Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tọa độ: 10°51′00″B 106°46′18″Đ / 10,850051°B 106,771779°Đ / 10.850051; 106.771779

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh
Logo trường
Tên gọi khác Trường Đại học Sư Phạm Kỹ thuật
Thành lập 5 tháng 10 năm 1962
Loại hình Đại học
Hiệu trưởng PGS. TS. Đỗ Văn Dũng
Địa chỉ 1 Võ Văn Ngân, Q.Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Điện thoại +84-8-38.961.333 (Phòng đào tạo)
Trang mạng www.hcmute.edu.vn

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh (tên tiếng Anh: University of Technical Education HoChiMinh City, viết tắt là HCMUTE) là một trường đại học kỹ thuật nằm ở số 1 Võ Văn Ngân, Quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, cách trung tâm thành phố khoảng 10 km về phía Đông-Bắc. Được thành lập ngày 05/10/1962. Hiện nay trường đào tạo kỹ sư công nghệ và giáo viên kỹ thuật cho các trường đại học, cao đẳng và trung học kỹ thuật, đào tạo công nhân và hợp tác đào tạo quốc tế.
Thời gian đào tạo khóa khóa I: 1962

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Logo CĐ Sư phạm Kỹ thuật năm 1962
  • Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh được hình thành và phát triển trên cơ sở Ban Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuộc Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ thuật thành lập ngày 05/10/1962 theo quyết định số 1082/GD của chính quyền Sài Gòn cũ. Ngày 21/09/1972, theo công lệnh số 2826/GD/TTH/CL trường được đổi tên thành Trung tâm Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ - Thủ Đức.
  1. Trường Đại học Khoa học Cơ bản.
  2. Trường Đại học Kỹ thuật (nay là trường Đại học Bách Khoa TP. Hồ Chí Minh).
  3. Trường Đại học Nông nghiệp Sài Gòn (nay là trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh).
  4. Trường Đại học Giáo dục Thủ Đức (Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh ngày nay).
  5. Trường Đại học Kinh Thương ("Kinh Thương" là viết tắt của "Kinh tế và Thương mại").
  6. Trường Đại học Thiết kế Thị Thôn ("Thị Thôn" là viết tắt của "Thành thị và Nông thôn").
  7. Trường Đại học Cao cấp (tiếng Anh: College of Graduate Studies), điều phối các chương trình đào tạo bậc cao học và tiến sĩ.
Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh khi mới tiếp nhận cơ sở mới tại Thủ Đức
  • Ngày 8/11/1975 Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa Miền Nam Việt Nam thành lập Viện Đại học Sài Gòn (VĐHSG) gồm 11 trường đại học trên địa bàn (Khoa học, Văn khoa, Luật khoa, Y khoa, Nha khoa, Dược khoa, Sư phạm, Kiến trúc, Kỹ thuật Phú Thọ, Giáo dục Thủ Đức, Nông nghiệp). Ngày 24/3/1976 Ban Dân chính Đảng Trung ương thành lập Đảng bộ Viện Đại học Sài Gòn, Viện Đại học Sài Gòn là sự sáp nhập Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức và Viện đại học Sài Gòn cũ cho phù hợp với điều kiện mới.
  • Ngày 27/10/1976, Thủ tướng chính phủ đã ký quyết định số 426/TTg, tổ chức lại 11 trường đại học thuộc VĐHSG còn 8 trường:
  1. Đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh (sát nhập hai trường Đại học Khoa học và Đại học Văn khoa).
  2. Đại học Bách Khoa TP. Hồ Chí Minh (nguyên là trường Đại học Kỹ thuật Phú Thọ).
  3. Đổi tên Đại học Giáo dục Thủ Đức thành trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Thủ Đức.
  4. Đại học Y dược TP. Hồ Chí Minh (sát nhập 3 trường Đại học Y, Dược, Nha khoa).
  5. Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.
  6. Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh.
  7. Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.
  8. Đại học Kiến trúc.
Logo ĐH SPKT thuộc Bộ Đại học và THCN

Các trường Đại học Tổng hợp, Bách Khoa, Sư phạm Kỹ thuật, Kinh tế thuộc Bộ Đại học và THCN, trường Đại học Y dược thuộc Bộ Y tế, trường Đại học Kiến trúc thuộc Bộ Xây dựng, trường Đại học Nông lâm thuộc Bộ Nông nghiệp và trường Đại học Sư phạm thuộc Bộ Giáo dục, do các bộ quản lý về tổ chức nhân sự và ngân sách. Viện Đại học Sài Gòn giải thể vì đã làm tròn sứ mạng lịch sử.

