Trà đạo Triều Tiên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trà đạo Triều Tiên
Korean tea ceremony DSC04095.jpg
Hangul 다례
Hanja (Hán tự)
Romaja quốc ngữ darye
McCune-Reischauer tarye

Trà đạo Triều Tiên gọi là darye là một nghi thức trà đạo được phát triển ở bán đảo Triều Tiên. Darye có nghĩa là "lễ trà", đã được người Triều Tiên gìn giữ qua hàng ngàn năm.[1] Đặc điểm chính của trà đạo Triều Tiên là tinh thần thoải mái tự nhiên khi thưởng thức trà, không bị ràng buộc bởi những nghi lễ cầu kỳ.

Ngày nay, trà đạo Triều Tiên đang được hồi sinh; trà đạo chính là con đường dẫn mọi người tìm về sự thư thái và cân bằng trong cuộc sống hối hả ngày nay ở Triều TiênHàn Quốc, tiếp nối truyền thống nghệ thuật lâu đời.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Văn bản viết đầu tiên miêu tả về trà đạo kể về một lễ dâng trà lên linh hồn của Thủ Lộ Vương (Suro), vị vua sáng lập thành bang Kim Quan Già Da (Geumgwan Gaya) (42-562). Các ghi chép từ thời Cao Ly (918-1392) chỉ ra rằng các lễ dâng trà lên các vị sư đáng kính đã được thực hiện tại các chùa.[2]

Nghi thức quốc gia quan trọng có liên quan đến thưởng trà đã được các quan của viện "Tabang" chủ trì.[3] Ít nhất là có một nghi lễ đã được ghi chép lại trong Goryeosa Yaeji, nghĩa là "Chính sử Triều Tiên", miêu tả rằng lễ trà này là một phần trong buổi tiếp sứ thần Trung Hoa đến yết kiến triều đình.[4]

Suốt thời trị vì của nhà Triều Tiên (1392-1910), các nghi thức thưởng trà vẫn được tiếp nối và được phát triển theo lối tao nhã hơn. Viện "tabang" vẫn duy trì việc tổ chức các lễ trà chính của triều đình. Gia tộc họ Lý và tầng lớp quý tộc thực hiện các nghi lễ đơn giản, có nghi thức hàng ngày và nghi thức dành cho các dịp đặc biệt. Các lễ nghi này được hệ thống thành "Quốc triều ngũ lễ nghi" (Gukjo Oryeui, 國朝五禮儀, 국조오례의) năm 1474.[5]

Nhưng rồi đã xảy ra nhiều vấn đề liên quan đến các đồi trà đã thay đổi rất nhiều quyết định của các quan chức về trà Triều Tiên. Không giống như các đồi trà ở Trung Quốc hay Nhật Bản, khí hậu ở bán đảo Triều Tiên lạnh hơn rất nhiều, còn thời điểm thu hái trà lại ngay trước mùa xuân. Lúc đó, các rừng trà trên núi rất lạnh và nguy hiểm với nhiều thú rừng hoang dã. Tên cổ của trà ở Triều Tiên là "tuyết lục" (설록, "Sulloc", 雪綠), nghĩa là các lá trà non đầu tiên sẽ được thu hái trên những cánh đồng phủ đầy tuyết trên núi. Tình hình này đưa đến nhiều khó khăn suốt thời kỳ Cao Ly và nhà Triều Tiên.

Các đồi trà cũng lại chính là vùng đất màu mỡ thuận lợi cho nông nghiệp và mùa thu hoạch trà và mùa gieo trồng ngũ cốc lại chồng lên nhau. Và vì lợi tức từ trà khá lớn, nông dân sống ở các đồi trà phải cống nạp trà cho vua như một hình thức nộp thuế. Do vậy, thu hoạch và chế biến trà là lý do chính khiến cho lượng lương thực trồng hàng năm bị giảm. Vào thời kỳ Cao Ly, đã có hàng trăm kiến nghị của các lãnh chúa và học giả về chuyện này, ví dụ như của Lý Tề Hiền (Lee Je-hyun- 이제현|) hay của Lý Khuê Báo (Lee Gyu-bo- 이규보). Cuối cùng thì, vào cuối thời Cao Ly, theo như những gì viết trong "YuDuRyuRok(유두유록, 遊頭流錄)", nông dân đã đốt phá các đồi trà để phản đối việc nộp thuế bằng trà. Sau này, dưới triều đại Triều Tiên, đặt nền tảng trên Nho Giáo, viện Tabang vẫn được giữ lại nhưng khối lượng trà sản xuất đã bị hạn chế để bảo đảm cân đối sản phẩm nông nghiệp. Vì lý do này, sự phát triển của ngành sản xuất trà đã bị ngưng trệ trong một thời gian dài. Trừ hoàng gia và tầng lớp Lưỡng ban, văn hóa và nghi thức thưởng trà vẫn chỉ đóng khung ở các khu vực quanh các đồi trà.[6]

