiến dịch khác trong 166 ngày, trong đó họ đã tiêu diệt ít nhất 121 xe tăng Liên xô, 244 súng chống tăng và pháo, năm máy bay và một tàu hoả. Đổi lại là thiệt hại 25 xe tăng Tiger II; 10 bị quân đội Liên xô bắn hạ và đốt cháy, 2 bị gửi lại Vienna để đại tu tại nhà máy, trong khi 14 chiếc khác bị kíp lái tiêu huỷ vì các lý do khác nhau, thường để ngăn chúng rơi vào tay quân địch. Kurt Knispel, pháo thủ có số lượng tiêu diệt xe tăng cao nhất mọi thời đại (tiêu diệt 162 xe thiết giáp đối phương), cũng phục vụ trong tiểu đoàn số 503, và đã bị thiệt mạng trong chiến đấu ngày 29 tháng 4 năm 1945 trong chiếc Tiger II của mình.[39]

Tiger II cũng có mặt tại Cuộc tấn công Ardennes tháng 12 năm 1944,[40] các cuộc tấn công Vistula–Oder[41]Đông Phổ của Liên xô tháng 1 năm 1945,[42] Cuộc tấn công Hồ Balaton của Đức tại Hungary tháng 3 năm 1945,[43] Trận Seelow Heights tháng 4 năm 1945, và cuối cùng là Trận Berlin ở cuối cuộc chiến.[44]

Tiểu đoàn tăng hạng nặng SS số 503 đã đạt mức tiêu diệt 500 phương tiện đối phương trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 4 năm 1945 tại Mặt trận phía Đông với thiệt hại 45 chiếc King Tiger (chủ yếu bị bỏ lại và bị phá huỷ bởi kíp lái sau khi hỏng hóc hay hết nhiên liệu).[45]

Những chiếc còn lại[sửa | sửa mã nguồn]

Phiên bản duy nhất có thể hoạt động được trưng bày tại Musée des Blindés, Saumur, Pháp. Nó có tháp pháo sản xuất và cho phép công chúng chiêm ngưỡng. Những chiếc còn lại gồm:

A frontal view of a large tank in a museum, painted pale yellow with some green and rust-brown blotches. Its curved-faced turret is turned to the left and the long gun overhangs the side by several meters.
Tiger II tại Bảo tàng xe Tăng Bovington
  • Bảo tàng xe Tăng Bovington, Dorset, Anh. Tiger II (tháp pháo giai đoạn sản xuất ban đầu) được trưng bày bên trong và công chúng được tham quan khi trả phí vào cửa. Chiếc xe này là nguyên mẫu thép mềm thứ hai được sản xuất và không tham gia phục vụ.
  • Bảo tàng xe Tăng Bovington. Tiger II (tháp pháo sản xuất) – mượn từ Viện Quốc phòng, Shrivenham. Xem bên dưới.
  • Viện Quốc phòng Anh Quốc, Shrivenham, Anh. Tiger II (tháp pháo sản xuất) trong bộ sưu tập quân đội không cho công chúng tham quan. Chiếc xe này thuộc SS s.PzAbt. 501, với số thân 280093, số tháp pháo 104, và có lớp phủ Zimmerit toàn bộ.[46] Nó được tuyên bố là chiến công Trung sĩ Roberts thuộc Tiểu đội A, 23rd Hussars, Sư đoàn Thiết giáp số 11 trong một xe tăng Sherman gần Beauvais, dù nó đã không thể hoạt động và bị kíp lái bỏ lại sau khi hỏng xích và hệ thống lái.[47] Có một bức ảnh nổi tiếng thể hiện chiếc xe này sau trận đánh cuối cùng của nó trong một cánh đồng củ cải với tháp pháo quay 90°.[48] Chiếc xe tăng này hiện được trưng bày tại Bảo tàng xe Tăng Bovington. Nó không có động cơ.
