Trình (họ)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Trình là một họ của người châu Á. Họ này có mặt ở Việt Nam, Trung Quốc (Hán tự: 程, Bính âm: Cheng) và Triều Tiên (Hangul: 정, Romaja quốc ngữ: Jeong). Trong danh sách Bách gia tính họ này chỉ đứng thứ 133 nhưng người mang họ Trình đông thứ 33 ở Trung Quốc theo thống kê năm 2006. Vua XiêmTaksin vốn cũng là một người gốc Hoa mang họ Trình, tên gốc của ông là Trình Quốc Anh. Ở Việt Nam, họ Trần có thời gian phải đổi sang họ Trình vì lí do lịch sử.[1]

Phả hệ họ Trình ở Việt Nam:

Tài liệu: "Đinh Triều Trung thần TrìnhTướng công phả lục" ghi rằng vào thời Tam Quốc phân tranh Ông Trình Đức Khư làm mưu sĩ dưới trướng Tôn Quyền Thời Nhà Đông Ngô. Ông Trình Đạo là cháu đời thứ 5 của ông của Ông Trình Đức Khư tránh loạn và sang Đại Việt sau đó định cư và lấy bà Trần Thị Lan người Trang Trung Lập Phủ Lôi Dương đạo Hải Dương.(Theo chúng tôi Lôi Dương lúc đó thuộc Phủ Thiệu Thiên nay là huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa).Người cháu nội là Ông Trình Đạt lấy bà Đặng Thị Huy người Trang Trung Lậplà người rất hiếu kính được khen là Hiền phụ. Một hôm bà nằm mộng thấy một người con trai tay trái ôm mặt trời, tay phải ôm Mặt Trăng từ trên trời giáng xuống bảo bà rằng: "Ta là Đồng tử ở Thượng giới, vâng mệnh xuống làm con nhà bà" nói rồi chui vào bụng. Bà Đặng Thị Huy vừa mừng vừa no Bà nói lại với ông Trình Đạt về giấc mơ. Sau đó bà mang thai. Đến ngày 7 tháng 1 năm sau bà sinh ra một người con trai có khuôn mặt tròn trĩnh khôi ngô tuấn tú, vóc dáng cao lớn lạ thường ông bà nhớ lại giấc mơ Ông Trình Đạt nói: "Như vậy Mặt Trăng và mặt trời đều chiếu sáng nếu ghép vào nhau sẽ thành chữ Minh" và đặt tên cho con là Minh gọi là Trình Minh. Năm 14 tuổi Trình Minh theo học Hoàng Tiên Sinh. Văn chương hơn hẳn mọi người, tinh thông võ nghệ được bạn bè kính phục khen là Thần Đồng. Năm 20 tuổi Ông Trình Đạt và bà Đặng Thị Huy theo nhau mà từ trần. Lúc ấy là loạn 12 sứ quân, Trình Minh tránh loạn và cư trú ở vùng Nga Tống.Ở trong Trang Thạch Lỗi có một khu đất mới lập hoang sơ ông đã khai phá thành trang trại lấy tên là Xuyết Khu,ở đó chỉ có vài nhà Họ Mai mà thôi.Ông kết nghĩa thâm giao với họ Mai để lập nghiệp,dạy học, dạy cách nuôi trồng và được mọi người quí trọng. Ông Trình Minh là người tinh thông mưu lược. Khi nghe tin Đinh Bộ Lĩnh khởi binh ở Động Hoa Lư, ông cùng nhân dân Xuyết khu đến yêt kiến Đinh Bộ Lĩnhvà được cử làm Mưu sĩ kiêm việc Đổng Nhung coi sóc việc quân cơ ở ngoài và đem quân đi dẹp loạn. Bình định được 12 sứ quân, năm Mậu Thìn 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, tự xưng là Đại Thắng Minh Hoàng đế. Xét công lao nhà Vua phong cho ông làm Minh Tự Khanh cho huyện Nga Sơn làm thực ấp. Ông lập nhiều công lớn như cứu Thái Tử con vua Đinh Tiên Hoàng. Nhưng do Triều đình nhà Đinh lúc bấy giờ có nhiều loạn thần Ông Trình Minh khuyên can không được từ quan dời về quê sinh sống tại Huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hoá ngày nay. Nhiều lần triều đình có mời Ông về giúp Triều chính nhưng ông nhất định không nghe. Ông sinh hạ được 3 người con trai và một người con gái đó là: Thế Chân, Thế Thành, Thế Yên, Thị Duyệt và con nuôi là Bùi Lới. Ông tạ thế ngày 10 tháng 3 âm lịch hưởng thọ 74 tuổi. Nhân dân trong vùng nhận thấy công lao to lớn của ông đã lập đền thờ tôn ông là Thành Hoàng. Đền thờ Tướng công Trình Minh trên một quả đồi ở Thôn Ngọc Chuế,xã Hà Châu, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá đã được nhà nước công nhận di tích lịch sử quốc gia. Tại đây hàng năm Ban liên lạc tộc họ toàn quốc tổ chức giỗ tổ họ Trình vào ngày 10-3 AL.

