Trường Đại học Nông lâm, Đại học Thái Nguyên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Tên gọi khác Đại học kỹ thuật miền núi, Đại học nông nghiệp 3
Thành lập 1970
Loại hình Trường Đại học công lập
Hiệu trưởng TS.Trần Văn Điền
Địa chỉ xã Quyết Thắng, TP. Thái Nguyên
Vị trí Thái Nguyên, tỉnh Thái nguyên
Điện thoại +84(0) 2803-855564
+84(0) 2803-855731
Trang web http://www.tuaf.edu.vn

Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên là một trường đại học kỹ thuật đào tạo bậc đại học và sau đại học các ngành thuộc lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, quản lý tài nguyên, môi trường và phát triển nông thôn cho cả nước đặc biệt là các tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam. Từ ngày thành lập đến nay, Nhà trường đã không ngừng phát triển, trưởng thành và khẳng định được vị trí trọng điểm số một, thực hiện nhiệm vụ cung cấp nguồn nhân lực có trình độ cao về lĩnh vực nông, lâm nghiệp cho khu vực. Ngày đầu thành lập, Nhà trường mới chỉ đào tạo đại học cho 2 ngành, đến nay đã có 20 chuyên ngành đại học,, 7 chuyên ngành đào tạo thạc sĩ và 7 chuyên ngành đào tạo tiễn sĩ. Đến năm 2012, Trường đã đào tạo cho đất nước 25.300 kỹ sư, 1065 thạc sỹ, 30 tiến sỹ và nhiều cán bộ trình độ cao đẳng, trung cấp và kỹ thuật viên ngành Nông lâm nghiệp, Tài nguyên và môi trường, phát triển nông thôn, trong đó một nửa là con em các dân tộc thiểu số và người sống ở vùng sâu vùng xa khu vực miền núi. Trường Đại học Nông Lâm còn là một trung tâm nghiên cứu và chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế, xã hội bền vững ở các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc Việt Nam

Sứ mạng, mục tiêu, định hướng phát triển của Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

• Sứ mạng của Nhà trường "Đào tạo cán bộ có trình độ đại học và sau đại học, nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ về lĩnh vực nông lâm nghiệp, phát triển nông thôn, tài nguyên và môi trường, phục vụ phát triển kinh tế xã hội các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc Việt Nam”. • Mục tiêu giáo dục của Nhà trường "Đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật nông lâm nghiệp trình độ cao có phẩm chất, đạo đức, có kiến thức và năng lực thực hành, có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu phục vụ phát triển kinh tế xã hội các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam”. • Định hướng phát triển của Nhà trường "Phấn đấu đến năm 2020 trở thành một trong những trung tâm hàng đầu của Việt Nam trong đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ về lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, phát triển nông thôn, quản lý tài nguyên và môi trường,chủ động và nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế”.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trường Đại học Nông lâm – Đại học Thái Nguyên được thành lập ngày 19 tháng 9 năm 1970 theo Quyết định số 98/TTg của Thủ tướng Chính phủ. Tên của trường đã có nhiều thay đổi qua nhiều thời kỳ để phù hợp với nhiệm vụ và yêu cầu của thực tiễn: Trường Đại học Kĩ thuật miền núi (từ 9/1970 đến 01/1971); Trường Đại học Nông Lâm miền núi (từ 02/1971 đến 02/1972); Trường Đại học Nông nghiệp III (từ tháng 3/1972 đến tháng 3/1994). Ngày 4 tháng 4 năm 1994 Chính phủ ra nghị định 31/CP về việc thành lập Đại học Thái Nguyên, trường trở thành đơn vị thành viên của Đại học Thái Nguyên (ĐHTN) với tên thường gọi là Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Trường Đại học Nông Lâm – ĐHTN là một trong những trường Đại học chuyên đào tạo kỹ sư, cử nhân, thạc sỹ và tiến sỹ về lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, quản lý tài nguyên và môi trường, phát triển nông thôn của Việt Nam. Với bề dày kinh nghiệm hơn 40 năm xây dựng và trưởng thành, nhà trường đã từng bước vươn lên trở thành một trường Đại học Nông lâm nghiệp hàng đầu ở Việt Nam.

