Trương Kỷ Trung

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trương Kỷ Trung
张纪中
Zhangjizhong.jpg
Trương Kỷ Trung năm 2005
Sinh 23 tháng 5, 1959 (55 tuổi)
Trung Quốc
Tên khác "Gấu"
Nghề nghiệp Đạo diễn, diễn viên, nhà sản xuất, nhà giáo, tác giả.
Hoạt động 1981

Trương Kỷ Trung (chữ Hán: 张纪中, bính âm: Zhāng Jìzhōng, sinh năm 1951) là một đạo diễn, diễn viên, nhà sản xuất, nhà giáo, tác giả nổi tiếng người Trung Quốc.

Cuộc đời và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Tài bất phùng thời[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 23 tháng 5 năm 1951 tại Bắc Kinh, Trung Quốc. Thân phụ ông thời trẻ là một thương gia, từng cộng tác Quốc Dân Đảng. Tuy nhiên, Trương lại sinh ra và lớn lên khi Hoa lục hoàn toàn nằm dưới quyền kiểm soát của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Vì thế, quá khứ của cha ông đã ảnh hưởng không ít đến cuộc đời và sự nghiệp của ông.

Tài năng của Trương được biểu lộ rất sớm. Năm 1962, được sự khuyến khích của thầy cô, Trương tham gia thi vào khoa vũ đạo trường Nghệ thuật Giải phóng quân. Tuy dễ dàng vượt qua các vòng thi năng khiếu, vấn đáp, nhưng cuối cùng Trương lại bị đánh hỏng vì quá khứ của cha mình. Điều này vẫn tiếp tục tác động đến Trương sau này.

Năm 1968, khi Cách mạng Văn hóa vừa đi những bước đầu, một phong trào "Tiến về nông thôn" được phát động, huy động hàng trăm ngàn trí thức trẻ sống ở các thành phố đi về các vùng nông thôn để sống, lao động và học hỏi kinh nghiệm của những người công nhân và nông dân. Trương, cũng như nhiều sinh viên học sinh khác bấy giờ, hăng hái tham gia, nhưng không một nơi nào chịu nhận người có quá khứ "tư bản phản động" như ông. Trương lặng lẽ trở về Bắc Kinh, nhẫn nhịn chịu đựng cơn bão "Văn hóa" đang càn quét khắp Trung Hoa.

Năm 1972, Trương một lần nữa thử vận may, đăng ký tham gia thi vào Học viện nghệ thuật trung ương. Một lần nữa, các vòng thi vẫn không phải là vấn đề. Nhà trường vẫn không muốn dung nạp "phần tử đen", "kẻ thù của nhân dân" Trương Kỷ Trung. Quá chán nản, Trương đành rời Bắc Kinh, xin được "cải phóng", đến một khu mỏ than ở Sơn Tây, làm công nhân, sau đó được phân công làm giáo viên dạy môn lịch sử.

Khởi nghiệp diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Rất may mắn cho Trương, khu mỏ than nơi ông công tác có tổ chức một đoàn văn nghệ nghiệp dư, thường xuyên biểu diễn cho các công nhân. Trương tích cực tham gia phong trào văn nghệ và nhanh chóng trở thành một trong những thành viên chủ lực của đoàn. Không lâu sau, ông còn được cử đến đoàn kịch nói Sơn Tây để học thêm về diễn xuất.

Bấy giờ, cuộc Cách mạng Văn hóa đã đi vào hồi kết. Thời gian học tập tại Đoàn kịch nói Sơn Tây, Trương đã gặp Tôn Đạo Lâm, một diễn viên và là thành viên lãnh đạo của đoàn. Nhận ra tài năng của Trương, Tôn khuyến khích Trương thi tuyển làm diễn viên chính thức. Năm 1978, Trương chính thức rời mỏ than để trở thành diễn viên kịch nói. Khi đó, Trương đã 27 tuổi.

