Timur Lenk

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Timur Lenk
Hãn của Đế quốc Timur
Stamps of Uzbekistan, 2007-37.jpg
Tượng Timur Lenk ở Samarkand
Kế nhiệm Pir Muhammad
Miran Shah
Khalil Sultan
Thông tin chung
Hậu duệ Jahangir
'Umar Shaikh
Miran Shah
Shah Rukh
Thân phụ Taraghay
Sinh 1336
Mất Tháng 2 năm 405

Tīmūr bin Taraghay Barlas (hay Thiếp Mộc Nhi) (Chagatai Turkic: تیمور - Tēmōr, "sắt") (1336 – tháng 2 năm 1405), người phương Tây gọi là Tamerlane, là một vị hoàng đế có xuất thân Đột Quyết-Mông Cổ vào thế kỷ 14,[1][2][3][4] người đã chinh phạt phần lớn Tây và Trung Á, và là người sáng lập Đế quốc Timurid và Triều đại Timurid (1370–1405) ở Trung Á, một đế quốc đã tồn tại dưới một số hình thức cho đến 1857. Có lẽ, ông được biết phổ biến dưới một tên Ba Tư có nghĩa xấu là Timur-e Lang (Ba Tư: تیمور لنگ‎ ​) có thể dịch ra là Timur Què, do ông đã bị què sau khi đã chống cự được một vết thương ở chân trong cuộc chiến. Sau khi kết hôn với gia đình của Thành Cát Tư Hãn, ông lấy tên là Timūr Gurkānī (Ba Tư: تيمور گوركانى‎ ​), Gurkān là một dạng Ba Tư hóa từ có nguồn gốc tiếng Mông Cổ kürügän, "con rể".[5][6] Các cách viết khác tên của ông là: Temur, Taimur, Timur Lenk, Timur-i Leng, Temur-e Lang, Amir Timur, Aqsaq Timur, và Latin hóa là TamerlaneTamburlaine. Ước tính có thể 17 triệu người đã thiệt mạng do các cuộc chinh phục của Timur.[3]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Là người có dòng dõi Đột Quyết/Mông Cổ, Timur Lenk chịu thấm nhuần trong văn hóa Ba Tư.[7] Ông đã khao khát phục hồi lại Đế quốc Mông Cổ, thế nhưng trận chiến nặng nề nhất của ông là chống lại quân bộ lạc vàng của Mông Cổ, trận chiến không bao giờ bình phục được sau chiến dịch của ông chống lại Tokhtamysh. Ông tự cho mình là một ghazi (chiến binh thần của đạo Hồi), nhưng các trận chiến lớn nhất của ông là chống lại các quốc gia Hồi giáo.

Ông qua đời trong một chiến dịch chống nhà Minh, thế nhưng những ghi chép lại cho thấy rằng trong một phần đời của mình ông đã là một chư hầu lén lút của nhà Minh và thậm chí con trai của ông là Shah Rukh đã viếng thăm Trung Hoa năm 1420.[8] Ông là một người bảo trợ cho nghệ thuật nhưng cũng cướp hiếp, cướp đoạt và thảm sát và phá hủy các trung tâm học thuật vĩ đại trong thời kỳ chinh phục của mình. Ông nắm quyền lực tuyệt đối nhưng chưa bao giờ ông tự cho mình hơn một thủ hiến (Ả Rập) và cuối cùng ông đã cai trị nhân danh của một Đại Hãn Chingizid chịu thuần phục, người chỉ hơn một tù binh một chút.

