Trường Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Trường Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng được thành lập ngày 20 tháng 2 năm 1906 với tên gọi ban đầu là Trường Cơ Khí Á ChâuTrung học kỹ thuật Cao Thắng, một trường dạy nghề đầu tiên do thực dân Pháp xây dựng tại Sài Gòn [1].

Địa chỉ: 65 đường Huỳnh Thúc Kháng, Phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền thân của trường Cao Đẳng Kỹ Thuật Cao Thắng là trường Trung Học Kỹ thuật Cao Thắng được thành lập ngày 20/02/1906 với tên gọi ban đầu là trường Cơ Khí Á Châu, là một trong những trường dạy nghề đầu tiên do thực dân Pháp lập ra ở Nam bộ với mục đích đào tạo chuyên viên kỹ thuật sơ cấp hải quân và một số ngành kỹ thuật khác đáp ứng nhu cầu của kinh tế và chính quyền đương thời. Trường Cao Đẳng Kỹ Thuật Cao Thắng là Trường Cao Đẳng công lập

Hoạt động chính trị của học sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Học sinh trường CDKT Cao Thắng đã tham gia vào các phong trào biểu tình như bãi khóa, rải truyền đơn, cùng với các sinh viên - học sinh trường bạn và nhân dân Sài Gòn để tang cụ Phan Chu Trinh (1925), đòi tự do cho cụ Phan Bội Châu (1926), phản đối vụ bắt giam Nguyễn An Ninh (1926).

Lịch trình xây dựng[sửa | sửa mã nguồn]

NĂM 1906: Trường Cơ Khí Á Châu được khởi đầu xây cất với một gian nhà lợp thiếc tại góc đường De lattre de Tassigry và đại lộ Hàm Nghi hiện nay. Trong căn nhà lợp thiếc, chỉ có vẻn vẹn một xưởng cơ khí nhỏ, phía Đông nhà trường là kho xưởng hoả xa chạy đường Sài Gòn-Chợ Lớn. Lúc bấy giờ, chợ mới Sài gòn còn là một vũng sình lầy, đại lộ Nguyễn Huệ còn là một con kênh và xóm đường Huỳnh Thúc Kháng hãy còn là một khu rừng sậy.

NĂM 1907: Lúc đầu nhà trường chưa được trang bị đầy đủ nên phần thực hành phải nhờ đến cơ xưởng của trường Thực Nghiệp, tại đường Hồng Thập Tự bây giờ.

NĂM 1908: Giảng đường phía đại lộ De lattre de Tassigry được xây cất thêm: ở trên làm ký túc xá, ở dưới làm lớp học và kho vật liệu, máy móc. Chương trình học gồm có nhiều môn trong kỹ nghệ, nên dân chúng gọi trường Cơ Khí Á Châu là trường Bá Nghệ.

NĂM 1909: Một xưởng cơ khí sườn sắt lợp thiếc được xây cất, hiện nay hãy còn nguyên vẹn và dùng làm xưởng nguội, tiện, máy dụng cụ, cùng kho vật liệu tại góc đường De lattre de Tassigry và đại lộ Hàm Nghi.

NĂM 1911: Nhà trường có thêm 2 lớp học, hiện nay là tầng dưới dãy nhà chạy dài từ phía trước văn phòng đến phòng đọc sách học sinh bây giờ.

NĂM 1913: Nhà trường xây cất thêm tầng dưới dãy nhà bên trái cổng vào để làm văn phòng hiệu trưởng và văn phòng thư ký.

NĂM 1914: Đại chiến thế giới thứ nhất bùng nổ. Công việc xây cất và trang bị càng tiếp tục không ngừng. Ssuốt trong thời kỳ chiến tranh ấy, trường Cơ Khí Á Châu sản xuất rất nhiều tạc đạn 75 ly cho quân đội, cùng tuyển mộ và đào tạo một số đông thợ chuyên môn để sang Pháp tùng chinh.

NĂM 1916: Xây thêm tầng trên dãy nhà từ bồn kiểng đến phòng đọc sách học sinh để làm ký túc xá.

