Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam
Vietnam University Of Fine Art
Dhmt.jpeg
Tên gọi khác Đại học Mỹ thuật Hà Nội
Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương
Thành lập 1925
Loại hình Đại học công lập
Hiệu trưởng Lê Anh Vân[1]
Địa chỉ 42 Yết Kiêu, Hà Nội
Vị trí Hà NộiHà Nội, Việt Nam
Trang web mythuatvietnam.edu.vn

Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam, tiền thân là Trường Mỹ thuật Đông Dương thuộc Viện Đại học Đông Dương, là một trường đại học của Việt Nam chuyên đào tạo bậc đại học và sau đại học trong lĩnh vực mĩ thuật. Trường nằm tại số 42 Yết Kiêu, Hà Nội. Trường được giới chuyên môn đánh giá là nơi đào tạo mĩ thuật chính quy và có chất lượng cao của Việt Nam. Nơi đây đã là nơi nuôi dưỡng và phát hiện nhiều họa sĩ tài danh Việt Nam.

Đầu năm 2008 trường đã được đổi tên là Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam, trước đó là Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trường Mỹ Thuật Đông Dương[sửa | sửa mã nguồn]

Trường Mỹ Thuật Đông Dương được thành lập ngày 27 Tháng Mười năm 1924[2] với sắc lệnh của Toàn quyền Đông Dương Martial Merlin. Tên tiếng Pháp của trường khi đó là Ecole Supérieure des Beaux-Arts de L'Indochine (en) nhưng nếu theo hệ thống giáo dục chính quy của Pháp thì không thể coi Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương là trường cao đẳngEcole Supérieure phải thuộc hệ thống trường lớn (Grandes écoles), tức những trường bậc đại học danh tiếng nhất. Đúng ra theo hệ thống giáo dục Pháp thì trường cao đẳng là trường đại học chuyên ngành, thể thức thi tuyển vào còn khó khăn hơn các trường Đại học (Université) bình thường.[3] Tuy nhiên trường Cao đẳng Mỹ thuật đã thành công như một bước đột phá mang quy thức nghệ thuật Tây phương đến Đông Dương.

Người đảm nhiệm thành lập trường là họa sĩ người Pháp Victor Tardieu; ông được bổ làm hiệu trưởng. Khi ông mất năm 1937, Évariste Jonchère (en 1892-1956) là người kế nhiệm.[2]

Vào thời Nhật chiếm (1940-45) hoạt động của trường bị hạn chế rất eo hẹp. Năm 1943 vì nạn oanh tạc của máy bay Đồng minh Trường phải tản cư dời bỏ Hà Nội. Khoa hội họa do Joseph Inguimberty (en) điều hành và một phần khoa điêu khắc dời lên Sơn Tây. Khoa kiến trúc và phần lớn khoa điêu khắc thì theo Jonchère vào Đà Lạt. Một số lớp mỹ thuật trang trí thì lánh xuống Phủ Lý. Khi Nhật đảo chánh Pháp Tháng Ba năm 1945 thì Trường bị giải tán.[2]

Trường hoạt động trong thời gian 20 năm (1925-45), trao bằng tốt nghiệp cho 128 sinh viên họa sĩ, trong đó có những tên tuổi lớn của nền mĩ thuật Việt Nam sau này như Nam Sơn, tên thật Nguyễn Vạn Thọ (1890-1973), Nguyễn Phan Chánh, Georges Khanh, Tô Ngọc VânLê Phổ.[2]

Thể thức thi cử nhập học và học trình

Nhà trường tổ chức tuyển sinh tại Hà NộiHuế - Sài GònPhnompenhVientiane cùng một lúc, bao gồm các môn thi sau:

  • Hình họa, vẽ người mẫu trong 6 buổi, mỗi buổi 3 giờ.
  • Bố cục trang trí theo đề tài, mỗi buổi 8 giờ liền.
  • Định luật xa gần, mỗi buổi 4 giờ.
  • Một bài luận Pháp văn, chỉ kiểm tra.

Các bài thi của thí sinh đều niêm phong gửi về Hà Nội chấm và xếp hạng.[4]

Thời kì cuối cùng

Tháng 12/1943, Mỹ ném bom Hà Nội, theo chủ trương của Nha học chính Đông Dương các trường phải sơ tán khỏi Hà Nội, trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đã chia thành 3 bộ phận sơ tán 3 nơi:

- Các lớp mỹ nghệ sơ tán ở Phủ Lý do Geogie Khánh và Bùi Tường Viên phụ trách.