Với khả năng diễn xuất và ngoại hình tốt, từ một vai diễn nhỏ trong vở kịch "Tây An sự biến", chỉ vỏn vẹn 8 câu thoại (141 từ), Trương nhanh chóng trở thành diễn viên nam chính của Đoàn kịch nói Sơn Tây. Chưa đầy 1 năm sau, Trương được mời tham gia đóng phim tại Thượng Hải với vai nam chính trong bộ phim "Thời thanh niên của chúng tôi". Từ đó, Trương bắt đầu bước vào lĩnh vực điện ảnh.

Trước sau, Trương tham gia vai chính trong 5 bộ phim, trong đó có "Vũ luyến" và "Đài đảo di hận" thu hút được nhiều sự chú ý của khán giả. Thời gian chủ yếu, ông vẫn tiếp tục là một trong những diễn viên kịch nói chủ lực của Đoàn kịch nói Sơn Tây.

Tài năng nở rộ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1983, Đài truyền hình Sơn Tây khởi quay bộ phim "Dương gia tướng", do Trương Thiệu Lâm làm đạo diễn. Trương Kỷ Trung được mời đóng vai Dương Diên Chiêu. Từ mối quan hệ khởi đầu này, đã hình thành bước thay đổi lớn trong sự nghiệp của Trương Kỷ Trung cũng như mối quan hệ lâu dài của hai người họ Trương.

Năm 1989, Trương cùng đạo diễn Trương Thiệu Lâm hợp tác quay bộ phim "Trăm năm hoạn nạn". Đây là lần đầu tiên Trương tham gia với vai trò nhà sản xuất. Bộ phim đã giành được sự quan tâm của công chúng và đã đoạt giải thưởng "Năm một công trình". Tiếp tục thành công, hai Trương cho ra đời các bộ phim "Có 1 cảnh dân như thế" (1989), "Người tốt Yến Tư Khiêm" (1990). Cả 2 bộ phim này đều đoạt giải thưởng "Phim truyện hay nhất" tại các cuộc liên hoan phim truyền hình "Phi thiên".

Năm 1992, hai Trương xin hợp tác với Đài truyền hình trung ương Trung Quốc quay bộ phim Tam Quốc Diễn Nghĩa. Dù ban đầu bị từ chối, nhưng cuối cùng hai Trương lại được mời đảm nhận chế tác 13 tập. Đây cũng là 13 tập có độ khó cao với những cảnh quay ngoại cảnh chiến trận quy mô, hoành tráng. Tuy nhiên, sự thành công vượt bậc của 13 tập phim do hai Trương sản xuất đã đưa danh tiếng Trương Kỷ Trung vang dội trong giới làm phim Trung Quốc. Năm 1994, hai Trương được mời tham gia sản xuất phim Thủy hử và một lần nữa thành công.

Năm 1999, Trương bắt tay vào sản xuất phim kiếm hiệp Kim Dung. Lần lượt các xuất phẩm "Tiếu ngạo giang hồ" (2001), "Anh hùng xạ điêu", "Thiên Long bát bộ" (2003), "Thần điêu hiệp lữ" (2006), "Bích Huyết Kiếm" (2007), "Lộc Đỉnh ký" (2008), "Ỷ Thiên Đồ Long ký" (2009) ra đời, được người xem đón nhận.
Cùng năm 2008 ông chuyển sang sản xuất bộ phim kiếm hiệp Đại Đường du hiệp truyện dựa theo tác phẩm cùng tên của Lương Vũ Sinh

Năm 2009, Trương bắt tay vào sản xuất một danh tác khác của Trung Quốc: Tây du ký. Trước Trương, rất nhiều đạo diễn và diễn viên đã thành công với tác phẩm này, đặc biệt là sự thành công của bộ phim Tây du ký (phim truyền hình 1986). Dự kiến sẽ ra mắt khán giả vào cuối năm 2011, bộ phim Tây du ký (phim truyền hình 2011) của Trương được chờ đợi có thể là một tượng đài mới khả dĩ so sánh được với Tây du ký (phim truyền hình 1986).