NĂM 1917: Dãy nhà trên được nối thêm cho đến xưởng máy. Tầng trên làm phòng ngủ, tầng dưới làm phòng ăn cho học sinh nội trú.

NĂM 1918: Phía trên văn phòng Hiệu trưởng được cất thêm lầu để làm phòng ngủ và phòng y tế cho học sinh.

NĂM 1919: Một biệt thự đội được xây dựng tại góc đường Pasteur và Huỳnh Thúc Kháng để làm nhà ở cho ông tổng giám thị và trưởng xưởng công xa.

NĂM 1922: khu xưởng Hoả xa được dời đi nơi khác. Trường Cơ Khí Á Châu nới rộng vị trí phía Đông đến đường Pasteur hiện giờ.

NĂM 1924: Nhà trường xây cất thêm dãy lầu có đồng hồ để làm nhà ở cho các giáo chức trên lâu, và nhà để công xa tầng trệt.

NĂM 1926: Một dãy cơ xưởng được dựng lên tiếp theo, để làm chỗ sửa công xa, xưởng máy, xưởng điện, xưởng gò và rèn. Như thế một dãy 5 xưởng hình thành như ta thấy ngày nay.

NĂM 1927: Một dãy nhà 16 căn được xây dựng tại đường Pasteur để làm cư xá cho nhân viên nhà trường.

NĂM 1931: Một giảng đường lớn được dựng lên, nối liền văn phòng hiện giờ với dãy nhà đã có từ năm 1916.

NĂM 1936: Một nhà lầu ở phía giữa, tức là ngay liền sau giảng đường nối liền với văn phòng được xây cất với mục đích làm ký túc xá và lớp học cho học sinh Pháp hay lai Phấp.

NĂM 1939: Thế giới đại chiến thứ 2 nổ bùng. Nhà trường tiếp tục hoạt động, nhưng không xây cất thêm. Ngày 24 thang 10 năm 1939,Ông Rosel, Hiệu trưởng sáng lập trường Cơ Khí Á Châu từ trần lúc tại chức và được ông Albert Simon thay thế, ông Albert Simon là một Đại uý Cơ Khí Hải quân. Để tri Ân người quá cố đã có công tạo lập ra trường Cơ Khí Á Châu, trường này được chính phủ cho mang thêm danh hiệu, “trường Rosel” (Ecole des mecaniciens-Ecole Rosel)

Năm 1940: Do đề nghị của ông Hiệu trưởng Albert Simon, trường Rosel đổi lại thành “Trường Kỹ Thuật Chuyên Môn” (Ecole Technique Spéciale).

Năm 1941: Ngày 26-12-1941,Trường Kỹ Thuật Chuyên Môn bị quân đội Nhật chiếm đóng cấp tốc và phải tạm dời về Hải quân Công xưởng gọi là Sở Ba Son. Nhà trường chiếm một khu nhà lợp lá gần vàm sông Thị Nghè và bắt đầu hoạt động lại từ 20 –01-1942.

Cũng trong năm ấy, ông Albert Simon bị động viên đi Hải Phòng và được ông Yves Germain thay thế. Ông Yves Germain cũng là một Dại uý cơ khí Hải quân.

Năm 1944: Dưới sự oanh tạc ráo riết của phi cơ Mỹ, nhà trường phải dọn vào tu viện. Séminaire tại đường Cường Để ngày 10-06-1944 đến 07-02-1945, trong các gian nhà của tu viện.

Năm 1945: Ngày 07-02-1945, quân đội Nhật đến chiếm đóng luôn tu viện, nhà trường bị giải tán cho đến ngay đại biến và tổng tản cư.

Năm 1946: Sau khi quân Nhật đầu hàng đồng minh và rút lui khỏi Đông Dương, quân Pháp trở lại chiếm cứ Việt Nam và thành lập chính phủ Nam Kỳ. Trường Kỹ Thuật Chuyên Môn lại trở về vị trí cũ, đường Huỳnh Thúc Kháng. ông Yves Germain trở lại làm Hiệu trưởng, lo tu bổ lại các lớp học và cơ xưởng.