- Khoa kiến trúc và một phần lớn khoa điêu khắc vào Đà Lạt do E.Jonchère phụ trách. Năm 1944, Khoa Kiến trúc ở Đà Lạt được nâng thành Trường Kiến trúc, nhưng vẫn trực thuộc Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (Nghị định ngày 22-2-1944).

- Khoa hội họa và một bộ phận nhỏ khoa điêu khắc lên Sơn Tây do giáo sư Inguimberty cùng với các họa sĩ Nam SơnTô Ngọc Vân phụ trách.

Chương trình học vẫn như cũ, nhưng do tình trạng sơ tán các môn phụ và lý thuyết phải bỏ, chỉ học được những môn chính. Việc học tập của sinh viên gần với thiên nhiên và gắn với thực tế hơn. Đó chính là đặc điểm của thời kỳ này.

Năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đóng cửa. ở Đà Lạt, khoa Kiến trúc sau năm 1945 vẫn tiếp tục đào tạo, tên gọi của trường vẫn duy trì đến năm 1948.

Triển lãm đã tổ chức
  • Triển lãm tại Salon các nghệ sĩ Pháp tại Paris năm 1933 gồm có các họa sĩ Nam Sơn, Lê Văn Đệ, Lê Phổ.
  • Năm 1948, triển lãm về hội họa và điêu khắc của các họa sĩ đã từng theo học trường Mỹ thuật Đông Dương được tổ chức tại Khu học xá của trường Đại học Pháp
  • Các tác phẩm hội họa của các học sinh trưởng Mỹ thuật Đông Dương được triển lãm tại Rome năm 1932, Cologne năm 1933, tại Milan 1934, tại Bỉ năm 1935 – 1937, tại San Francisco năm 1937, tại Nhật năm 1940…

Viện Mỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Thành lập năm 1962 (Viện Mỹ thuật Mỹ nghệ) do họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung làm Viện trưởng. Năm 1995 sáp nhập với trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội (nay là Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam). Trong giai đoạn này Viện đã có nhiều công trình nghiên cứu ví dụ như các một số cuốn sách: Mỹ thuật Lý, Trần, Lê, Mạc, Mỹ thuật Nguyễn ở Huế, Bản rập họa tiết Mỹ thuật cổ Việt Nam, Hình tượng con người trong chạm khắc cổ Việt Nam, Mỹ thuật Việt Nam Hiện đại, Bãi đá cổ Sapa dưới con mắt tạo hình.

Cơ sở vật chất[sửa | sửa mã nguồn]

Trường nằm giữa khu phố và dân cư đông đúc của thành phố, có diện tích khá nhỏ, một phần diện tích của trường Cao Đẳng xưa đã bị cắt bớt để xây dựng trụ sở một cơ quan của Bộ Công An nằm kế bên. Trường có 5 khối nhà chính, với khoảng 20 phòng học, một nhà bảo tàng, một nhà triển lãm, 2 xưởng sơn mài, 1 xưởng đồ họa, 2 phòng máy tính với khoảng 50 máy và một thư viện.

Trường có một kí túc xá nằm trong khuôn viên với khoảng gần 30 phòng. Phòng dành cho sinh viên trong nước thì nhỏ, kê 3 giường đôi, có nhà vệ sinh riêng và có bình nước nóng. Phòng dành cho sinh viên nước ngoài rộng, đẹp và thuận tiện hơn, với trang thiết bị giống một phòng khách sạn nhỏ.

Tuyển sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là thông tin chi tiết về kỳ thi đầu vào thường niên của trường từ nhiều năm nay. Những thay đổi có thể tham khảo cụ thể tại trường.

Thí sinh nộp bài thi sơ khảo và hồ sơ (có kèm đăng kí Khoa học) tại trường và đợi giấy gọi thi đầu vào. Trường tổ chức thi đầu vào hàng năm, vào quãng tháng 7. Tất cả mọi thí sinh muốn đăng kí học tại trường đều phải đỗ trong kì thi này.