Người Việt Nam họ Trình nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trình Thuấn Du: (1402-1481), hiệu Mật Liêu, người xã Tân Đội, huyện Duy Tân, nay thuộc xã Đọi Sơn huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam.ông từng thi đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ) đời nhà Trần; niên hiệu Thuận Thiên thứ 2(1429) đời vua Lê Thái Tổ ông lại ra thi khoa Minh kinh tại hành cung Bồ Đề và đỗ thứ hai (sau Triệu Thái, trước Phan Phu Tiên). Trải làm quan đến chức Tuyên Lực Đại phu, Nhập nội Hành khiển, Học sĩ Hàn lâm viện Thừa chỉ,Tri tam quán sự kiêm Khu mật viện sự,Nhập thị kinh diên.Cùng với Nguyễn Trãi,ông được cửlàm chức Thiếu bảo và Hữu bật vào cung dạy học cho vua Lê Thái Tông.

Ông có tiếng là một danh sĩ uyên bác, tiếng tăm ngang với Lý Tử Tấn, nhưng tác phẩm của ông còn lại rất ít, nổi tiếng có bài "Hạ tiệp" (Mừng thắng trận) và bài "Chí Linh sơn phú" (Phú núi Chí Linh, được chép trong "Quần hiền phú tập").

Hạ Tiệp (Phiên âm Hán-Việt):

Thân thuộc cao cung kiến viễn chinh, Mạn yên chướng vũ bất quan tình. Thiên quân bích lũy thu sương túc, Vạn lý quan sơn dạ nguyệt minh. Bắc ngữ tích văn khoan thánh cổ, Tứ thời kim dĩ ỷ trường thành. Thánh triều tráng sĩ đa dư lực, Hảo bả ngân hà tẩy giáp binh.

Dịch nghĩa:

Mừng thắng trận

Thân đã khổ về việc giương cung đi chinh chiến xa, Mưa rừng, khí núi, vẫn không nao núng tấm lòng. Hàng nghìn quân rong ruổi, lớp lớp dưới sương thu đượm, Muôn dặm nơi ải xa, trăng vẫn dõi sáng. Biên giới phía Bắc được yên, nhờ nhà vua có lòng khoan dung, Bốn mùa từ nay vô sự vì đã có trường thành vững chắc. Dưới triều vua ta, tráng sĩ còn dư sức, Nguyện kéo ngân hà xuống, múc nước để rửa giáp binh.

Năm 1433 ông được cử đi sứ nhà Minh. Năm Nhâm Tuất Đại Bảo thứ 3(1442)mở khoa thi tiến sĩ,số thí sinh ứng thí 450 người, qua thi Hội lấy trúng cách 33 người. Vào thi Đình, vua ngự ở điện Hội Anh, đích thân ra đề thi văn sách. Ban giám khảo (gọi là Độc quyển) gồm các vị Hàn lâm viện học sĩ Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân, Trình Thuấn Du, Lý Tử Tấn cùng hầu vua chấm bài. Vua đích thân cầm bài duyệt lại rồi quyết định thứ bậc cao thấp: Ba vị Tam khôi là Trạng nguyên Nguyễn Trực, Bảng nhãn Nguyễn Như Đỗ và Thám hoa Lương Như Hộc v.v...Vua định lệ khắc tên các tiến sĩ vào bia đá.

Khoa thi Mậu Thìn niên hiệu Thái Hòa thứ 6(1448), Mùa thu, ngày 23 tháng 8, vua Lê Nhân Tông ngự điện Tập Hiền, đích thân ra đề văn sách,ông tiếp tục được chỉ định làm Độc quyển (Giám khảo).

  • Trình Hiển: Người huyện Cổ hoằng nay thuộc tỉnh thái Nguyên.

Ông thi đỗ khoa Minh Kinh năm Kỷ Dậu niên hiệu Thuận Thiên thứ 2 (1429) đời Lê Thái Tổ. Làm quan đến chức Thị Ngự Sử, từng được cử đi sứ nhà Minh.