Đội ngũ cán bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Đến năm 2012, tổng số cán bộ viên chức của nhà trường là 504 người, trong đó cán bộ làm công tác giảng dạy là 332 người. Đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ cao (Giáo sư, Phó giáo sư và tiến sỹ) là 102 người, chiếm 30,72% trong tổng số cán bộ giảng dạy của nhà trường, 01 Nhà giáo nhân dân, 10 Nhà giáo ưu tú, 01 Anh hùng lao động, tỷ lệ giáo viên có trình độ Sau đại học đạt hơn 85% cao nhất ở khu vực trung du miền núi phía Bắc. Đến năm học 2014-2015 nhà trường phấn đấu 100% cán bộ giảng dạy có trình độ từ thạc sỹ trở lên.

Cơ sở vật chất[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng diện tích của Nhà trường là 97,5 ha. Đến nay Nhà trường đã xây dựng được 73 phòng học, diện tích là 9940 m²; 06 phòng máy tính, diện tích là 306 m²; 02 phòng học ngoại ngữ, diện tích là 150 m²; 23 phòng thí nghiệm, diện tích là 1077 m²; 02 xưởng thực hành với nhiều máy móc thiết bị, diện tích là 483 m². Ký túc xã có 238 phòng, diện tích là 15420 m². Diện tích hội trường A 1125 m². Diện tích nhà thi đấu 3700 m². Diện tích sân vận động là 2000 m². Diện tích thư viện 750 m², thư viện điện tử được kết nối internet có khả năng truy cập vào thư viện của các trường đại học lớn trong và ngoài nước. Cơ sở vật chất này cùng với cảnh quan, môi trường xanh, sạch đẹp đã tạo điều kiện để Nhà trường thực hiện thành công nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ trong suốt những năm vừa qua, đồng thời đáp ứng những nhiệm vụ đặt ra trong thời gian tới.

Chương trình đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Trường Đại học Nông Lâm – ĐHTN hiện đang đào tạo bậc đại học (đại học chính quy, đại học phi chính quy và liên thông) và sau đại học (cao học và nghiên cứu sinh). Đại học chính quy Chương trình đại học chính quy hiện nay của Trường tuyển sinh hằng năm 2.000 chỉ tiêu theo hình thức tuyển sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Các ngành thi tuyển theo Khối A (Toán, Vật Lý, Hóa Học), Khối A1 (Toán, Vật Lý, Anh Văn), D1 (Toán, Anh văn, Văn) và B (Toán, Hóa học, Sinh học). Qui mô sinh viên đại học hệ chính quy biến động từ 7-8 nghìn.

Chương trình tiên tiến Chương trình tiên tiến ngành Khoa học và quản lý môi trường - Trường Đại học Nông Lâm – ĐHTN mới được triển khai từ năm 2010. Đào tạo cử nhân chuyên ngành Khoa học và quản lý môi trường, đáp ứng tốt nhu cầu của xã hội trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ môi trường và các lĩnh vực có liên quan ở Việt Nam và có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế. + Ứng viên mang quốc tịch Việt Nam: Trúng tuyển khối A, B, D1 vào Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và các trường đại học khác (tuyển sinh toàn quốc), có chứng chỉ TOEFL tối thiểu 450 điểm hoặc tương đương, và có nguyện vọng học Chương trình tiên tiến; Ứng viên chưa đủ điểm tiếng Anh sẽ được bồi dưỡng đạt chuẩn tiếng Anh đầu vào trước khi vào học chính khóa. + Ứng viên quốc tế: Tốt nghiệp phổ thông trung học hoặc tương đương, xét tuyển dựa trên kết quả học tập Phổ thông trung học và có trình độ tiếng Anh theo yêu cầu. == Đại học phi chính quy Trung tâm đào tạo theo nhu cầu xã hội là đơn vị trực thuộc trường Đại học Nông Lâm. Trung tâm có chức năng: Tham mưu, tư vấn cho Ban giám hiệu, tổ chức xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện công tác tư vấn, tạo nguồn tuyển sinh, quản lý các chương trình đào tạo phi chính quy của trường. Hiện nay, trung tâm liên kết với 24 cơ sở đào tạo ở 17 tỉnh. Qui mô sinh viên hệ phi chính quy biến động từ 5-6 nghìn.

