Tobey Maguire

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tobey Maguire

Maguire tại buổi ra mắt Đại gia Gatsby năm 2013
Sinh Tobias Vincent Maguire
27 tháng 6, 1975 (39 tuổi)
Santa Monica, California, U.S.
Công việc Diễn viên
Năm hoạt động 1988 đến nay
Vợ (hoặc chồng) Jennifer Meyer (k.hôn  2007–nay) «start: (2007)»"Hôn nhân: Jennifer Meyer đến Tobey Maguire" Location:Bản mẫu:Placename/adr (linkback://vi.wikipedia.org/wiki/Tobey_Maguire)
Con cái 2

Tobias Vincent "Tobey" Maguire (sinh ngày 27 tháng 6 năm 1975) là một diễn viên và nhà sản xuất điện ảnh Mỹ. Anh đã bắt đầu sự nghiệp của mình vào cuối những năm 1980. Trong khi có lẽ tốt nhất được biết đến với vai diễn Người nhện Peter Parker / trong bộ ba phim của Sam Raimi của người nhện (2002-2007), anh cũng tham gia diễn xuất trong các bộ phim như Pleasantville (1998), Ride with the Devil (1999), The Cider House Rules (1999), Wonder Boys (2000), Seabiscuit (2003), The Good German (2006), Tropic Thunder (2008), and Brothers (2009). Anh đã được đề cử cho giải Screen Actors Guild và Giải Quả cầu vàng và nhận được hai giải thưởng Saturn, trong đó có một cho Nam diễn viên chính xuất sắc nhất.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Maguire sinh ở Santa Monica, California, là con của một nữ thư ký mẫn cán và một người cha làm thợ xây dựng và đầu bếp, anh có 4 anh em cùng cha khác mẹ và cùng mẹ khác cha.[1] Cha mẹ anh, một người 18 tuổi và một người 20 tuổi, đã không kết hôn tại thời điểm cậu sinh ra, hai người sau đó đã ly hôn khi Maguire lên 2 tuổi.[2] Maguire trải qua thời thơ ấu di chuyển từ thành phố này qua thành phố khác, sống với mỗi bên cha hoặc mẹ và các thành viên khác của gia đình.[3] Lúc trẻ anh mong một ngày được vào bếp với vai trò bếp trưởng tài năng và muốn ghi danh học một lớp kinh tế gia đình lúc cậu học lớp sáu. Mẹ cậu đã cho cậu 100 USD để đăng ký lớp học kịch thay vì học nấu ăn và cậu đã đồng ý[4].Việc chuyển trường liên tục đã bắt đầu ảnh hưởng đến tâm lý của Maguire. Cuối cùng, sau 1 lần chuyển trường khác, cậu đã quyết định nghỉ học để theo đuổi sự nghiệp diễn xuất.[5] Năm 2000, Maguire đã nhận được tấm bằng GED, nói về những ngày còn ở trường học, "Tôi đã không làm gì ở trường; tôi có mặt ở đó, nhưng không góp phần gì cả."[6]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Khởi nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Maguire xuất hiện lần đầu trong bộ phim The Wizard vào năm 1989. Anh đóng một trong những tay sai của Lucas Barton (một trong ba đấu thủ trong cuộc thi đấu video game). Khởi nghiệp với những đoạn phim quảng cáo, dần dần Tobey trưởng thành hơn với việc xuất hiện trước ống kính máy quay và nhận được một số vai diễn nhỏ. Ban đầu, Maguire là diễn viên nhí trong những năm đầu thập niên 90, anh thường xuyên đóng những vai trẻ hơn tuổi thật của mình; cho đến năm 2002, Maguire vẫn đóng vai thiếu niên trong khi anh đã 25 tuổi. Anh đã đóng nhiều phim quảng cáo và có nhiều vai trong các phim truyền hình và điện ảnh. Ạnh từng hợp tác với nhiều diễn viên như: Chuck Norris phim (Walker, Texas Ranger), Roseanne BarrTracey Ullman (phimTracey Takes On...). Cuối cùng, Maguire đã được chọn đóng vai chính trong phim truyền hình Great Scott của hãng Fox, nhưng phim này bị hoãn lại 5 tuần sau đó.