Tuy nhiên, vào giữa thời nhà Triều Tiên, dù lượng trà được thưởng thức đã giảm, nhưng các nghi lễ trễ lại đi ngược lại xu hướng này. Theo lời kể lại, thì tướng nhà Minh, Yang Hao, đã tâu với vua Triều Tiên Tuyên Tổ (Seonjo, 1567-1608) rằng suốt thời kỳ bị Nhật Bản chiếm đóng, ông đã phát hiện ra nhiều loại trà chất lượng cao ở Triều Tiên, và "nếu như Hoàng thượng muốn bán trà cho Liêu Đông, người sẽ được hưởng a đồng bạc cho 10 pound trà. Với tất cả số tiền này, người sẽ đủ bạc để nuôi 1 vạn con ngựa". Tuy nhiên, vua đã đáp lại: "Ở nước chúng tôi không có phong tục uống trà".[7]

Đến cuối đời nhà Triều Tiên, xu thế uống trà đã lan đến dân chúng, họ dùng trà cho các ngày lễ liên quan dâng cúng tổ tiên. Nhiều trí thức theo phong trào "học thật" như Đinh Nhược Dong (Jeong_Yak-yong) hay Kim Chánh Hỉ (Kim_Jeong-hui), đã quan tâm đến trà và việc sản xuất trà khi đang bị lưu đày đến sống ở các đồi trà. Họ đã đối ẩm với các nhà sư, những người vẫn gìn giữ văn hóa thưởng trà. Bắt đầu từ thời kỳ Tân LaCao Ly, các nhà sư đã trồng các đồi trà quanh chùa và truyền lại cho đời sau. Và các nghi lễ trà đạo Phật Giáo đã được phát triển trong các ngôi chùa cổ. Và văn hóa này đã ảnh hưởng lên cộng đồng trí thức luôn giữ lễ giáo seonbi và cả các nhà sư đương thời.[6]

Trà cụ[sửa | sửa mã nguồn]

Gốm trà

Tùy vào mùa mà việc dùng trà cụ bằng gốm hay kim loại trong trà đạo Triều Tiên sẽ thay đổi khác nhau. Các truyền thống tôn giáo cũng ảnh hưởng lên chuyện này. Các vật dụng bằng đá rất phổ biến, gốm (từ các lò nung địa phương) được dùng thường xuyên, đồ sứ rất hiếm khi dùng, còn đồ sứ hoàng gia có khắc hình rồng thì lại càng hiếm.

Vào thời đại xa xưa, hình dạng của tách và chén trà rất đơn giản, chỉ phân biệt nhau do sự khác biệt tôn giáo. Màu xanh ngọc ("punchong", 粉, 靑), hoặc các trà cụ đã rỉ đồng qua bao sương gió được các nhà sư dùng trong các nghi lễ trà của họ, màu trắng tinh khiết với những hoa văn chìm trên sứ là dành cho các nhà nho, đồ sứ thô và đồ gốm bằng đá tráng men màu tro dành cho những nghi lễ vật linh hay dành để xuất sang Nhật Bản với tên gọi "gohan chawan". Vẻ đẹp của sự xù xì thô ráp của hỗn hợp cát và đất sét có tráng thêm chút men được đánh giá cao và được nhân rộng. Việc phát minh ra vẻ đẹp này một cách ngẫu nhiên được các trà sư mô tả là "khoảnh khắc hiện thực" quý giá.

Lớp tráng men có nhiều thành phần cấu tạo khiến cho màu của nó có thể biến sắc tùy theo ánh sáng hoặc mùa. Loại đất sét thường dùng thường là loại có màu sáng, trong đó loại đất sét xanh ngọc có giá cao.