Sau đại học[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay trường có 7 chuyên ngành đào tạo trình độ thạc sĩ và 7 chuyên ngành đào tạo trình độ tiến sĩ. Qui mô học viên cao học và nghiên cứu sinh biến động từ 900-1000. Nhà trường chủ trương đẩy mạnh liên kết đào tạo với nước ngoài trong đào tạo đại học và sau đại học.

Chương trình đào tạo có liên kết với nước ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Trường có các chương trình đào tạo đại học và sau đại học liên kết với các trường nước ngoài. Thực hiện các chương trình Liên kết Đào tạo Quốc tế là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Nhà trường. Đến nay Nhà trường đã hợp tác với nhiều trường đại học đối tác uy tín để triển khai các chương trình liên kết đào tạo quốc tế bậc đại học và sau đại học, cụ thể như: - Cử nhân Quản trị Kinh doanh - Cử nhân tiếng Việt - Thạc sĩ tiếng Việt - Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh - Thạc sĩ Khoa học Môi trường - Thạc sĩ tiếng Anh - Tiến sĩ tiếng Anh - Tiến sĩ Quản trị Kinh doanh - Thạc sĩ Quản lý Giáo dục - Tiến sĩ Quản lý Giáo dục Tham gia giảng dạy chương trình Liên kết Đào tạo Quốc tế là đội ngũ giáo viên giàu kinh nghiệm đến từ các trường đối tác trong nước và quốc tế đã mang đến cho người học cơ hội học tập, giao lưu và đặc biệt là khả năng sử dụng ngoại ngữ (tiếng Anh) thành thạo. Qui mô sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh các chương trình liên kết đào tạo quốc tế biến động từ 900-1000.

Nghiên cứu khoa học và quan hệ quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Trường có nhiều mối quan hệ hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu trong nước và nước ngoài. Đối với nước ngoài, hiện nay trường đã có mối quan hệ hợp tác với nhiều trường đại học và viện nghiên cứu. Trường là một trong những trường đi đầu về nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Trong năm 2012, hoạt động chuyển giao KHCN với các địa phương đã thực hiện đạt tổng kinh phí hơn 40 tỷ đồng.

Các khoa và viện[sửa | sửa mã nguồn]

Trường hiện có 7 khoa chuyên môn và 1 khoa cơ bản.

Khoa Nông học[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Nông học được thành lập năm 1970. Khoa Nông học đào tạo bậc đại học với 3 chuyên ngành là Khoa học cây trồng (Trồng trọt), Công nghệ rau hoa quả và cảnh quan, Hoa viên cây cảnh; đào tạo thạc sỹ và tiến sỹ với ngành Khoa học cây trồng. Hiện tại khoa có 44 giảng viên cơ hữu. Trong đó có 01 giáo sư, 04 phó giáo sư, 17 tiến sĩ, 13 thạc sĩ, 04 đại học được tổ chức thành 05 bộ môn.