  • Năm 1984, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thủ Đức sát nhập với Trường Trung học Công nghiệp Thủ Đức và đổi tên thành Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh. Năm 1991, Trường Sư phạm Kỹ thuật V được sáp nhập vào Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh.
  1. Trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh.
  4. Trường Đại học Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh.
  5. Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.
  6. Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
  7. Trường Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh.
  8. Phân hiệu Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
  • Theo quyết định số 118/2000/QĐ-TTg ngày 10/10/2000 của Thủ tướng Chính phủ, Trường Sư phạm Kỹ thuật cùng các trường Kinh tế, Nông Lâm, Sư phạm, Kiến trúc, Luật tách khỏi Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh và trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Địa điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà trung tâm ĐH Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh
  • Toạ lạc tại số 1 Võ Văn Ngân, quận Thủ Đức, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh nằm trên một địa thế là trung tâm cửa ngõ quan trọng của Tp. Hồ Chí Minh. Đây là giao điểm kết nối với khắp mọi miền đất nước (Bắc, Trung, Tây Nam bộ, Tây Nguyên) của thành phố. Trường nằm cách trung tâm khoảng 10 km về hướng Đông Bắc – kết hợp các ưu điểm của một cơ sở học an toàn nằm trong khu vực ngoại ô và dịch vụ xe buýt thuận lợi, thường xuyên đi đến trung tâm và các vùng lân cận. Từ trường, bạn chỉ mất khoảng 30 phút đi xe buýt để vào trung tâm thành phố, 40 phút để đến sân bay.
  • Trường Ðại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh hiện có diện tích khuôn viên đất cơ sở I (cơ sở chính) là 174.247 m², cơ sở II là 44.408 m².

Tại cơ sở I, diện tích nhà - công trình hiện có là 103.071 m² sàn xây dựng, trong đó số có thể sử dụng hoặc cải tạo, nâng cấp để khai thác sử dụng lâu dài là 41.911 m². Tại cơ sở II (Trường Trung học Kỹ thuật thực hành hiện nay), diện tích nhà - công trình hiện có là 28.026 m² sàn xây dựng, bao gồm 9.440 m² diện tích phòng học và hệ thống xưởng là nhà cấp III và IV, được xây dựng từ trước năm 1970. Diện tích công trình đầu tư xây dựng mới 18.586 m² sàn xây dựng. Diện tích xây dựng bình quân xấp xỉ 8 m² sàn/SV (chỉ tính cho số sinh viên hệ đào tạo chính quy).

Chức năng, nhiệm vụ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên kỹ thuật cho các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, các trường phổ thông trung học.
  • Đào tạo đội ngũ kỹ sư công nghệ và bồi dưỡng nguồn nhân lực lao động kỹ thuật thích ứng với thị trường lao động.
  • Nghiên cứu khoa học và phục vụ sản xuất trên các lĩnh vực giáo dục chuyên nghiệp và khoa học công nghệ.
  • Quan hệ hợp tác với các cơ sở khoa học và đào tạo giáo viên kỹ thuật ở nước ngoài.

Tầm nhìn[sửa | sửa mã nguồn]

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh là cơ sở đào tạo hàng đầu của Việt Nam, thành viên năng động của khu vực trong lĩnh vực đào tạo giáo viên kỹ thuật và chuyên gia công nghệ.