Cádc lớp tráng men có thể làm cho giống nhiều loại vật liệu khác: từ tre đến đá cuội ở các dòng sông, thân cây, da người, có cả các loại men quý và hiếm có hình dạng giống mắt hổ, quả đào, lớp tuyết chảy hoặc đồ sứ trắng được khắc ăn mòn. Do đó, chúng có thể gợi nhớ đến các mùa, các câu thơ, bài viết hoặc là những giây phút tĩnh lặng.

Loại ấm tráng men rất đa dạng. Loại truyền thống vẫn giữ được vị trí quan trọng và lượng xuất khẩu sang Nhật vẫn rất lượng kể từ thế kỷ 16. Các nghệ nhân gốm Triều Tiên như hai anh em Yi Sukkwang (이숙황) và Yi Kyeong (이경-), đã bản địa hóa các phong cách nước ngoài thành phong cách "Hagi". Các gia đình nghệ nhân và các lò nung địa phương cung cấp các loại đồ tráng men mang các đặc điểm tốt nhất của loại đồ dùng thuộc thời kỳ giữa nhà Triều Tiên. (Joseon jagi).

Các dụng cụ cho lễ trà mùa hè gồm chén trà "katade" cao 5 và rộng 12. Kích cỡ này tạo ra bề mặt lớn nhất để nước trà đang sôi có thể nguội nhanh chóng. Nước nóng được đổ vào chén, để một lát cho nguội, rồi đổ vào ấm trà. Sở dĩ phải làm nguội nước một chút vì nước nóng mà đổ lên lá trà sẽ làm tan rất nhiều chất đắng khiến cho chén trà có vị đắng. Trà sau đó sẽ được đổ vào các chén trà nhỏ trong cùng một bộ trà bằng hai tay, đậy nắp lại, đặt trên miếng gỗ xù xì hoặc mặt bàn sơn mài. Khi thưởng thức, ẩm khách sẽ mở hé nắp chén trà để che miệng lại. Trà được uống khi nguội.

Các dụng cụ cho lễ trà mùa thu đông gồm có các chén trà cao và nhỏ hơn, ví dụ như của phong cách "irabo", loại chén có thể chịu và giữ được sức nóng. Typically of spiral construction, shallow, with a high rim. Once again tea made within that bowl would then be poured into heated teapots, and poured centered over a smaller matching cup with cover. Tea would be taken hot. And once again repeatedly poured in small spurts from cup to cup so as to prevent flavour concentrated in one cup.

Unlike the Chinese tradition, no Korean tea vessels used in the ceremony are tested for a fine musical note. Judgment instead is based on naturalness in form, emotion, and colouring.

Cách tiếp cận tự nhiên về trà[sửa | sửa mã nguồn]

Một không gian trà đạo Triều Tiên điển hình, không cần chú ý đến những chi tiết hiện đại như mái ngói, sàn trải giấy.

Ý niệm trung tâm của quan điểm Triều Tiên về trà đó là sự kết hợp giữa giản dị và tự nhiên, với ít nghi thức, các quy tắc chặt chẽ, mà để ngỏ cho sự linh hoạt, sáng tạo hơn để có thể thưởng thức nhiều loại trà, nhiều cách pha chế và mang tinh thần đối thoại rộng mở hơn.

Điều này dẫn đến nhiều biến thể về thiết kế trà thất, vườn trà, nhiều cách sử dụng trà cụ theo nhiều phong cách và việc lựa chọn loại trà, loại bánh ăn kèm cũng thay đổi tùy theo vùng miền, theo mùa và theo không gian xung quanh.

Tea storage containers were often large - being made of clay coils, finished on potter's wheels, and 3/4 glazed from within the kiln itself as wood burned. Natural green ash glazes were typical. A wood scoop with a long handle often a split bamboo with a scoop end would be used to retrieve the tea.

Thường thì nguồn nước tốt nhất ở địa phương sẽ được dùng để pha trà, và nhiều trà thất tốt nhất Triều Tiên còn chọn lấy nước từ một con suối riêng. Nước được đun sôi trên bếp gỗ, đổ vào ấm và uống nóng.

Trà nô rót trà vào ấm đã được tráng nước nóng từ một ấm trà, trà nô sẽ rót cao lên phía trên để tạo bọt. Làm điều này được tin là sẽ đem lại may mắn.