Khoa Chăn nuôi - thú y[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Chăn nuôi Thú y được thành lập cùng với năm thành lập trường năm 1970. Khoa đào tạo bậc đại học với 3 chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y, Thú y, Nuôi trồng Thuỷ sản.; đào tạo bậc thạc sỹ với 2 chuyên ngành: chăn nuôi và Thú y, đào tạo bậc tiến sỹ với 4 chuyên ngành: Chăn nuôi động vật, Dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi, Ký sinh trùng học thú y và Vi sinh vật học thú ý. Hiện nay khoa có 68 cán bộ giảng viên, Có 03 giáo sư, 08 phó giáo sư, 28 tiến sĩ, 25 thạc sĩ. Biên chế thành 05 bộ môn.

Khoa Lâm nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Lâm nghiệp được thành lập năm 1987. Khoa đào tạo ở các bậc đại học, 03 ngành là Lâm sinh, Nông lâm kết hợp và Quản lý tài nguyên rừng. Đào tạo bậc thạc sỹ và tiến sỹ ngành Kỹ thuật lâm sinh. Đội ngũ giảng viên của khoa là 36, trong đó có 02 phó giáo sư, 09 tiến sĩ, 24 thạc sĩ và 01 kỹ sư.

Khoa Tài nguyên và môi trường[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Tài nguyên và Môi trường được thành lập năm 2000. Khoa đào tạo 4 chuyên ngành đào tạo bậc đại học: Quản lý đất đai, Khoa học môi trường, Địa chính môi trường và Khoa học và quản lý môi trường (chường trình nhập khẩu từ trường Đại học California Davis - Hoa Kỳ - còn gọi là chương trình tiên tiến giảng dạy tất cả các môn học bằng tiếng Anh), 2 chuyên ngành bậc thạc sỹ là Quản lý đất đai và Khoa học Môi trường và 1 chuyên ngành bậc tiến sỹ là Quản lý đất đai. Hiện nay đội ngũ giảng viên của khoa gồm 01 giáo sư, 07 phó giáo sư, 17 tiến sĩ và 25 thạc sĩ.

Khoa Kinh tế và phát triển nông thôn[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Kinh tế và phát triển nông thôn tái thành lập lại năm 2004. Khoa đào tạo Chức năng là đào tạo bậc đại học 03 chuyên ngành là Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn và Khuyến nông; bậc thạc sỹ 1 chuyên ngành là Phát triển nông thôn. Đội ngũ giảng viên của khoa có 03 phó giáo sư, 02 tiến sĩ, 26 thạc sĩ, 08 kỹ sư. Đào tạo.

Khoa Công nghệ sinh học và công nghệ thực phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa công nghệ sinh học được thành lập năm 2008. Khoa đào tạo bậc đại học với 3 chuyên ngành là Công nghệ sinh học, Công nghệ thực phẩm và công nghệ sau thu hoạch.. Hiện tại đội ngũ giảng viên của khoa có 02 phó giáo sư, 02 tiến sĩ, 20 thạc sĩ.

Khoa Sư phạm kỹ thuật nông nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa sư phạm kỹ thuật được thành lập năm 2000. Khoa đào tạo cử nhân Sư phạm kỹ thuật nông nghiệp. Đội ngũ giảng viên 100% có trình độ thạc sĩ trở lên. Trong đó có nhiều Giáo sư, phó giáo sư có kinh nghiệm về lĩnh vực nông nghiệp.

Khoa Khoa học cơ bản[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Khoa học Cơ bản của Trường ĐH Nông lâm Thái Nguyên chính thức được tái thành lập năm 2006. Khoa thực hiện nhiệm vụ giảng dạy 8 phân môn: Toán, Lý, Hóa, Sinh, Lí luận chính trị, Xã hội học, Tiếng Việt và Giáo dục Thể chất. Số cán bộ, giảng viên trong Khoa đã lên tới 39 người. Trong đó có: 2 tiến sĩ, 28 thạc sĩ và 9 cử nhân.