Năm 1947: Nhà trường bắt đầu hoạt động lại như trước. ông Yves Germain về Pháp và ông Gérard Tabouillot, kỹ sư công nghệ đến thay. Nhà trường đổi tên mới là trường Trung Học Đệ Nhất Cấp.

Năm 1949: Ông Tabouillot về Pháp nghỉ phép và được ông Abrall thay thế trong 6 tháng. Ông Abrall từ trần lúc tại chức.

Năm 1950: Vị Hiệu trưởng người Việt Nam đầu tiên đến nhận chức là ông Nguyễn Cao Khoa, kỹ sư điện trường Grenoble, nhưng ông vẫn làm kỹ sư sở Hoả xa mà chỉ kiêm nhiệm Hiệu trưởng thôi.

Năm 1952: Ông Đỗ Văn Trà, Kỹ sư của Bộ công chính đến kiêm nhiệm chức Hiệu trưởng thay ông Nguyễn Cao Khoan.

Năm 1953: Nhà trường mở thêm một chi nhánh gồm 5 lớp đệ thất đặt tại Nha Kỹ Thuật và Mỹ Thuật Học Vụ -số 48 Phan Đình Phùng hiện giờ.

Năm 1954: Nhà trường bắt đầu mở thêm lớp đệ tam (đệ nhị cấp)

Năm 1956: Ngày 29 tháng 06 năm 1956, trường được đổi tên thành trường trung học kỹ thuật đệ nhị cấp Cao Thắng, có đủ các lớp đệ nhất cấp và đệ nhị cấp để dạy thi tú tài kỹ thuật toàn phần. Chi nhánh Phan Đình Phùng được dời luôn về trường trường trung học kỹ thuật đệ nhị cấp Cao Thắng.

Năm 1957: Ông Nguyễn Đăng Hoàng thanh tra kỹ thuật đến kiêm nhiệm Hiệu trưởng thay thế ông Đỗ Văn Trà từ ngày 16-09-1957 đến ngày 16-01-1958.

Năm 1958: Ngày 17–01-1958, ông Phạm Xuân Độ, thanh tra tiểu học, tốt nghiệp trường cao đẳng sư phạm Đông Dương, Cựu giám đốc học chính Bắc Việt và Cao nguyên đến nhận chức Hiệu trưởng chính thức đầu tiên của trường Trung Học Kỹ Thuật Cao Thắng. Nhà trường ngày càng khuếch trương thêm, dãy nhà nhân viên ở đường Pasteur được sửa chữa lại thành 6 lớp học và 4 phòng nhỏ.

Năm 1959: Nhà trường sửa soạn xây cất lại giảng đường phía lộ De lattre de Tassigry và nới rộng các cơ xưởng để tiếp nhận viện trợ tây Đức.

Năm 1960: Người Tây Đức đến dạy nghề tại trường cùng máy móc thiết bị, hệ thống tổ chức cùng cán bộ giảng dạy riêng của họ. Giảng đường A nói trên được xây dựng lại trong giai đoạn này.

Năm 1961: Người Tây Đức chuyển về trường kỹ thuật Đức Việt, tức trường Công Nghiệp Thủ Đức ngày nay, đem theo máy móc thiết bị(trừ một số máy công cụ và trang thiết bị cho xưởng cơ khí và xưởng kỹ nghệ sắt để tặng lại nhà trường như còn thấy hiện nay). Cũng trong năm này, ông Cao Thành Danh, kỹ sư, đến nhận chức Hiệu trưởng thay ông Độ.

Năm 1965: Ông Lê Đình Viện, master of Education đến nhận chức Hiệu trưởng.

Năm 1967: Ông Nguyễn Hồng Lam, Kỹ sư công nghệ đến nhận chức hiệu trưởng. Ngày 30-04-1975 Đất nước hoàn toàn giải phóng, nhà trường chuyển thành nhà trường xã hội chủ nghĩa, Hiệu trưởng là ông Trần Hữu Tám-chuyên viên kỹ thuật (cựu học sinh của trường khoá 1932-1935).