Trà đạo thường được tổ chức vào những dịp quan trọng như sinh nhật, kỷ niệm, tưởng nhớ bạn cũ, và ngày nay là xu hướng khám phá lại sự an vui của tinh thần thiền seon.

Dù trà Triều Tiên thường có màu nước xanh, nhưng thường rất hiếm gặp các lá trà nhỏ trong tách.

Có một cách pha trà theo lối hiện đại: khách và trà sư ngồi quanh một cái bàn thấp. Trà sư hay chủ ngồi ở một bên và sẽ làm nóng và làm sạch trà cụ liên tục suốt buổi thưởng trà. Họ thường để trà cụ trên bàn quanh năm suốt tháng, chỉ phủ một tấm vải lên chúng khi không dùng đến. Họ thường sở hữu một bộ sưu tập gồm nhiều ấm trà với các tách trà có nhiều hình dáng và màu sắc khác nhau. Lễ trà sẽ bắt đầu khi tất cả khách đã an tọa quanh bàn và khi nước đã nóng, gia chủ sẽ khởi đầu cuộc trò chuyện, thường là bằng các câu hỏi thông thường như về tình hình gia đình của khách.

Các loại trà[sửa | sửa mã nguồn]

Loại trà sớm nhất dùng trong lễ trà Triều Tiên là các bánh trà đen lớn, loại tương tự như loại trà Phổ Nhĩ vẫn còn phổ biến ở Trung Quốc. Sự lên men của trà là một trong những yếu tố quan trọng khi chế biến, và trà để lâu, đặc biệt lại được nhập từ Trung Hoa sang sẽ rất được triều đình ưa chuộng. Tuy nhiên, chính việc nhập cây trà của các nhà sư đã mang đến Triều Tiên nhiều giống trà mới rất ngon và cả nhiều nghi thức thưởng trà.

Trong khi trà xanh, "chaksol" hay "chugno", được uống thường xuyên nhất, thì các loại trà khác như "Beoksoryung" Chunhachoon, Woojeon, Jakseol, Jookro, Okcheon, và trà hoa cúc bản địa, trà lá trái hồng hoặc trà ngải cứu được thưởng thức vào những khoảng thời gian nhất định trong năm.

Trà Triều Tiên được chia làm 5 loại có vị khác nhau: đắng, ngọt, chát, mặn và chua. Loại trà ủ lâu ngày rất hiếm và hầu hết trà dều được dùng tươi ngay khi mới hái.

Các vùng trà nổi tiếng sản xuất ra các loại trà thuộc một trong 5 vị trên: hiện tại, trà trồng trên đảo Jeju có loại trà chứa nhiều muối hơn bình thường vì được hứng các cơn gió đến từ đại dương; các vị khác được tạo thành bằng nhiều cách chế biến lá trà hay tùy vào độ cứng của nước.

Đối với các nhà sư Triều Tiên, trà đánh thức hòa, kính, thanh, tịnh. Loại trà nào khiến cho tâm tính dễ đạt tới 4 yếu tố tinh thần đó sẽ được trân trọng hơn.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Heiss, Mary Lou and Heiss, Robert J. "The Story of Tea: A Cultural History and Drinking Guide". Berkeley: Ten Speed Press, 2007 p.197-8
  2. ^ An Sonjae (Brother Anthony of Taize) and Hong Kyeong-hae "The Korean Way of Tea: An Introductory Guide" (Seoul: Seoul Selection, 2007) p.90
  3. ^ An Sonjae (Brother Anthony of Taize) and Hong Kyeong-hae "The Korean Way of Tea: An Introductory Guide" (Seoul: Seoul Selection, 2007) p.91
  4. ^ Yoo, Yang-Seok The Book of Korean Tea (Seoul: The Myung Won Cultural Foundation, 2007) p.68
  5. ^ Kang, Don-ku "Traditional Religions and Christianity in Korea" Korea Journal (Autumn, 1998) p.103
  6. ^ a ă Hwang Yun-sook, "Beautiful tea of korea" (Seoul: Korean traditional food research, 2007) p.54
  7. ^ Choi Ha-Rim "Tea Ceremony and Implements" Koreana (11)4 1997 pp.22-27

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]