Các phim đã tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Điện ảnh
Năm Tên tiếng Việt Tên tiếng Anh Tên tiếng Trung
1981 Vũ luyến Wulian 舞戀
1982 Đài đảo di hận Taiwan Yihen 台灣遺恨
Truyền hình
Năm Tên tiếng Việt Tên tiếng Anh Tên tiếng Trung Chức vụ &Vai diễn (nếu có) Ghi chú
1983 Dương gia tướng Yangjia Jiang 楊家將 Dương Diên Chiêu
1989 Trăm năm hoạn nạn One Hundred Years of Suffering 百年憂患 Nhà sản xuất Giải thưởng "5 nhất"
Có 1 cảnh dân như thế The People's Policeman 有這樣一個民警 Nhà sản xuất Giải thưởng "Phi thiên"
1990 Người tốt Yên Tư Khiêm Good Man Yan Juqian 好人燕居謙 Nhà sản xuất Giải thưởng "Phi thiên", "5 nhất"
Đội trưởng hình cảnh Vice Squad General 刑警隊張 Nhà sản xuất
1995 Câu lý nhân Trench People 溝里人 Nhà sản xuất Giải thưởng "Phi thiên", "5 nhất"
Tam Quốc Diễn Nghĩa Romance of the Three Kingdoms 三國演義 Nhà sản xuất Giải thưởng "Phi thiên", "5 nhất", "Kim ưng"
1997 Thủy hử The Water Margin 水滸傳 Thôi Tĩnh
Nhà sản xuất
Giải thưởng "Phi thiên", "5 nhất", "Kim ưng"
1999 Lam sắc yêu cơ Blue Enchantress 藍色妖姬 Nhà sản xuất
2001 Tiếu ngạo giang hồ Laughing in the Wind 笑傲江湖 Vương Nguyên Bá
Nhà sản xuất
2002 Thanh Y Qing Yi 青衣 Huzi
Nhà sản xuất
Giải thưởng "Phi thiên"
Quan Tây vô cực đao Knife of Guanxi 關西無極刀 Vua nước KaoLan
2003 Anh hùng xạ điêu The Legend of the Condor Heroes 射鵰英雄傳 Vương Trùng Dương
Nhà sản xuất
Thiên Long bát bộ Demi-Gods and Semi-Devils 天龍八部 Uông Kiếm Thông
Nhà sản xuất
Giải thưởng "Kim ưng"
Kích tình đốt cháy năm tháng Day of Passion and Spirit 激情燃燒的歲月 Nhà sản xuất Giải thưởng "Phi thiên", "5 nhất", "Kim ưng"
2004 Vĩnh Lạc anh hùng truyện Heroes Forever 永樂英雄兒女 Nhà sản xuất
Dân công Farmer Laborer 民工 Nhà sản xuất
Tuyệt đại song kiều The Proud Twins 小魚兒與花無缺 Old Hongye
2006 Thần điêu hiệp lữ The Return of the Condor Heroes]] 神鵰俠侶 Gia Luật Sở Tài
Nhà sản xuất
Giải thưởng "Tom Online", "Chinese TV Drama"
Lã Lương anh hùng truyện Heroes on Lüliang Mountain 呂梁英雄傳 Nhà sản xuất Giải thưởng "5 nhất", "Kim ưng"
A bảo đích cố sự Abao De Gushi 阿寶的故事 Nhà sản xuất
2007 Bích Huyết Kiếm Sword Stained with Royal Blood 碧血劍 Mạnh Bá Phi
Nhà sản xuất
2008 Lộc Đỉnh ký Royal Tramp 鹿鼎記 Nhà sản xuất Giải thưởng "XTEP and Tencent 2008"
Binh pháp Tôn Tử Bing Sheng 兵聖 Nhà sản xuất
Đại Đường du hiệp truyện Paladins in Troubled Times 大唐游俠傳 Nhà sản xuất
2009 Ỷ Thiên Đồ Long ký Dragon Saber YiTian 倚天屠龍記 Nhà sản xuất
Nima De Xiatian 尼瑪的夏天 Nhà sản xuất
2010 Zuichu De Mengxiang 最初的夢想 Nhà sản xuất
2011 Tây du ký Journey to the West 西遊記 Thái thượng lão quân
Nhà sản xuất
TBA Kongjie De Riji 空姐的日記 Nhà sản xuất
Viêm Hoàng đại đế Yanhuang Dadi 炎黃大帝 Nhà sản xuất

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]