  • Bộ sưu tập Wheatcroft, Leicestershire, Anh Quốc. Một nhà sưu tập tư nhân, Wheatcroft chuẩn bị khởi động dự án khôi phục/chế tạo lại một chiếc Tiger II hoàn chỉnh. Dự án sẽ gồm các chi tiết từ nhiều chiếc Tiger II khác nhau, nhưng nhiều chi tiết sẽ là sản xuất mới. Wheatcroft đã tuyên bố rằng ông có 70–80% phụ tùng gốc cần thiết cho việc tái chế một chiếc và nhiều chi tiết khác vẫn được cung cấp liên tục. Những chi tiết đã được biết và được trưng bày gồm một tấm giáp trước hoàn chỉnh, súng chính 8.8 cm KwK 43, các tấm sàn động cơ, xấp xỉ 1/3 thân (sau) thành một phần, một bộ xích, và xấp xỉ 2/3 tấm thân trái thành hai phần.[49] Mục tiêu của dự án là một chiếc Tiger II hoàn chỉnh có thể hoạt động.
The side of a large tank with wide, wavy green and grey striped camouflage, as it drives past, the commander sitting in the cupola.
Tiger II trình diễn hoạt động tại Musée des Blindés
  • Musée des Blindés, Saumur, Pháp. Một chiếc Tiger II (tháp pháo sản xuất) trong tình trạng có thể hoạt động.
  • Mantes-la-Jolie, Pháp. Một chiếc Tiger II (tháp pháo sản xuất) ít nhiều kém đầy đủ hơn, nhưng đã hư hại, được chôn tại đường 913. Các phần của tháp pháo đã được phát hiện trong một cuộc khai quật thử giới hạn năm 2001. Việc tiếp tục khai quật hiện đang gặp trở ngại vì các lý do tài chính. Có các kế hoạch khai quật toàn bộ và khôi phục chiếc Tiger II cho đài tưởng niệm trận Vexin.[50]
  • Kubinka Tank Museum, Nga. Tiger II (tháp pháo sản xuất) với số tháp pháo 002 (502) bị Hồng quân chiếm được tại Oględów. Bảo tàng được mở cho công chúng với các giới hạn. Các du khách nước ngoài phải có giấy phép viếng thăm trước ba tuần.
The side of a large tank, freshly painted in pale yellow, green and rust-brown camouflage, sitting in sunlight on a concrete plinth.
King Tiger tại La Gleize.
  • Bảo tàng tháng 12 44, La Gleize, Bỉ. Một chiếc Tiger II (tháp pháo sản xuất) đã được khôi phục được trưng bày ngoài trời và công chúng có thể tới thăm. Số thân 280273, được chế tạo tháng 10 năm 1944. Số tháp pháo 213 thuộc s.SS Pz.Abt 501. Chiếc xe tăng này bị bỏ lại ở La Gleize ngày 24 tháng 12 năm 1944. Phần phía trước, khoảng 1/3 nòng súng được khôi phục bằng một nòng súng Panther và một đai súng. Nó cũng có các tấm chắn bùn được làm lại. Nó bị dỡ bỏ mọi thiết bị bên trong và bên ngoài và hầu hết các thanh xoắn đã bị gãy, nhưng nó vẫn còn hộp số và động cơ.
  • Deutsches Panzermuseum, Munster, Đức. Tiger II (tháp pháo sản xuất) được trưng bày bên trong nhà và công chúng được tham quan với vé vào cửa. Số thân 280101. Số tháp pháo 121 thuộc s.SS.Pz.Abt 501.
A side view of a large turreted tank in a museum, with sections of its superstructure and turret cut away.
King Tiger tại Bảo tàng Kỵ binh và Thiết giáp Patton.
  • Bảo tàng Kỵ binh và Thiết giáp Patton, Fort Knox, Hoa Kỳ. Tiger II (tháp pháo sản xuất). Số thân 280243, được chế tạo tháng 9 năm 1944. Số tháp pháo 332 thuộc SS s.PzAbt. 501. Bị bỏ lại gần Trois-Ponts, nó bị quân đội Mỹ bắt được ngày 24 tháng 12 năm 1944. Phía trái bị cắt mở để phục vụ giáo dục tại Aberdeen Proving Ground từ cuối thập niên 1940.