Sứ mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà trung tâm ĐH Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh
  • Trường Ðại học Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh là cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, cung cấp nguồn nhân lực và sản phẩm khoa học công nghệ với chất lượng cao trong các lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, công nghệ, kinh tế, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, đáp ứng các yêu cầu của sự phát triển kinh tế- xã hội, phục vụ đắc lực cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
  • Là trường đầu ngành trong hệ thống sư phạm kỹ thuật Việt Nam, tiếp cận, áp dụng những phương pháp và phương tiện giảng dạy mới, Trường đào tạo và bồi dưỡng những nhà giáo trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp có lý thuyết vững, kỹ năng thực hành cao, nghiệp vụ sư phạm giỏi; cung cấp nguồn nhân lực có kỹ năng thực hành tốt, phù hợp với thực tế sản xuất, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội.
  • Là trung tâm nghiên cứu, thực nghiệm trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, trường là một đơn vị tham mưu tin cậy cho nhà nước trong việc hoạch định các chính sách liên quan, là chỗ dựa tin cậy cho các cơ sở đào tạo trong việc đổi mới phương pháp và phương tiện dạy học.

Đổi mới quản lý giáo dục và chính sách chất lượng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Từ năm học 2004 - 2005, nhằm từng bước nâng cao chất lượng đào tạo và chất lượng tất cả các hoạt động của trường, trường tiến hành đổi mới công tác quản lý hành chính và quản lý đào tạo theo tiêu chuẩn ISO 9001-2000, thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục đại học theo các tiêu chuẩn kiểm định chất lượng do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Đến nay tất cả các đơn vị hành chính và đơn vị đào tạo đã được tổ chức Intertek - Hoa Kỳ cấp giấy chứng nhận quản lý theo tiêu chuẩn ISO 9001-2000. Về công tác kiểm định chất lượng giáo dục đại học trường đã tiến hành tự đánh giá năm 2005 và được đánh giá ngoài năm 2006, được hội đồng quốc gia về KĐCL GDĐH đề nghị công nhận đạt chất lượng giáo dục vào ngày 25/2/2009.
  • Chính sách chất lượng của trường là:

Không ngừng nâng cao chất lượng Dạy và Học
nhằm mang đến cho người học những điều kiện tốt nhất để phát huy tiềm năng sáng tạo,
nâng cao kiến thức, rèn luyện kỹ năng đáp ứng nhu cầu xã hội.

Các khoa[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà trung tâm ĐH Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh

Hiện nay trường có 14 khoa:

  1. Khoa Đào Tạo Chất Lượng Cao;
  2. Khoa Lý luận chính trị;
  3. Khoa Khoa học cơ bản;
  4. Khoa Sư phạm Kỹ thuật;
  5. Khoa Điện -điện tử;
  6. Khoa Cơ khí chế tạo máy;
  7. Khoa Cơ khí động lực;
  8. Khoa In và Truyền thông;
  9. Khoa Công nghệ thông tin;
  10. Khoa Xây dựng và Cơ học ứng dụng;
  11. Khoa CN may và thời trang;
  12. Khoa CN hoá học và thực phẩm;
  13. Khoa Ngoại ngữ;
  14. Khoa Kinh tế

Đào tạo sau Đại học[sửa | sửa mã nguồn]

Trường đã được Bộ Giáo dục & Đào tạo cho phép tuyển sinh trình độ thạc sĩ từ năm 1992. Tiếp tục phát huy thế mạnh truyền thống về các ngành khoa học, kỹ thuật, công nghệ, Trường đã mở thêm nhiều ngành mới, đến nay đã có 3 ngành đào tạo trình độ tiến sĩ, 8 ngành đào tạo trình độ thạc sĩ:

  • Trình độ Tiến sĩ:
  1. Kỹ thuật điện;
  2. Kỹ thụât cơ khí;
  3. Cơ kỹ thuật;
  • Trình độ Thạc sĩ:
  1. Kỹ thuật Cơ khí;
  2. Cơ kỹ thuật;
  3. Kỹ thuật Cơ khí động lúc;
  4. Kỹ thuật Nhiệt;
  5. Kỹ thuật Điện;
  6. Kỹ thuật Điện tử;
  7. Kỹ thụât xây dựng công trình dân dụng và công nghịêp;
  8. Lý luận và phương pháp dạy học;
  9. Giáo dục học;