Viện khoa học sự sống[sửa | sửa mã nguồn]

Viện Khoa học Sự sống là đơn vị nghiên cứu của Đại học Thái Nguyên được thành lập theo Quyết định số 852/QĐ- TCCB do Giám đốc Đại học Thái Nguyên ký ngày 30 tháng 9 năm 2008 trên cơ sở Phòng Thí nghiệm Trung Tâm của Trường Đại học Nông Lâm. Viện được Đại học Thái Nguyên phân cấp cho Trường Đại học Nông Lâm quản lý toàn diện. Về cơ cấu tổ chức, Viện có 2 phòng chức năng (Phòng Tổng hợp và Phòng Khoa học - Đào tạo) và 5 bộ môn (Bộ môn Hóa sinh, Công nghệ tế bào, Sinh học phân tử và công nghệ gene, Công nghệ vi sinh và Sinh thái môi trường). Trong đó có một phòng thử nghiệm được chỉ định của Bộ NN&PTNT thuộc hệ thống các phòng thử nghiệm kiểm tra đánh giá chất lượng nông sản thực phẩm và thức ăn chăn nuôi. Hiện tại, Viện đang xây dựng một phòng Phân tích Hóa học đạt tiêu chuẩn VILAS/IOS 17025:2005. Là một đơn vị được đầu tư, tập hợp các trang thiết bị nghiên cứu khoa học hiện đại. Viện Khoa học sự sống có một cơ sở vật chất trang thiết bị khá hiện đại và đồng bộ của khu vực Trung du và miền núi phía Bắc.

Trung tâm trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà trường có 8 Trung tâm: 1) Trung tâm Thực hành - thực nghiệm; 2) Trung tâm Ngoại ngữ và tin học ứng dụng; 3) Trung tâm Phát triển Lâm nghiệp miền núi; 4) Trung tâm Tài nguyên & Môi trường miền núi; 5) Trung tâm Liên kết ĐTQT & Tư vấn du học; 6) Trung tâm nghiên cứu phát triển lâm nghiệp miền núi phía Bắc; 7) Trung tâm nghiên cứu cây trồng ôn đới miền núi phía Bắc. 8) Trung tâm Đào tạo theo nhu cầu xã hội

Phòng chức năng[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà trường hiện có 8 phòng chức năng: 1) Phòng Đào tạo; 2) Phòng Hành chính - Tổ chức; 3) Phòng Công tác - HSSV; 4) Phòng Thanh tra - Khảo thí & ĐBCLGD; 5) Phòng Khoa học & QHQT; 6) Phòng Quản trị - Phục vụ; 7) Phòng Kế hoạch - tài chính; 8) Phòng Quản lý đào tạo sau đại học.

Thành tích đạt được[sửa | sửa mã nguồn]

Với những thành tích to lớn, rất đáng tự hào mà các thế hệ cán bộ viên chức và sinh viên Nhà trường đã đạt được, Trường Đại học Nông Lâm đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận, tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý: Huân chương Lao động hạng ba (1981), Huân chương Lao động hạng hai (1985), Huân chương Lao động hạng nhất (1995), Huân chương Độc lập hạng ba (2005), Danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới (2013) và nhiều phần thưởng cao quý khác. Nhiều cán bộ của trường đã được phong tặng các danh hiệu cao quý: Anh hùng lao động, Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú…

Những đóng góp về phát triển nguồn lực chất lượng cao[sửa | sửa mã nguồn]

Theo số liệu điều tra, có 70% cán bộ quản lý và kỹ thuật trong lĩnh vực nông lâm nghiệp và phát triển nông thôn ở các tỉnh miền núi phía Bắc được đào tạo từ Trường Đại học Nông Lâm – Đai học Thái Nguyên. Nhiều người giữ vị trí quan trọng ở cấp huyện, tỉnh và Trung ương. Hiện tại có 395 cựu sinh viên do trường đào tạo đang giữ chức vụ chủ chốt cấp huyện trở lên, 43 đồng chí lãnh đạo cấp tỉnh, lãnh đạo cấp Bộ, Ngành và Trung ương, có 8 đồng chí là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, trong đó 2 đồng chí là Bộ trưởng.