  • Schweizerisches Militärmuseum Full, Thuỵ Sĩ. Chiếc Tiger II (tháp pháo sản xuất) này ban đầu được trưng bày tại Bảo tàng xe Tăng Thun, và hiện được cho Schweizerisches Militärmuseum Full mượn (tháng 9 năm 2006). Nó sẽ được khôi phục hoàn toàn tới trạng thái hoạt động được trong một dự án dài hạn. Chiếc tăng này được Pháp trao cho Thuỵ Sĩ sau cuộc chiến. Số thân 280215 thuộc s.H.Pz.Abt 506.[51]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Jentz 1996, p. 288.
  2. ^ a ă â b c d đ e ê Jentz and Doyle 1993, p. 28 (figure D)
  3. ^ a ă â b Jentz and Doyle 1993, p. 23.
  4. ^ a ă â b Jentz and Doyle 1997, pp. 162–165.
  5. ^ a ă â b c Jentz and Doyle 1993, p. 33.
  6. ^ a ă â b c d Jentz and Doyle 1993, p. 16.
  7. ^ Buckley 2004, p. 119.
  8. ^ a ă Jentz and Doyle 1993, pp. 12, 15.
  9. ^ a ă Schneider 1990, p. 18.
  10. ^ a ă Jentz & Doyle 1993, p. 3.
  11. ^ Jentz and Doyle 1993, pp. 10–12.
  12. ^ Jentz and Doyle 1993, pp. 8–10.
  13. ^ Jentz and Doyle 1993, p. 17
  14. ^ Jentz and Doyle 1993, pp. 13–16.
  15. ^ a ă â Jentz and Doyle 1993, pp. 23–24
  16. ^ Jentz and Doyle 1993, p. 24
  17. ^ a ă Jentz and Doyle 1993, pp. 11–12.
  18. ^ Jentz and Doyle 1993, p. 13.
  19. ^ Jentz and Doyle 1993, pp. 16-17.
  20. ^ Manchester 1968, p. 498.
  21. ^ Jentz and Doyle 1993, p. 17.
  22. ^ Parada, George. “Grille series”. Achtung Panzer!. Truy cập 20 tháng 10 năm 2009. 
  23. ^ a ă Jentz and Doyle 1997, pp. 144–154
  24. ^ Jentz and Doyle 1993, p. 19.
  25. ^ a ă â Jentz and Doyle 1993, p. 36.
  26. ^ Jarymowycz 2001, p. 274.
  27. ^ a ă Jarymowycz 2001, p. 258.
  28. ^ “Was the Tiger really "King?": Testing the King Tiger at Kubinka”. The Russian Battlefield. Truy cập 20 tháng 10 năm 2009. 
  29. ^ a ă Pyatakhin, Dmitry; Parada, George. “Tiger-Tamers: Battle for Sandomierz Bulge - August of 1944”. Achtung Panzer!. Truy cập 29 tháng 10 năm 2009. 
  30. ^ a ă Jentz and Doyle 1993, p. 34
  31. ^ Jentz and Doyle 1993, p. 11
  32. ^ Jentz and Doyle 1993, p. 35.
  33. ^ Jentz and Doyle 1993, pp. 18, 33–36.
  34. ^ Jentz and Doyle 1993, pp. 33–34.
  35. ^ Jentz and Doyle 1993, pp. 37–42.
  36. ^ Schneider 2000, p. 133.
  37. ^ Zaloga 1994, p. 14.
  38. ^ Schneider 2000, p. 46.
  39. ^ Számvéber, 2000. p. 147.
  40. ^ Schneider 2005, pp. 214–216.
  41. ^ Schneider 2000, p. 47.
  42. ^ Schneider 2000, pp. 89–91.
  43. ^ Schneider 2005, p. 217.
  44. ^ Schneider 2005, pp. 300–303.