Trong nhiều buổi thử vai, Maguire đã tìm vai diễn cho mình cùng với diễn viên Leonardo DiCaprio. Hai người nhanh chóng trở thành bạn thân và thỏa thuận luôn giúp đỡ nhau tìm kiếm vai diễn trong các phim điện ảnh, truyền hình và các dự án khác của họ. Điển hình, cả hai cùng thử vai cho cùng vai diễn trong phim truyền hình vào năm 1990 Parenthood, phim dựa vào phim hài năm 1989 Parenthood. DiCaprio được chọn, và Maguire sau đó cũng đóng một vai khách mời nhờ vào sự tiến cử của DiCaprio. Trong phim, điện ảnh năm 1993 This Boy's Life (diễn viên chính là Robert De Niro); DiCaprio nhận được vai diễn thời niên thiếu của nhân vật chính (điều trùng hợp ngẫy nhiên là, nhân vật đó cũng tên là "Toby") và Maguire đóng vai một trong những ngừoi bạn của Toby.

Vào giữa những năm 90, Maguire vẫn chăm chỉ làm việc, tuy nhiên anh bị cuốn vào lối sống ưa tiệc tùng cùng những anh bạn diễn viên tuổi teen đồng lứa.Vào năm 1995, Maguire đã yêu cầu đạo diễn Allan Moyle hủy vai diễn của anh trong phim điện ảnh Empire Records. Moyle đã đồng ý, và tất cả phân cảnh cảnh của Maguire đã bị xóa.[7] Sau đó, Maguire tìm kiếm sự giúp đỡ việc cai nghiện rượu; vì anh từng là người nghiện rượu.[8] Sau khi chữa trị căn bệnh nghiện rượu,[8] Con đường sự nghiệp Maguire đã thay đổi. Anh đã có những vai diễn mà cả anh và Dicapiro không bao giờ cạnh tranh cùng một vai diễn. Với vai con trai của Kate Capshaw trong Griffin Dunne’s Duke of Groove đã giúp cậu tiến vào lĩnh vực điện ảnh. Phải 2 năm sau Tobey mới có cơ hội khẳng định tài năng của mình với The Ice Storm của đạo diễn Ang Lee dựa theo tiểu thuyết cùng tên của Ricky Moody. Tobey đã rất thành công với hình tượng anh chàng tuổi teen Paul Hood luôn bất mãn với cuộc đời. Vai diễn này giúp anh có được những vai chính trong các phim như: Pleasantville, The Cider House Rules, và Wonder Boys. Năm 1998, trong bộ phim Fear and Loathing in Las Vegas anh đóng một vai người đi quá giang xe, gặp Raoul Duke và Dr. Gonzo trên đường họ đi đến Las Vegas.

Năm 1999, trong phim Ride with the Devil, Maguire đóng vai Jakob Roedel, đóng cùng ca sĩ Jewel. Anh đóng vai con trai của một người nhập cư Đức, tham gia cùng với những người bạn ở miền nam trong nhóm cao bồi vùng Missouri, trả thù những kẻ hung bạo chống lại người dân Missouri.

Năm 2001, Maguire lồng tiếng cho chú chó săn Lou, trong phim điện ảnh gia đình Cats & Dogs. Năm 1999 đánh dấu bước ngoặt lớn trong sự nghiệp của Tobey với The Cider House Rules của đạo diễn Lasse Hallstrom. Bộ phim được đề cử 7 giải Oscar. Tài năng Tobey Maguire bắt đầu nở rộ. Vai diễn ấn tượng của anh trong Wonder Boys đã khiến đạo diễn Sam Raimi không ngần ngại chọn Tobey vào vai chính trong bộ phim ăn khách Người nhện.