Ông đã cai trị một đế quốc mà ngày nay trải dài từ Nam Thổ Nhĩ Kỳ, Syria, Iraq, KuwaitIran, xuyên qua Trung Á bao gồm một phần của Kazakhstan, Afghanistan, Azerbaijan, Gruzia, Turkmenistan, Uzbekistan, Kyrgyzstan, Pakistan, Ấn Độ, và thậm chí vươn đế KashgarTrung Quốc. Bắc Iraq vẫn còn nằm dưới quyền của người Assyria Kitô giáo cho đến khi bị Timur Lenk phá hủy.[9]

Di sản của Timur Lenk là một thứ trộn lẫn; trong khi Trung Á phát triển rực rỡ dưới thời kỳ cai trị của ông, những nơi khác như Bagdad, Damascus, Delhi và các thành phố Ả Rập, Ba Tư, Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ đã bị cướp đoạt và phá hủy và hàng triệu người đã bị tàn sát. Do đó trong khi di sản Timur để lại vẫn còn ở Trung Á, ông lại bị phỉ báng bởi các xã hội Ấn Độ, Ba Tư và Ả Rập. Đồng thời, nhiều người Tây Á vẫn đặt tên con cái theo tên ông còn văn học Ba Tư gọi ông là "Teymour, kẻ chinh phục Thế giới" (Ba Tư: تیمور جهانگير‎ ​).

Đế quốc của Tamerlan
Bảo tàng Amir Тemur ở Tashkent

Thời thơ ấu[sửa | sửa mã nguồn]

Timur được sinh ra tại Transoxiana, gần Kesh (một khu vực ngày nay được biết nhiều hơn với tên Shahr-e Sabz, 'thành phố xanh,'), tọa lạc cách Samarkand 80 km về phía nam của quốc gia Uzbekistan ngày nay.

Timur đánh giá phần lớn tính chính thống ban đầu của mình vào dòng dõi phả hệ của Thành Cát Tư Hãn. Ông xuất thân từ những người chinh phục Mông Cổ, những người đã tiến hành Tây tiến sau khi đã thành lập nên Đế quốc Mông Cổ.

Cha của ông, Taraghay, là tù trưởng bộ lạc Barlas, một bộ lạc du mục nói tiếng Đột Quyết[10] bộ lạc có xuất xứ Mông Cổ có gốc gác từ người chỉ huy Mông Cổ Qarachar Barlas. Taraghay là chắt trai của Qarachar Noyon và, nổi bật trong các thành viên thị tộc bạn bè của mình là người đầu tiên chuyển sang Hồi giáo, Taraghay có thể đã kế thừa hưởng được thứ vị cao trong quân đội do thừa kế; giống như cha mình là Burkul, tuy nhiên, ông lại ưa thích cuộc sống ẩn dật và nghiên cứu. Taraghay cuối cùng đã ẩn dật ở một tu viện Hồi giáo, nói với con trai mình rằng "thế giới là một cái bình xinh đẹp đầy rẫy những con bọ cạp."

Dưới cách nhình của người cha, nền giáo dục ban đầu cho Timur đã đạt tới mức mà đến tuổi 20, Timur không những đã tinh thông các hoạt động ngoài trời mà còn đạt được một danh tiếng là một người có học mà còn là một người đọc chăm chú kinh Qur'an. Như cha của mình, Timur là một người theo Hồi giáo và đã chịu ảnh hưởng của dòng Sufi.

Phả hệ giả mạo ghi trên bia mộ của ông đã mang xuất thân của ông về với Ali, cũng như sự hiện diện của những người Shiite trong quân đội của ông, khiến cho một số nhà quan sát và học giả gọi ông là một người Shiite. Tuy nhiên, người cố vấn tôn giáo chính thức của ông là học giả Hanafite tên gọi là Abd alJabbar Khwarazmi. Có bằng chứng cho thấy ông đã chuyển qua Nusayri dưới sự ảnh hưởng của Sayyed Barakah, một lãnh đạo Nusayri từ người thầy thông thái của ông, Balkh. Ông cũng đã cho xây một trong những tòa nhà đẹp nhất của ông tại mộ của Ahmed Yesevi, một vị thánh Sufi Đột Quyết có ảnh hưởng, người đã có nhiều hoạt động truyền bá Hồi giáo Sunni trong các nhóm dân du mục.