Năm 1976: Một dãy nhà để xe cho CBCNV HS đã được xây dựng.

Năm 1980: Dãy nhà A được phá bỏ, thay thế vào đó là một khối nhà cao tầng.

Năm 1981: Ông Đinh Văn Mộng-kỹ sư cơ khí nhận chức Hiệu trưởng, thay ông Trần Hữu Tám nghỉ hưu. Tháng 7 năm 1982, trường được bộ chủ quản chấp thuận đổi tên trường thành “Trường Kỹ Thuật Cao Thắng”. Nghề điện được mở lớp đào tạo lại sau thời gian gián đoạn từ năm1978.

Năm 1985: Phòng truyền thống với những tư liệu quý giá về học tập và tham gia đấu tranh của học sinh nhà trường đã hoàn thành, nhằm mục đích giáo dục đối với học sinh trường.

Năm 1989: Ông Võ Hồng Thái, kỹ sư Cơ Khí Ô Tô, nhận chức Hiệu trưởng thay Ông Mộng chuyển công tác. Các lớp Điện Tử, trung học ô Tô, trung học Điện được mở ra từ năm này. Cũng trong năm này, hai hội trường A và B được cải tạo khang trang hơn.

Năm 1991: Dãy nhà dùng làm kho và nơi để ô tô đã được phá dỡ và trên nền nhà này, một sân chơi thể thao đã được hoàn thành.

Năm 1995: Tu chỉnh lại phòng truyền thống.

Năm 1997: Nâng tầng dãy nhà D.

Năm 2000: 1-10-2000, thạc sĩ Đào Khánh Dư nhận chức Hiệu Trưởng thay ông Võ Hồng Thái nghỉ hưu. Xây dựng khu nhà B-5 tầng (khởi công từ 7/2000 hoàn thành tháng 2/2001). tăng thêm 16 phòng học.

Năm 2003: Xây dựng nhà A làm hội trường, các phòng học Cơ điện tử, CAD/CAM, CNC và phòng học của khoa Điện Tử Tin học.

Năm 2004: Ngày 19 tháng 10 năm 2004. Bộ trưởng Bộ Giáo Dục Đào Tạo ký quyết định số 6034/QĐ-BGD & ĐT – TCCB thành lập trường Cao Đẳng Kỹ Thuật Cao Thắng trên cơ sở trường Kỹ Thuật Cao Thắng. Tháng 12 khởi công xây dựng đơn nguyên 1 tòa nhà 7 tầng lầu có tầng hầm.

Năm 2008: Hoàn thành đơn nguyên II nhà F 7 tầng có tầng hầm để xe, có 03 thang máy.

Năm 2013: Khởi công XD nhà Đa năng 7 tầng có 2 tầng hầm hiện đại.

Tên trường - Hiệu trưởng qua các giai đoạn[sửa | sửa mã nguồn]

1906-1939: École des méchaniciens asiatiques - Ông EMMANUEL ROSEL (Kỹ sư Công Nghệ, Đại tá Hải quân)

1939-1942: École technique speciale - Ông ALBERT SIMON (Kỹ sư Cơ Khí, Đại úy Hải quân)

1942-1946: École technique speciale - Ông YVES GERMAIN (Kỹ sư Cơ Khí, Đại úy Hải quân)

1946-1950: Collège technique - Ông GÉRARD TABOUILLIOT (Kỹ sư Công Nghệ

1950-1952: Collège technique - Ông NGUYỄN CAO KHOAN (Kỹ sư Điện VIOLET

1952-1957: Trường trung học kỹ thuật đệ nhị cấp Cao Thắng - Ông ĐỖ VĂN TRÀ (Kỹ sư Điện I.K.G)

1957-1958: Trường trung học kỹ thuật đệ nhị cấp Cao Thắng - Ông NGUYỄN ĐĂNG HOÀNG (Kỹ sư Công chánh)

1958-1961: Trường trung học kỹ thuật Cao Thắng - Ông PHẠM XUÂN ĐỘ (Giáo sư Thanh tra Học chính)

1961-1964: Trường trung học kỹ thuật Cao Thắng - Ông CAO THANH ĐẢNH (KỸ sư E.N.S.M)