Sau sự thành công vang dội của loạt phim Người nhện, Tobey được xếp vào hàng sao của Hollywood nhưng anh vẫn không mất đi nét giản dị hơi rụt rè của mình. Không rượu không thuốc lá, Tobey có cuộc sống lành mạnh với thói quen ăn chay, niềm đam mê bóng rổ, sở thích tập yoga hàng ngày và thỉnh thoảng lại vào bếp chế biến những món ăn yêu thích.

Người nhện[sửa | sửa mã nguồn]

Trong năm 2002, Maguire đóng phim Người nhện, dựa vào bộ truyện tranh về siêu anh hùng nổi tiếng của hãng Marvel Comics. Thành công của phim nhan chóng đưa Maguire lên vị trí ngôi sao. Anh cũng đóng tiếp vai Người nhện trong các phần tiếp theo: Người nhện 2 (2004) và Người nhện 3 (2007), và anh cũng lồng tiếng cho Người nhện cho các video game phỏng theo phim.

Diễn xuất của Maguire trong vai người nhện giúp anh nhận được những lời tán dương từ các nhà phê bình. Chẳng hạn, Mark Caro của tờ Chicago Tribune cảm nhận rằng: "Nhờ vào đôi mắt to, tròn và đầy cảm xúc, Maguire luôn có thể truyền tải cảm xúc của mình một cách tự nhiên và thói quen ít nói của anh giúp anh rất nhiều cho vai diễn".

Hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2003, Maguire đã cũng cố vị trí ngôi sao với vai anh chàng nài ngựa Red Pollard trong bộ phim được ca ngợi Seabiscuit, phim kể về chú ngựa đua nổi tiếng Seabiscuit. Năm 2006, Maguire đóng vai phản diện đầu tiên Corporal Patrick Tully đóng cùng George ClooneyCate Blanchett trong bộ phim The Good German của đạo diễn Steven Soderbergh, dựa theo tiểu thuyết cùng tên của Joseph Kanon.

Anh cũng là nhà sản xuất phim trong các phim như 25th Hour (2002), Whatever We Do (2003), và Seabiscuit (2003).

Năm 2008, Maguire đóng vai khách mời trong phim hành động hài Tropic Thunder, trong vai một người đồng tính ở thế kỷ 18.[9].Gần kết thúc phim, người ta tiết lộ rằng vai diễn của Maguire được đề cử giải diễn viên xuất sắc nhất tại giải thưởng Oscar, sau đó anh bị thua giải.[10]

Năm 2009, anh tham gia diễn xuất cùng Jake GyllenhaalNatalie Portman trong phim tâm lý chiến tranh Brothers của đạo diễn Jim Sheridan trong vai Sam Cahill, một người tù chiến tranh quay trở về từ Afghanistan và bắt đầu nghi ngờ rằng vợ anh có quan hệ tình cảm với em trai mình. Anh nhận được những lời tán dương của các nhà phê bình điện ảnh và với vai diễn này anh nhận được một đề cử cho Nam diễn viên chính xuất sắc nhất tại giải thưởng Quả cầu vàng. Tobey Maguire tâm sự rằng: "Tôi không nghĩ mình đươc đề cử. Vợ tôi và con trai thật sự thú vị. Tôi ngạc nhiên như là, oh wow. Và tôi thậm chí không thể nghe được họ của mình." [11] Năm 2012, anh sẽ trở lại với điện ảnh sau 2 năm vắng bóng với 3 bộ phim: The details, Life of Pi và đặc biệt là siêu phẩm " Great Gasby" đóng cùng bạn thân Leonardo Dicapiro.