  • Trình Thanh, tự Trực Khanh, hiệu Trúc Khê, đỗ khoa Hoành từ năm Tân Hợi 1431, niên hiệu Thuận Thiên thứ tư đời Lê Thái Tổ. Ông nguyên họ Hoàng, người gốc ở huyện Ứng Hòa chuyển cư đến Đa Sĩ, sau đổi họ Trần, rồi lại đổi họ Trình. Trình Thanh làm quan đến chức Nội mật viện chánh chưởng Hàn lâm viện, Hữu thị lang trung, Tham tri... Ông là một tác gia nổi tiếng đương thời, để lại cho đời 20 bài thơ trong sách Toàn Việt thi lục.
  • Trình Chí Sâm: Người Khúc Phố, Vĩnh Xương(nay là quận ba Đình-Hà Nội),trú quán thôn Từ Hồ, Đông Yên(nay thuộc thôn Từ Hồ, xã Yên Phú, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên).Ông thi đỗ Tiến sĩ năm Đinh mùi (1487), Vua Lê Thánh Tông đã sai Thân Nhân Trung soạn bi ký khắc tên ông và các vị Tiến sĩ đồng khoa vào bia(bia số 8) ở Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Ngoài ra tên của ông còn được lưu danh trong Văn miếu Bắc Ninh và Hưng Yên.Ông trải qua làm quan triều Lê đến chức Thượng thư Bộ Công, Chưởng Lục bộ kiêm Đông các Đại học sĩ, được phong tước Từ Hồ Bá.
  • Trình Minh Thế, thủ lĩnh quân sự trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
  • Trình Văn Thống, Thiếu tướng - Cục trưởng Cục An ninh Tây Nguyên của Việt Nam

Người Trung Quốc họ Trình nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trình Phổ{không rõ năm sinh và năm mất }, tự là Đức Mưu người ở Thổ Ngân, Tả Bắc Hà {Nay thuộc Phụng Nhuận, Hà Bắc, Trung Quốc.

Sinh ra ở thời Tam Quốc, Trình Phổ theo Tôn Kiên, sau đó là Tôn Sách đánh dẹp các nơi, dự nhiều trận chiến lớn. Khi Tôn Sách qua đời, Trình Phổ cùng Trương Chiêu phò tá em Sách là Tôn Quyền. Năm 208, Tào Tháo mang trăm vạn quân đánh chiếm Kinh châu rồi tiến sang Giang Đông. Trình Phổ lĩnh chức Hữu đô đốc, cùng Chu Du lĩnh 3 vạn quân ra kháng cự, đại phá quân Tào ở trận Xích Bích. Năm 210, Chu Du mất, Trình Phổ thay Chu Du lĩnh chức Thái thú Nam Dương sau được thăng làm Đãng khấu tướng quân kiêm chức thái thú Linh Lăng.

  • Trình Dục,tự Trọng Đức (141 - 220) là một quân sư của Tào Tháo trong thời kỳ Tam Quốc của lịch sử Trung Quốc.
  • Trình Giảo Kim, (589-665) tự Tri Tiết, là một danh tướng, khai quốc công thần nhà Đường,từng lập nhiều chiến công hiển hách và được phong làm Lỗ quốc Công. Năm Trinh Quán thứ 17, Đường Thái Tông ra lệnh cho họa sĩ Diêm Lập Bản vẽ tranh chân dung của ông cùng với 23 vị công thần khác vào bức họa lấy tên là "Nhị thập tứ công thần đồ ", treo tại Lăng Yên Các nhằm tưởng nhớ công lao của những người đã góp công lớn xây dựng nên cơ nghiệp nhà Đường thuở ban sơ.
  • Trình Quốc Anh, vua nước Xiêm
  • Nhị Trình: Hai anh em Trình HạoTrình Di, triết gia thời Bắc Tống học trò của Chu Đôn Di.
  • Trình Bằng Phi, viên tướng chỉ huy kỵ binh nhà Nguyên trong cuộc chiến tranh với Đại Việt
  • Trình Tiềm, tướng lĩnh quân đội Quốc Dân Đảng Trung Quốc, Tỉnh trưởng Hà Nam (Trung Quốc) thời Trung Hoa Dân Quốc
  • Trình Tiểu Đông, là một nhà làm phim của điện ảnh Hồng Kông

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nguyễn Mậu Hùng. “Những lần đổi họ lớn trong lịch sử Việt Nam cổ trung đại (Số 3(105)/2006)”. Hội dân tộc học Việt Nam. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2008.