Các môn thi bao gồm:

  • Hình họa: vẽ toàn thân người mẫu nam hoặc nữ, chất liệu chì hoặc than trên giấy, khổ giấy được phát sẵn (A1). Bài thi hoàn thành trong 3 buổi sáng, mỗi buổi 4 tiết. Thí sinh đứng theo vị trí sắp sẵn theo số báo danh. Giờ nghỉ giữa các tiết tất cả các thí sinh bắt buộc phải ra khỏi phòng và trở lại khi bắt đầu tiết sau.
  • Trang trí: vẽ một bài trang trí theo chủ đề. Kích thước tuỳ vào đề thi, chất liệu bột màu trên giấy báo của trường. Thời gian thi từ khoảng 7 giờ rưỡi sáng đến 4 giờ chiều. Thí sinh không được phép ra khỏi phòng suốt thời gian này. Người nhà được đưa thức ăn vào theo số báo danh, hoặc trong trường có bán cơm hộp hoặc bánh mì.
  • Bố cục: vẽ một bài bố cục theo chủ đề. Kích thước và thể lệ như môn trang trí.
  • Văn: thí sinh làm bài theo đề thi chung với đề thi môn văn khối C của từng năm, thời gian 180 phút. Giám khảo chấm thi mời từ trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Năm 2013 điểm thi văn được xét tuyển từ điểm học lực trung bình môn văn 3 năm học cấp 3 của thí sinh.

Hiện nay trường thi theo hinh thức thi tuyển. Từ năm học 2007- 2008, sinh viên vào trường học chuyên khoa từ năm thứ nhất, không phải đến năm thứ hai như trước.

Các chương trình đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Trường đã từng có các chương trình đào tạo hệ sơ cấpcao đằng, song giờ chỉ còn hệ Đại họcsau Đại học.

Hệ đại học[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Hội Họa[sửa | sửa mã nguồn]

  • Mỗi năm tuyển sinh chừng 15-20 người. Tuyển sinh thường niên.
  • Thời gian học 5 năm. Mỗi năm chia làm 2 kì.
  • Đặc điểm chương trình học: chuyên về Hội họa với các chất liệu chủ yếu: Sơn dầu, Sơn mài, lụa. Không học các môn in và khắc. Học Hình họa vào tất cả các buổi sáng (trừ kì học cuối cùng).
  • Có đóng học phí.

Khoa Đồ Họa[sửa | sửa mã nguồn]

  • Mỗi năm tuyển sinh chừng 4 - 6 người. Tuyển sinh thường niên.
  • Thời gian học 5 năm. Mỗi năm chia làm 2 kì.
  • Đặc điểm chương trình học: chuyên về các kĩ thuật in ấn đồ họa và khắc như: in đá, in kẽm, khắc gỗ... Không học kĩ thuật Sơn mài. Học Hình họa vào tất cả các buổi sáng (trừ kì học cuối cùng).
  • Có đóng học phí.

Khoa Điêu Khắc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thời gian học 5 năm. Mỗi năm chia làm 2 kì.
  • Mỗi năm tuyển sinh chừng 5 người. Tuyển sinh thường niên.
  • Đặc điểm chương trình học: chuyên sâu về tạo hình khối với các bài nghiên cứu trên đất sét. Chỉ học Hình Họa 2 kì đầu tiên.
  • Có đóng học phí.

Khoa Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thời gian học 5 năm. Mỗi năm chia làm 2 kì.
  • Tuyển sinh chừng 15 người. Tuyển sinh không thường niên. 4 năm tuyển sinh 1 lần.
  • Đặc điểm chương trình học: nghiên cứu lịch sử mĩ thuật và các môn lí luận. Học Hình họa vào các buổi chiều mỗi 2 tuần. (2 tuần học liền 2 tuần không học) trong 6 kì học đầu.
  • Có đóng học phí.

Khoa Sư phạm Mỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thời gian học 4 năm. Mỗi năm chia làm 2 kì.
  • Mỗi năm tuyển sinh chừng 25 người. Tuyển sinh thường niên.
  • Đặc điểm chương trình học: học đủ các chất liệu Lụa, Sơn mài, Sơn dầu, Khắc gỗ.
  • Tăng cường các môn Lí luận và Sư phạm. Học Hình họa vào tất cả các buổi sáng (trừ năm học cuối cùng).
  • Có 2 chuyến đi thực tập giảng dạy xa Hà Nội vào năm thứ 3 và 4. Mỗi chuyến từ 2-4 tuần.
  • Không đóng học phí.