  45. ^ Schneider 2005, pp. 304, 324.
  46. ^ Jentz and Doyle 1997, p.108.
  47. ^ Schneider 2005, p. 212.
  48. ^ Parada, George. “Tiger II Gallery 2”. Achtung Panzer!. Truy cập 20 tháng 10 năm 2009. 
  49. ^ “Gallery of parts”. Wheatcroft Collection. Truy cập 20 tháng 10 năm 2009. 
  50. ^ “Memorial Vexin 44”. vexinhistoirevivante.com (bằng tiếng Pháp). Truy cập 20 tháng 10 năm 2009. 
  51. ^ “Tiger II”. Schweizerisches Militärmuseum Full. Truy cập 20 tháng 10 năm 2009. 
Notes
  1. ^ Panzerkampfwagen – viết tắt: Pz. hay Pz.Kfw. (tiếng Việt: phương tiện chiến đấu bọc thép)
    Ausführung – viết tắt: Ausf. (tiếng Việt: biến thể).
    Các tên đầy đủ Panzerkampfwagen Tiger (8.8 cm) (Sd.Kfz.182) Ausf. BPanzerbefehlswagen Tiger (Sd.Kfz. 267 und 268) Ausf. B (cho phiên bản chỉ huy) được dùng trong huấn luyện và hướng dẫn bảo dưỡng và trong các bảng thống kê tổ chức và trang bị. Jentz and Doyle 1993, p.16
    Cũng thỉnh thoảng được gọi là Pz. VI Ausf B, không nên nhầm với Pz. VI Ausf HTiger I.
  2. ^ Kampfwagenkanone – viết tắt:KwK (tiếng Việt: súng phương tiện chiến đấu)

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Buckley, John (2004). British Armour in the Normandy Campaign, 1944. London: F. Cass. ISBN 9780714653235. 
  • Jarymowycz, Roman (2001). Tank Tactics: from Normandy to Lorraine. Boulder: L. Rienner Publishers. ISBN 9781555879501. 
  • Jentz, Thomas; Doyle, Hilary (1997). Germany's Tiger Tanks - Vk45 to Tiger II: Design, Production & Modifications. West Chester: Schiffer Publishing. ISBN 9780764302244. 
  • Jentz, Thomas; Doyle, Hilary (1993). Kingtiger Heavy Tank, 1942-45. London: Osprey. ISBN 1-85532-282-X. 
  • Jentz, Thomas (1996). Panzertruppen 2: The Complete Guide to the Creation & Combat Employment of Germany's Tank Force 1943-1945. Schiffer. ISBN 9780764300806. 
  • Manchester, William (2003). The Arms of Krupp, 1587-1968: The Rise and Fall of the Industrial Dynasty That Armed Germany at War. Boston: Back Bay Books. ISBN 9780316529402. 
  • Perrett, Bryan (2000). Sturmartillerie and Panzerjager 1939-45. London: Osprey. ISBN 9781841760049. 
  • Schneider, Wolfgang (1990). Elefant Jagdtiger Sturmtiger: Rarities of the Tiger Family. West Chester: Schiffer Publishing. ISBN 9780887402395. 
  • Schneider, Wolfgang (2000). Tigers in Combat I. Mechanicsburg: Stackpole Books. ISBN 9780811731713. 
  • Schneider, Wolfgang (2005). Tigers in Combat II. Mechanicsburg: Stackpole Books. ISBN 9780811732031. 
  • Számvéber, Norbert (2000). Nehézpáncélosok. A német 503. nehézpáncélos-osztály magyarországi harcai. (bằng Hungarian). Hadtörténeti Levéltár. ISBN 9630025264. 
  • Wilbeck, Christopher (2004). Sledgehammers: Strengths and Flaws of Tiger Tank Battalions in World War II. The Aberjona Press. ISBN 9780971765023. 
  • Zaloga, Steve (1994). IS-2 Heavy Tank 1944-1973. London: Osprey Publishing (UK). ISBN 9781855323964. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]