Các ngành đào tạo trình độ Đại học[sửa | sửa mã nguồn]

Đi cùng với sự vận động và phát triển của nền kinh tế đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Trường đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh đã tiếp cận thực tế để mở rộng đào tạo 30 ngành đào tạo trình độ đại học:

Tòa nhà Trung tâm - Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh
Khuôn viên trước tòa nhà Trung tâm
  • Đào tạo Kỹ sư công nghệ (4 năm):
  1. Công nghệ kỹ thuật điện tử, truyền thông (Kỹ thuật điện, điện tử; Công nghệ điện tử viễn thông);
  2. Công nghệ kỹ thuật điện, điện tử (Điện công nghiệp);
  3. Công nghệ chế tạo máy (Cơ khí chế tạo máy, Thiết kế máy);
  4. Kỹ thuật công nghiệp;
  5. Công nghệ kỹ thuật cơ điện tử (Cơ điện tử, Cơ kỹ thuật);
  6. Công nghệ kỹ thuật cơ khí (Công nghệ tự động);
  7. Công nghệ kỹ thuật ôtô (Cơ khí động lực);
  8. Công nghệ kỹ thuật nhiệt (Kỹ thuật Nhiệt-Điện lạnh);
  9. Công nghệ in;
  10. Công nghệ thông tin;
  11. Công nghệ May;
  12. Công nghệ kỹ thuật công trình xây dựng (Xây dựng dân dụng và công nghiệp);
  13. Công nghệ kỹ thuật môi trường;
  14. Công nghệ kỹ thuật máy tính;
  15. Công nghệ kỹ thuật điều khiển và tự động hóa (Công nghệ điện tự động);
  16. Quản lý công nghiệp;
  17. Công nghệ thực phẩm;
  18. Kế toán;
  19. Kinh tế gia đình (Kỹ thuật nữ công);
  20. Thiết kế thời trang;
  21. Sư phạm tiếng Anh (Tiếng Anh).
  • Đào tạo trình độ đại học, các ngành sư phạm kỹ thuật (4.5 năm) (Học ngành sư phạm kỹ thuật được miễn học phí theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, sau khi ra trường được cấp 1 bằng Kỹ sư đúng chuyên ngành và 1 chứng chỉ sư phạm bậc 2):
  1. Sư phạm kỹ thuật điện tử, truyền thông;
  2. Sư phạm kỹ thuật điện, điện tử;
  3. Sư phạm kỹ thuật cơ khí;
  4. Sư phạm kỹ thuật công nghiệp
  5. Sư phạm kỹ thuật cơ điện tử;
  6. Sư phạm kỹ thuật ôtô;
  7. Sư phạm kỹ thuật nhiệt;
  8. Sư phạm kỹ thuật công nghệ thông tin;
  9. Sư phạm kỹ thuật xây dựng.

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Với những nỗ lực to lớn của nhiều thế hệ, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh đã vững bước phát triển về mọi mặt. Trường đã được Đảng và Nhà nước dành cho những phần thưởng sau đây:

  • Huân chương Lao động hạng Nhất (năm 2001), Huân chương Lao động hạng Nhì (năm 1996), Huân chương Lao động hạng Ba (năm 1985), Huân chương Độc lập hạng ba (năm 2007), Huân chương Độc lập hạng nhì (năm 2012)
  • Cờ thi đua của Chính phủ (năm 2008), Cờ thi đua của Bộ Giáo dục và Đào tạo (năm 2009).
  • Đảng bộ trường được công nhận là "Đảng bộ Trong sạch - Vững mạnh - Xuất sắc" 15 năm liền (1995-2009).
  • Công đoàn trường được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì (năm 2005), Huân chương Lao động hạng Ba (năm 2000); Công đoàn ngành Giáo dục Việt Nam và Liên đoàn Lao động Thành phố Hồ Chí Minh tặng cờ "Công đoàn cơ sở Vững mạnh Xuất sắc" trong 12 năm liên tục.
  • Đoàn Thanh niên được Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động hạng Ba năm 2004. Đoàn Thanh niên và Hội sinh viên là đơn vị xuất sắc trong khối các trường ĐH, CĐ khu vực Thành phố Hồ Chí Minh nhiều năm liền.
  • Nhiều đơn vị và các nhân của trường được Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo tặng bằng khen; có 12 giáo viên được phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú và nhiều cán bộ, viên chức được tặng Huy chương vì sự nghiệp Giáo dục.
  • Năm 2009, đội SPK - Knight của Trường vô địch giải Robocon Việt Nam và sau đó giành giải III cuộc thi Robocon Châu Á - Thái Bình Dương 2009 được tổ chức tại Tokyo

