Trâu rừng rậm châu Phi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trâu rừng rậm châu Phi
Syncerus caffer nanus Dvur zoo 5.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Cetartiodactyla
Họ (familia) Bovidae
Phân họ (subfamilia) Bovinae
Chi (genus) Syncerus
Loài (species) S. caffer
Phân loài (subspecies) S. caffer nanus
Danh pháp ba phần
Syncerus caffer nanus

Trâu rừng rậm châu Phi (Danh pháp khoa học: Syncerus caffer nanus) là phân loài nhỏ nhất của trâu rừng châu Phi. Nó có liên quan mật thiết đến trâu rừng châu Phi hay Trâu Cape (Syncerus caffer caffer), Trâu thảo nguyên Tây Phi (brachyceros caffer Syncerus) và Trâu thảo nguyên Trung Phi (Syncerus caffer aequinoctialis). Tuy nhiên, nó là phân loài chỉ cư trú chủ yếu ở các khu rừng nhiệt đới của miền Trung và Tây Phi với lượng mưa hàng năm khoảng 1.500 mm

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Hình dáng[sửa | sửa mã nguồn]

Trâu rừng rậm châu Phi là nhiều nhỏ hơn so với kích thước của trâu rừng châu Phi. Trâu rừng châu Phi cân năng đến 400–800 kg (880-1760 lbs), trong khi trâu rừng rậm châu Phi có trong lương nhẹ hơn nhiều, chúng chỉ cân nặng từ 250–320 kg (550-705 lbs). Trọng lượng không phải là sự khác biệt duy nhất vì phân loài này có đặc điểm hơi đỏ ẩn màu nâu đậm ở vùng da mặt. Hình dạng và kích thước của sừng trâu rừng phân biệt từ phân loài khác. Trâu rừng rậm châu Phi có sừng nhỏ hơn nhiều so với các họ hàng trên thảo nguyên của chúng như trâu Cape.

Tập tính[sửa | sửa mã nguồn]

Trâu rừng rậm châu Phi sống trong rừng mưa nhiệt đới của phương Tây và Trung Phi. Tuy nhiên, chỗ ở của chúng dao động thường bao gồm một sự kết hợp của vùng đầm lầy, thảo nguyên, và rừng nhiệt đới châu Phi ẩm ướt. Thảo nguyên là những khu vực nơi trâu gặm cỏ, trong khi các đầm lầy làm nơi tắm táp để loại bỏ các loài côn trùng ký sinh. Trâu rừng rất hiếm khi được quan sát thấy trong tán không gián đoạn của rừng (trảng cây). Chế độ ăn uống của họ chủ yếu được tạo thành từ các loại cỏ và các loại cây khác mọc ở thảo nguyên.

Trâu rừng rậm châu Phi có xu hướng sử dụng những nơi nghỉ ngơi dựa trên cồn cát trong mùa mưa, tuy vậy chúng cũng thích sử dụng đất và lá trong mùa khô. Trâu rừng rậm châu Phi sắp xếp thành đàn, giúp cho việc bảo vệ chống lại kẻ thù. Trong số các động vật ăn thịt thì báo hoa mai là loài phổ biến nhất nhưng thường chỉ là một mối đe dọa cho những con nghé và chỉ khi chúng có cơ hội.

Trâu rừng rậm châu Phi có cấu trúc đàn tương đối nhỏ so với Trâu Cape khi mà mỗi đàn trâu Cape có thể có đàn hơn một nghìn con trong khi đó trâu rừng rậm lại nhỏ hơn nhiều nhóm nhỏ như ba và hiếm khi hơn ba mươi con. Một đàn trâu rừng rậm thường bao gồm một hoặc đôi khi hai con trâu đực trưởng thành và một hậu cung của những con cái trưởng thành phục vụ cho chúng cùng với nhiều con nghé. Không giống như Trâu Cape bò trâu những trâu rừng rậm đực ở lại với đàn liên tục quanh năm.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bekhuis, Patricia D.B.M.; De Jong, Christine B. and Prins, Herbert H. T. (2008). “Diet selection and density estimates of forest buffalo in Campo-Ma'an National Park, Cameroon”. African Journal of Ecology 46 (4): 668–675. doi:10.1111/j.1365-2028.2008.00956.x. 
  • Blake, Stephen (2002). “Forest Buffalo Prefer Clearings to Closed-canopy Forest in the Primary Forest of Northern Congo”. Oryx 36 (1): 81–86. doi:10.1017/S0030605302000121. 
  • Hoek, Yntze van der, Lustenhouwer Ivo, Jefferry Kathryn J., and Hooft Pim van (2012). “Potential Effects of Prescribed Savannah Burning on the Diet Selection of Forest Buffalo (Syncerus Caffer Nanus) in Lope´ National Park, Gabon”. African Journal of Ecology 50 (3): 1–8. 
  • Korte, Lisa M (2008). “Habitat Selection at Two Spatial Scales and Diurnal Activity Patterns of Adult Female Forest Buffalo”. Journal of Mammalogy 89 (1): 115–125. doi:10.1644/06-MAMM-A-423.1. 
  • Korte, Lisa M (2008). “Variation of Group Size Among African Buffalo Herds in a Forest-savanna Mosaic Landscape”. Journal of Zoology 275 (3): 229–236. doi:10.1111/j.1469-7998.2008.00430.x. 
  • Korte, Lisa M (2009). “Herd-switching in Adult Female African Forest Buffalo Syncerus Caffer Nanus”. African Journal of Ecology 47 (1): 125–127. doi:10.1111/j.1365-2028.2008.00978.x. 
  • Melletti M., Penteriani V., and Boitani L. (2007). “Habitat Preferences of the Secretive Forest Buffalo Syncerus Caffer Nanus in Central Africa”. Journal of Zoology 271 (2): 178–186. doi:10.1111/j.1469-7998.2006.00196.x. 
  • Melletti, Mario, Penteriani Vincenzo, Mirabile Marzia, and Boitani Luigi (2007). “Some Behavioral Aspects of Forest Buffalo (Syncerus Caffer Nanus): From Herd to Individual”. Journal of Mammalogy 88 (5): 1312–1318. doi:10.1644/06-MAMM-A-240R1.1. 
  • Melletti, Mario; Penteriani, Vincenzo, Mirabile, Marzia and Boitani, Luigi (2008). “Effects of habitat and season on the grouping of forest buffalo resting places”. African Journal of Ecology 47: 121–124. doi:10.1111/j.1365-2028.2008.00965.x. 
  • Melletti, Mario, M. M. Delgado, Penteriani Vincenzo, Mirabile Marzia, and Boitani Luigi (2010). “Spatial properties of a forest buffalo herd and individual positioning as a response to environmental cues and social behaviour”. Journal of Ethology 28 (3): 421–428. doi:10.1007/s10164-009-0199-z.