1964-1965: Trường trung học kỹ thuật Cao Thắng - Ông NGUYỄN TẤN PHÁT (KỸ sư E.N.S.M)

1965-1967: Trường trung học kỹ thuật Cao Thắng - Ông LÊ ĐÌNH VIỆN (Master of Education)

1967-1975: Trường trung học kỹ thuật Cao Thắng - Ông NGUYỄN HỒNG LAM (Kỹ Sư Công Nghệ)

1975-1980: Trường trung học kỹ thuật Cao Thắng - Ông TRẦN HỮU TÁM (Chuyên viên kỹ thuật)

1981-1982: Trường trung học kỹ thuật Cao Thắng - Ông ĐINH VĂN MỘNG (Kỹ sư Cơ Khí)

1982-1988: Trường kỹ thuật Cao Thắng - Ông ĐINH VĂN MỘNG (Kỹ sư Cơ Khí)

1989-2000: Trường kỹ thuật Cao Thắng - Ông VÕ HỒNG THÁI (Kỹ Sư Cơ Khí Ô Tô)

2000-2004: Trường kỹ thuật Cao Thắng - Ông ĐÀO KHÁNH DƯ 2004-nay: Trường cao đẳng kỹ thuật Cao Thắng.

Cơ cấu tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Ban Giám hiệu:

Mục tiêu đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

1. Cơ Khí

Chương trình đào tạo ngành Cơ khí chế tạo máy trình độ CĐ trang bị cho người học những kiến thức cơ bản có khả năng áp dụng những nguyên lý kỹ thuật để đảm đương công việc của người kỹ thuật viên Cơ khí chế tạo máy.

SV được trang bị đầy đủ kiến thức giáo dục đại cương, kiến thức cơ sở ngành và kiến thức ngành, có kỹ năng thực hành cao trong các lĩnh vực:

- Sản xuất phụ tùng, phụ kiện và lắp ráp các loại máy công cụ - Nghiên cứu cải tiến để nâng cao hiệu suất sử dụng các loại máy công cụ - Đánh giá, xây dựng các qui trình công nghệ gia công cơ - Quản lý điều hành sản xuất, kinh doanh và tham gia lập các dự án liên quan.

Sau khi tốt nghiệp các kỹ thuật viên ngành Cơ khí chế tạo máy có thể đảm nhiệm các công việc tại các nhà máy sản xuất công nghiệp nặng, các cơ sở sản xuất cơ khí, các đơn vị hành chánh quản lý về kỹ thuật cơ khí, công ty kinh doanh máy công cụ, phụ tùng.

2. Cơ Khí Động Lực

Chương trình đào tạo ngành Công nghệ ôtô trình độ CĐ trang bị cho người học những kiến thức cơ bản có khả năng áp dụng những nguyên lý kỹ thuật để đảm đương công việc của kỹ thuật viên Công nghệ ôtô.

SV được trang bị đầy đủ kiến thức giáo dục đại cương, kiến thức cơ sở ngành và kiến thức ngành, có kỹ năng thực hành cao trong các lĩnh vực:

- Khai thác, sử dụng và dịch vụ kỹ thuật ôtô - Kiểm định và thử nghiệm ôtô - Sản xuất phụ tùng, phụ kiện và lắp ráp ôtô - Nghiên cứu cải tiến để nâng cao hiệu quả sử dụng ôtô - Đánh giá, xây dựng các qui trình công nghệ - Quản lý điều hành sản xuất, kinh doanh và tham gia lập các dự án liên quan.

Sau khi tốt nghiệp các kỹ thuật viên công nghệ ôtô có thể đảm nhiệm các công việc tại các nhà máy sản xuất phụ tùng, phụ kiện và lắp ráp ôtô, các cơ sở sửa chữa ôtô, các trạm đăng kiểm, các đơn vị hành chánh quản lý về kỹ thuật ôtô, cơ sở kinh doanh ôtô, máy động lực, phụ tùng.

