Trí tuệ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Trí tuệ thực sự không thể được định nghĩa rõ ràng, nó là sự tổng hợp của rất nhiều khái niệm khác nhau như: trí thông minh, kiến thức, sự hiểu biết về con người, sự khiêm tốn, kinh nghiệm luận lý, văn hóa, hòa nhập, sự cởi mở, kỹ năng giải quyết vấn đề và phán xét.

Khái niệm[sửa | sửa mã nguồn]

Trí tuệ là danh từ chỉ thành quả của ba quá trình: học tập, quan sát và suy nghĩ. Trí tuệ hiểu theo cách này thì trí tuệ chỉ là một đơn vị đo mức độ tích lũy. Theo cách hiểu thông thường, người ta thường nhầm hiểu người có trí tuệ là người có óc phán đoán tốt, có khả năng quan sát tường tận tỉ mỉ, và có một tinh thần bình thường. Đây là cách hiểu trí tuệ theo nghĩa tính từ và mang nhiều ý nghĩa chủ quan, sai lạc. Trí tuệ có cao, thấp. Tư duy là biểu hiện của trí tuệ. nó phải được lý giải, nắm bắt mà dung hợp, quán thông, trên cơ sở đề ra vấn đề và đưa ra nhiều vấn đề mới có thể đạt được.[1]

Trí tuệ có thể quyết định nhiều loại năng lực khác. Nó cho phép con người khả năng hiểu biết sâu sắc và lý giải chính mình, vật chất, xã hội, vũ trụ, hiện tại, quá khứ, tương lai, tư duy.

Khác với trí tuệ, sự khôn ngoan cho phép con người để đưa ra quyết định dẫn đến thành công. Khôn ngoan biết đến như là một trí giả (từ Hán-Việt, ý chỉ một người rất thông minh). Ngoài ra Trí thông minh nhân tạo là vô cùng khó khăn, cũng là mục tiêu cuối cùng của robot, nhưng có lẽ không bao giờ có thể đạt được.[cần dẫn nguồn] Vì trí tuệ của con người luôn luôn phát triển và ý tưởng sâu xa và không bao giờ dẫn đến sự cạn kiệt nếu người đó không chịu suy nghĩ.

Trí tuệ Do Thái[sửa | sửa mã nguồn]

Trí tuệ là thành quả của một quá trình học tập tri thức. Người Do Thái coi học tập là nghĩa vụ, xem giáo dục là "tôn kính thần thánh". Họ cho rằng, tri thức là do rèn luyện trí tuệ mà tồn tại, mà học tập và rèn luyện tâm tính và tư duy của con người. Chỉ có không ngừng học tập mới có thể khiến cho con người không ngừng hoàn thiện, đổi mới. Trí tuệ cũng bắt nguồn từ kinh nghiệm thực tiễn. Nhưng do hạn chế thời gian, không gian và bản thân mà không thể cái gì cũng tự mình trải nghiệm, mà phần nhiều học hỏi kinh nghiệm từ người khác. Sách vở chính là công cụ chủ yếu của tri thức, nó là tri thức mới, tin tức và kỹ thuật mới, nó làm phong phú óc đổi mới và tư duy. Vì vậy, người Do Thái nhấn mạnh học tập là điều kiện tự nhiên để tăng thêm trí tuệ.[2]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Do Thái trí tuệ toàn thư, Long Đang tổng hợp và biên dịch, NXB thời đại, 2010, tr. 240
  2. ^ Do Thái trí tuệ toàn thư, Long Đan dịch, NXB Thời Đại, 2010, tr. 238