Định hướng phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

  • Là một trong tốp 10 trường đại học hàng đầu của Việt Nam theo các tiêu chí kiểm định chất lượng của Nhà nước, trên một số mặt ngang tầm với những trường có uy tín của các nước trong khu vực.
  • Sinh viên tốt nghiệp có việc làm phù hợp và phát huy được năng lực một cách tối đa để cống hiến cho xã hội.
  • Chương trình đào tạo có tính thích ứng cao, bằng cấp của Trường được công nhận một cách rộng rãi trong khu vực và thế giới.
  • Tạo được ảnh hưởng tích cực đến đời sống tinh thần và vật chất đối với xã hội, đặc biệt là đối với khu vực phía Nam.
  • Các mục tiêu cụ thể

Ðến năm 2015 sẽ đạt được những chỉ số cơ bản sau đây: Quy mô sinh viên: 30.000 SV. Tổng số CBVC: 1.475 (1.045 cơ hữu; 430 thỉnh giảng, bán thời gian, khoán việc). Về cơ cấu: 1.200 CBGD (850 cơ hữu, 350 thỉnh giảng). 275 CBPV (195 cơ hữu, 80 bán thời gian, khoán việc). Trình độ đội ngũ: 20% có trình độ Tiến sỹ. 60% có trình độ Thạc sỹ. Cơ sở vật chất: Diện tích đất bình quân/1 sinh viên: 30 m¬2/1SV. Diện tích xây dựng khu học tập bình quân/1 sinh viên: 6,0 m²/1SV. Tỷ lệ sinh viên chính quy ở nội trú: 60%.

Cơ sở vật chất[sửa | sửa mã nguồn]

Ký túc xá Sư phạm Kỹ thuật một chiều mưa

Mặt bằng

  • Cơ sở 1 (17 ha): số 1-3 Võ Văn Ngân, Quận Thủ Đức, Tp.Hồ Chí Minh.
  • Cơ sở 2 (7 ha): số 484 Lê Văn Việt Quận 9, Tp.Hồ Chí Minh

Phòng học:

  • Các phòng học chuyên đề và các phòng máy tính.
  • Một hội trường lớn 1.500 chỗ ngồi.
  • Tòa nhà trung tâm 12 tầng, có 1 tầng hầm vừa hoàn thành vào cuối năm 2011 với nhiều tiện nghi trang thiết bị và phòng học.
  • Hệ thống Phòng Thí nghiệm và xưởng Thực hành: hơn 50 phòng thí nghiệm và xưởng thực hành với đầy đủ phương tiện, trang thiết bị hiện đại cho sinh viên thực hiện từ các thí nghiệm cơ bản đến các thực hành kỹ năng chuyên sâu.

+ Sinh viên được làm thẻ thư viên đa năng, tích hợp thẻ mã vạch mượn sách, thẻ ngân hàng.

+ Sinh viên không phải mua giáo trình do thư viện trường đã chuẩn bị một lượng giáo trình lớn đủ cho sinh viên mượn, áp dụng từ năm 2004. Trong quá trình học, sinh viên có thể mượn thêm các sách tham khảo khác từ thư viện.

+ Trường có hệ thống đăng ký môn học linh hoạt, sinh viên toàn quyền quyết định thời lịch biểu, giáo viên, và thời gian học.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]