Cuộc sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Maguire từng là người ăn chay kể từ năm 1992 và trở thành người ăn chay trường vào năm 2009.[12] Năm 2002, Tạp chí PETA tuyên bố anh là người ăn chay gợi cảm nhất thế giới.[13] Anh thường có những thay đổi trong chế độ ăn uống để tăng hoặc giảm cân cho các vai diễn điện ảnh của mình. Chẳng hạn, anh đã đột ngột giảm cân để thực hiện Seabiscuit, nhưng ngay sau đó lại phải tăng cân nhanh chóng để đóng Người nhện 2.[14]

Trong một bài báo của tạp chí Premiere, Sam Raimi đã xác nhận tin đồn trong thời gian dài giữa Maguire và bạn diễn của anh trong phim người nhện Kirsten Dunst có điều gì đó trong suốt quá trình quay người nhện phần đầu vào năm 2001. Như Raimi giải thích với tạp chí: "Tôi trông thật ngớ ngẩn, bởi vì tôi đã gặp họ dùng buổi tối vào một đêm trong quá trình quay phim để nói chuyện về cảnh quay của ngày hôm sau. Và tôi đi, Ok, đó là buổi họp mặt, và sau đó tôi hỏi Kirsten, tôi có thể đưa cô về nhà, và họ nhìn nhau, và cô ấy nói, không, không, tôi sẽ chơi game Touch 10 với Tobey. Tôi không biết, đó là một game nào đó. Tôi nghĩ, thật kỳ lạ, cô ấy phải làm việc ngày mai.'"[15]

Maguire gặp Jennifer Meyer vào năm 2003 khi anh quay bộ phim SeabiscuitUniversal Studios,và đã đính hôn vào tháng 4 năm 2006. Con gái của họ Ruby Sweetheart Maguire chào đời vào ngày 10 tháng 11 năm 2006.[16] Hai người đã kết hôn vào ngày 3 tháng 9 năm 2007 tại Kona, Hawaii.[17] Đứa con thứ 2 của họ, Otis Tobias Maguire chào đời ngày 8 tháng 5 năm 2009.[18]

Maguire thường chơi bóng rổ với bạn bè[19] và tổ chức các trận đấu hàng tuận vào thứ 7 khi không quay phim ở LA.[20] Anh cũng thích xem bóng rổ, đặc biệt là đội Los Angeles Lakers, và thường đi xem với vợ.

Tiểu sử đóng phim[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên phim Vai diễn Ghi chú
1989 Rodney Dangerfield: Opening Night at Rodney's Place Boy No. 3 Television film
1989 Wizard, TheThe Wizard Goon
1990 Tales from the Whoop: Hot Rod Brown Class Clown Hot Rod Brown Television film
1990 1st & Ten Chad Television series; Episode: "If I Didn't Play Football"
1991 Eerie, Indiana Tripp McConnell Television series; Episode: "The Dead Letter"
1992 Wild and Crazy Kids Bản thân Television series
1992 Great Scott! Scott Melrod Television series|Đề cử – [[Young Artist Award - diễn viên trẻ xuất sắc nhất của phim truyền hình}}
1993 This Boy's Life Chuck Bolger
1994 Healer Teenager
1994 Revenge of the Red Baron Jimmy Spencer
1994 Walker, Texas Ranger Duane Parsons Television series; Episode: "The Prodigal Son"
1994 Spoils of War Martin Television film
1994 S.F.W. Al
1994 Child's Cry for Help, AA Child's Cry for Help Peter Lively Television film
1995 Empire Records Andre Các cảnh quay trong phim đã bị cắt.
1996 Joyride J.T.
1996 Seduced by Madness Chuck Borchardt Television film
1996 Duke of Groove Rich Cooper Television film
1997 Ice Storm, TheThe Ice Storm Paul Hood
1997 Deconstructing Harry Harvey Stern / Harry's character
1998 Fear and Loathing in Las Vegas Hitchhiker, TheThe Hitchhiker
1998 Pleasantville David Saturn Award diễn viên trẻ xuất sắc nhất
1999 Ride with the Devil Jake Roedel
1999 Cider House Rules, TheThe Cider House Rules Homer Wells Đề cử – Screen Actors Guild Award for diễn xuất xuất sắc
2000 Wonder Boys James Leer
2001 Don's Plum Ian
2001 Cats & Dogs Lou the Beagle Lồng tiếng
2002 Spider-Man Peter Parker/Spider-Man
2003 Seabiscuit Red Pollard
2004 Spider-Man 2 Peter Parker/Spider-Man Saturn Award cho diễn viên chính xuất sắc nhất
2006 Good German, TheThe Good German Corporal Patrick Tully
2007 Spider-Man 3 Peter Parker/Spider-Man Đề cử – MTV Movie Award cho Best Fight (với James Franco)
2008 Tropic Thunder Himself Uncredited
2009 Brothers Sam Cahill
2011 The Details Jeff Webber
2012 The Great Gatsby Nick Carraway Đang sản xuất
Sản xuất
Năm Tên phim Notes
2002 The 25th Hour
2003 Whatever We Do
2003 Seabiscuit
2011 Country Strong
2011 Seeking Justice
2012 Rock of Ages

