Trương Như Tảng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trương Như Tảng
Truong Nhu Tang in 1976.jpg
Trương Như Tảng bộ trưởng Bộ Tư Pháp Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, năm 1976
Chức vụ
Thông tin chung
Sinh 19 tháng 5, 1923(1923-05-19)
Chợ Lớn

Trương Như Tảng (1923-) là một luật sư, chính khách Việt Nam, người tham gia thành lập và là bộ trưởng Bộ Tư pháp trong Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam. Sau năm 1975, ông thất vọng với chế độ, vượt biển đào thoát khỏi Việt Nam trên một chiếc thuyền vào tháng 8 năm 1978. Sau đó ông sống lưu vong tại Paris, Pháp. Theo Hồi ký của một Việt Cộng[1] do chính ông viết thì Trương Như Tảng không phải là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.[2]

Tuổi trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Trương Như Tảng sinh ra tại Chợ Lớn, trong một trong một gia đình giàu có và thành đạt, gần đúng như sự mong muốn và xếp đặt của cha ông: một bác sĩ, một dược sĩ, một giám đốc ngân hàng và 3 kỹ sư. Sau khi tốt nghiệp trường trung học Chasseloup-Laubat, nơi ông có những người bạn nổi tiếng như Norodom Sihanouk, Dương Quỳnh Hoa, Phạm Ngọc Thảo v.v… ông được gia đình gửi sang Pháp để học ngành dược. Tuy nhiên ông đã bỏ khoa này nửa chừng để chuyển sang học chính trị và luật. Trong thời gian ở Paris, Trương Như Tảng tham gia phong trào chống chiến tranh của Đảng Cộng sản Pháp, vì thế ông bị gia đình cắt viện trợ và phải rửa chén, gọt khoai kiếm tiền sinh sống để có thể tiếp tục con đường vạch ra. Trương Như Tảng cũng từng gặp Hồ Chí Minh vào năm 1946[3]. Năm 1951, ông tốt nghiệp cao học chính trị và cử nhân luật sau đó trở về nước vào năm 1954.

Hoạt động chống Mỹ và chính phủ Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Từ 1958, Trương Như Tảng bắt đầu hoạt động bí mật cho đảng cộng sản, tại Sài Gòn. Năm 1960 ông tham gia thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam[cần dẫn nguồn]. Sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ, ông được cử làm Tổng Giám Đốc Công Ty Đường Việt Nam, một công ty quốc gia lớn. Trong thời gian này ông đã hoạt động ngầm cho hai tổ chức thân cộng là "Phong trào Tự Quyết" và "Ủy ban bảo vệ Hòa Bình" do bác sĩ Phạm Văn Huyến, cha của nữ luật sư Ngô Bá Thành điều khiển[4]. Hành tung của Trương Như Tảng bại lộ, ngày 16 tháng sáu năm 1966, ông bị bắt bởi các nhân viên làm việc dưới quyền tướng Nguyễn Ngọc Loan. Nhờ có Trần Bạch Đằng thu xếp với người Mỹ về trao đổi tù binh, ông được phóng thích [5] để ra bưng hoạt động hẳn cho phe cộng sản. Sau khi Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam thành lập, ông là phó chủ tịch liên minh ở Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định. Ngày 8 tháng 6 năm 1969, Trương Như Tảng tham gia sáng lập và giữ chức bộ trưởng Bộ Tư Pháp của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.

Bất đồng[sửa | sửa mã nguồn]

Theo cuốn hồi ký Mémoire d'un Vietcong, ông bất đồng với chính sách hòa hợp hòa giải dân tộc sau 1975 [6] Đảng Lao động thi hành chính sách cứng rắn với những người thua trận và cải tạo xã hội chủ nghĩa, bản thân ông không nhận chức thứ trưởng Bộ Tư pháp Chính phủ thống nhất giành cho ông. Hai người anh em của ông, một là giám đốc Ngân hàng Quốc gia và môt là bác sĩ làm việc với Bộ Y tế bị đưa đi cải tạo ở Bắc Việt[7][8]. Ngày 25 tháng 8 năm 1978, Trương Như Tảng xuống thuyền vượt biển và hơn một tuần sau thì được một tàu hàng Singapore chở tới đảo Galang, thuộc Indonesia. Sau này ông sinh sống ở Pháp.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi lưu vong Trương Như Tảng viết hồi ký nguyên văn bằng Tiếng Pháp là Mémoire d'un Vietcong, bản dịch Tiếng Anh là A Vietcong Memoir, tiếng Việt là "Hồi Ký của một Việt Cộng", viết chung với David Chanoff và Đoàn văn Toại. Theo Robert Manning chủ bút nhà xuất bản Boston thì cuốn sách này viết về cái chết của một ước mơ, ước mơ tới một nước Việt Nam độc lập, hòa bình và dân chủ.[9]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Việt Cộng (thường được người Mỹ gọi tắt là Vi-Xi (V.C.=Vietnamese communists) có nghĩa là người cộng sản Việt Nam. Trong thực tế "Việt Cộng" thường được dùng để chỉ lính hay cán bộ thuộc Mặt trận Giải phóng Miền Nam, chứ không phải bộ đội hay cán bộ miền Bắc.
  2. ^ Cũng như nhiều thành viên trong Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam
  3. ^ Khi Hồ Chí Minh đến Pháp để thương thuyết với Sainteny. Kết quả cuộc thương thuyết này là Hiệp ước Sơ bộ 6-3-1946.
  4. ^ A Vietcong Memoir trang 93-95
  5. ^ Cùng với vợ của Trần Bạch Đằng
  6. ^ A Vietcong Memoir, trang 283-284
  7. ^ A Vietcong Memoir, trang 279
  8. ^ Cho đến Khi Trương Như Tảng hoàn tất cuốn hồi ký A Vietcong Memoir, người anh (em) tên Quỳnh làm việc ở Bộ Y tế vẫn chưa được trả tự do.
  9. ^ “defeated by victory”. NYT. 26 tháng 5 năm 1985. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • A Vietcong Memoir, viết chung với David Chanoff và Đoàn văn Toại, Harcourt Brace Jovanovich, San Diego, New York and London, 1985.