Đặc điểm học[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trường ĐH Mỹ thuật Việt Nam đào tạo sinh viên Mĩ thuật tạo hình
  • Sinh viên không có quyền chọn lựa môn học, và phải hoàn thành đủ mọi môn.
  • Với các môn chuyên ngành (tùy theo từng khoa), các bài vẽ đều được tính điểm. Bài cuối cùng mỗi kì được tính điểm số với mức quan trong của một bài thi. Như vậy nhìn chung cường độ học rải đều, mùa thi sinh viên vẫn làm việc bình thường, không có áp lực gì đặc biệt.
  • Mỗi năm, các lớp đều có một chương trình gọi là Đi Thực Tế; kéo dài 4-8 tuần tại một vùng ngoại thành nào đó trong bán kính khoảng 600 km. Các địa điểm gồm miền núi, miền biển, và nông thôn (đồng bằng). Sinh viên thường rất thích kì đi thực tế.
  • Trong thời gian này sinh viên được liên hệ sống chung với gia đình người dân. Mục đích chuyến đi là lấy tư liệu vẽ thực tế bằng ghi chép, kí họa.
  • Riêng khoa Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật, các chuyến đi có thể ngắn ngày hơn, song tới một chuỗi các địa danh khác nhau, và sinh viên ghi chép lại các thông tin về lịch sử mĩ thuật.
  • Năm cuối cùng, mỗi sinh viên tự chọn nơi đi thực tế tự do, có thể đi một mình hoặc một nhóm. Có sinh viên chọn ở lại Hà Nội ghi chép cảnh phố xá, có sinh viên chọn đi xa như vào Tây Nguyên, Nam trung bộ.

Các chương trình trao đổi sinh viên[sửa | sửa mã nguồn]

Một số bộ môn chuyên ngành[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hình Họa
  • Bố Cục
  • Trang Trí
  • Kĩ thuật Lụa
  • Kĩ thuật sơn dầu
  • Kĩ thuật sơn mài
  • Kĩ thuật khắc và in gỗ
  • Kĩ thuật khắc và in kẽm

Triển lãm tranh và tượng của sinh viên hàng năm[sửa | sửa mã nguồn]

Kì thi tốt nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ sau đại học[sửa | sửa mã nguồn]

Chương trình sau đại học được đào tạo không tập trung trong 3 năm, 2 năm đầu là 5 tháng năm cuối 8 tháng,

Học phí và học bổng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Học phí đóng theo từng kỳ,hiện là khoảng 2.400.000 VND (Khoảng 7 US dollar). (nhưng đây là học phí cho Sinh viên là người Việt, học được nhà nước bao cấp phần lớn chi phí) Với sinh viên nước ngoài học phí là từ 2500$-3000$
  • Sinh viên được cung cấp họa phẩm môn Hình họa theo từng đợt, chủ yếu bao gồm: bảng vẽ, giá vẽ, giấy vẽ (các loại), bút vẽ, màu bột, màu sơn dầu, xát xi, toan vẽ.Từ năm 2013-2014 không được cấp nữa. Hoạ phẩm các bài chuyên khoa (đồ hoạ. hội hoạ, điêu khắc) do học sinh tự túc (đổi mới từ năm học 2007-2008).
  • Một số các bài vẽ chuyên khoa sơn dầu, lụa, in đồ họa, và các bài sơn mài tốt sẽ được trường lưu giữ lại với một khoản tiền dành cho sinh viên có bài tập tốt (Nhà trường mua tranh của sinh viên).
  • Mọi sinh viên có điểm tổng kết trung bình trên 7.5, và không có môn học nào dưới 5.0 hoặc phải thi lại đều được nhận mức học bổng 120.000/tháng. Học bổng xét theo từng kì.Nhận vào cuối kỳ sau của kỳ xét đạt học bổng.
  • Ngoài ra tất cả các sinh viên đều được tiền phụ cấp hàng tháng khoảng 200.000 đến 220.000 VND (trợ cấp nghề, do môi trường làm việc có tính chất độc hại).

Cựu sinh viên tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hiệu trưởng 26/7/2011
  2. ^ a ă â b Noppe, Catherine và Hubert, Jean-François. Art of Vietnam. New York: Parkstone Press, 2003. tr 189-197
  3. ^ Nền giáo dục Việt Nam dưới thời Pháp thuộc
  4. ^ http://mythuatvietnam.edu.vn/index.php/lch-s/trung-m-thut-dong-duong