Video game[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên phim Vai Diễn Ghi chú
2002 Spider-Man Peter Parker/Spider-Man Video game (lồng tiếng)
2004-2005 Spider-Man 2 Peter Parker/Spider-Man Video game (lồng tiếng)
2007 Spider-Man 3 Peter Parker/Spider-Man Video game (lồng tiếng)
2011 Call of Duty: Modern Warfare 3 Sgt. Daniel McCoy Video game (lồng tiếng)

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên phim Vai Diễn Ghi chú
1998 Pleasantville David Staturn Award - Diễn viên trẻ xuất sắc nhất
2004 Spider-Man 2 Peter Parker/Spider-Man Staturn Award - Diễn viên chính xuất sắc nhất
2002 Spider-Man Peter Parker/Spider-Man MTV Movie Award -Nụ hôn đẹp nhất

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Maguire's Mother Launches Asian Sex balls sade”. ContactMusic. 24 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2006. 
  2. ^ "Tobey Maguire: Eyes right for a tired superhero" Belfast Telegraph May 4, 2007.
  3. ^ Tobey Maguire: A tired superhero, The Independent, published April 27, 2007; retrieved May 1, 2007.
  4. ^ Tobey Maguire: A Thoughtful Spider-Man, published May 2, 2002; retrieved May 1, 2007.
  5. ^ Interview: Tobey Maguire, published May 4, 2007; retrieved May 14, 2007.
  6. ^ Tobey Maguire – bold in sticking to the subtle, low-key roles[[]][liên kết hỏng], published March 10, 2000; retrieved May 14, 2007.
  7. ^ Men of the Week in Enterainment; retrieved May 14, 2007.
  8. ^ a ă Tobey Maguire Reveals AA Meetings, published April 12, 2007; retrieved May 14, 2007.
  9. ^ http://www.satansalley.com/satansalley_home_01.swf
  10. ^ “Robert Downey Junior in Tropic Thunder. MediaBlvd Magazine. 13 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2008. [[]][liên kết hỏng]
  11. ^ “Stars React to Golden Globe Nominations”. CBS News. 23 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2012. 
  12. ^ Stein, Ruthe (29 tháng 11 năm 2009). “Jim Sheridan directs 'Brothers'”. San Francisco Chronicle. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2009. 
  13. ^ Annette Sharp, "Tobey Maguire Rejects Luxury Car with Leather Seats," The Daily Telegraph, 12 October 2011.
  14. ^ Tobey Maguire Interview[[]][liên kết hỏng]. Retrieved June 17, 2007.
  15. ^ The Secrets of Spider-Man 3[[]][liên kết hỏng], Premiere, January/February 2007; retrieved May 1, 2007.
  16. ^ “Tobey Maguire Welcomes First Child”. TheCelebrityCafe. 13 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2012. 
  17. ^ Tobey Maguire Marries Jennifer Meyer in Hawaii
  18. ^ Fleeman, Mike; Julie Jordan (3 tháng 7 năm 2009). “Tobey Maguire Reveals Baby Son's Name”. People. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2009. 
  19. ^ Crotty, James. "Crotty's Farm Report: Tobey and Me", Monk.com, May 1, 2001; retrieved May 14, 2007.
  20. ^ "Tobey Maguire, a.k.a. Peter Parker/Spider-Man: The Interview", retrieved May 14, 2007.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]