Lãnh đạo quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ của Đế quốc Timurid năm 1405 (màu xám)

Vào khoảng năm 1360, đã đạt tới sự xuất chúng là một lãnh đạo quân sự. Ông đã tham gia các chiến dịch ở Transoxania với Đại Hãn Chagatai, một người cùng xuất thân từ Thành Cát Tư Hãn. Sự nghiệp của ông trong 10 hoặc 11 năm tiếp theo có thể được tóm tắt trong tác phẩm Memoirs. Ông liên minh với Kurgan, kẻ chiếm đoạt và phá hủy Volga Bulgaria, vì mối quan hệ gia đình, ông đã xâm lược Khorasan với hàng ngàn kỵ binh. Đây đã là cuộc viễn chinh quân sự thứ hai mà ông đã lãnh đạo, và sự thành công của cuộc viễn chinh này đã dẫn đến những cuộc hành quân xa hơn nữa, trong đó có cuộc chinh phục KhwarizmUrganj.

Sau khi ám sát Kurgan các tranh chấp nảy sinh giữa nhiều người đòi lên nắm quyền lực tối cao đã bị ngăn chặn bởi cuộc xâm lược bởi Jagataite Tughlugh Timur của Kashgar, một hậu duệ khác của Thành Cát Tư Hãn. Timur đã được phái đến trong một phái đoàn đến doanh trại của kẻ xâm lược, kết quả của chuyến đi này là ông được bổ nhiệm làm tù trưởng bộ lạc của mình, bộ lạc Barlas, thay cho vị tù trưởng cũ, Hajji Beg.

The exigencies of Timur's quasi-sovereign position compelled him to have recourse to his formidable patron, whose reappearance on the banks of the Syr Darya created a consternation not easily allayed. Bộ lạc Barlas đã được lấy từ Timur và được giao cho một người con trai của Tughluk, cùng với phần còn lại của Mawarannahr; nhưng ông đã bị đánh bại trong cuộc chiến bởi chiến binh dũng cảm mà trước đó ông đã thay thế cương vị chỉ huy của một lực lượng cấp thua rất xa về mặt số lượng.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ B.F. Manz, "Tīmūr Lang", in Encyclopaedia of Islam, Online Edition, 2006
  2. ^ The Columbia Electronic Encyclopedia, "Timur", 6th ed., Columbia University Press: "... Timur (timoor') or Tamerlane (tăm'urlān), c.1336–1405, Mongol conqueror, b. Kesh, near Samarkand....", (LINK)
  3. ^ "Timur", in Encyclopaedia Britannica: "... [Timur] was a member of the Turkic Barlas clan of Mongols..."
  4. ^ "Baber", in Encyclopaedia Britannica: "... Baber first tried to recover Samarkand, the former capital of the empire founded by his Mongol ancestor Timur Lenk..."
  5. ^ Zahir ud-Din Mohammad (10 tháng 9 năm 2002). Trong Thackston, Wheeler M. The Baburnama: Memoirs of Babur, Prince and Emperor. Modern Library Classics. ISBN 0-375-76137-3. 
  6. ^ Note: Other sources like the reports of the contemporary witness Ruy Gonzáles de Clavijo use a non-Persianized notation for this title of Timur, e.g. Timur Kurkhan, and describe the meaning of Kurkhan as of the lineage of sovereign princes. But this translation is widely rejected by modern scholars.
  7. ^ Gérard Chaliand,Nomadic Empires: From Mongolia to the Danube translated by A. M. Berrett,Transaction Publishers,2004,pg 75 [1]
  8. ^ Needham, Joseph (1986). Science and Civilization in China: Volume 4, Part 2. Taipei: Caves Books Ltd. Page 554.
  9. ^ The annihilation of Iraq
  10. ^ David W. Del Testa, Florence Lemoine, John Strickland. Government Leaders, Military Rulers, and Political Activists. Greenwood Press. Page 180. [2]