3. Điện – Điện Lạnh

+ Công nghệ kỹ thuật điện

Sau khi học xong chương trình đào tạo ngành CĐ công nghệ kỹ thuật điện người cử nhân CĐ có khả năng:

- Tính toán, thiết kế, sửa chữa các hệ thống điện cho các khu công nghiệp, xí nghiệp sản xuất, các khu nhà ở - Mô tả, phân tích các quá trình làm việc của các loại máy điện thông dụng - Sửa chữa thay thế các loại máy điện thông dụng trong công nghiệp và dân dụng - Thiết kế, thi công, phân tích được hệ thống tự động hóa đơn giản trong công nghiệp, sử dụng thành thạo các thiết bị tự động điều khiển khả lập trình (PLC) - Phân tích, thi công, sửa chữa được các mạch điện – điện tử trang bị trong các máy móc, thiết bị công nghiệp - Sử dụng thành thạo các thiết bị đo lường điện, không điện và cảm biến hiện đại - Phân tích thi công các board mạch Điện tử thông dụng và có khả năng thiết kế,thi công các board vi xử lý - Thực hiện tốt nhiệm vụ của người thợ có tay nghề 3/7.

+ Công nghệ kỹ thuật nhiệt lạnh

Sau khi học xong chương trình đào tạo ngành CĐ công nghệ kỹ thuật nhiệt lạnh người cử nhân CĐ có khả năng:

- Trình bày và phân tích được các vấn đề khoa học về nhiệt động, truyền nhiệt, kỹ thuật lạnh, thông gió điều hòa không khí - Mô tả, phân tích một cách chính xác các thiết bị lạnh, sấy, mạng nhiệt, các phần tử trong hệ thống nhiệt, hệ thống điện - Đọc và vẽ một cách thành thạo các bản vẽ về chi tiết máy, bản vẽ cấu tạo nguyên lý của một hệ thống lạnh, hệ thống điện - Tính toán và thiết kế hoàn chỉnh một hệ thống nhiệt theo yêu cầu - Phân tích chính xác một hệ thống tự động điều khiển trong hệ thống lạnh, sử dụng một cách thành thạo thiết bị tự động điều khiển khả lập trình (PLC) - Phân tích, thi công, sửa chữa được các mạch điện – điện tử trang bị trong các máy móc, thiết bị công nghiệp - Sử dụng thành thạo các thiết bị đo lường điện, không điện và cảm biến hiện đại - Phân tích thi công các board mạch Điện tử thông dụng - Thực hiện tốt nhiệm vụ của người thợ có tay nghề 3/7.

4. Kh

+ Công nghệ kỹ thuật điện tử:

Sau khi tốt nghiệp, SV sẽ có một cơ sở vững chắc về điện tử công nghiệp. Cụ thể có các khả năng sau: Phân tích và thiết kế hệ thống mạch điện tử trong công nghiệp. Có khả năng nắm bắt được các công nghệ mới, biết tổ chức quản lý sản xuất, đảm bảo an toàn lao động và vệ sinh công nghiệp. Có khả năng thiết lập, lắp ráp, sửa chữa các thiết bị điện & điện tử công nghiệp, điều khiển tự động công nghiệp. Biết lập trình PLC, vi xử lý.

+ Tin Học:

Theo kế hoạch giảng dạy của trường, sau khi tốt nghiệp CĐ Công nghệ thông tin, SV sẽ có các khả năng: Phân tích và thiết kế hệ thống thông tin quản lý, lập trình được một ứng dụng quản lý cụ thể với những công cụ lập trình hiện đại. Lắp đặt và bảo trì máy tính và mạng máy tính. Quản lý được hệ thống mạng. Bảo trì được các thiết bị ngoại vi thông dụng. Đảm nhận các công việc tin học văn phòng, đồ họa. Tham gia giảng dạy tại các trung tâm tin học, các trường tiểu học, Trung học cơ sở, Trung hoc phổ thông.

Thành tích đạt được[sửa | sửa mã nguồn]

- 03 huân chương Lao dộng hạng Ba (1985, 1996, 2006)

- Huân chương Chiến công hạng Nhì (1990)

- Huân chương Lao động hạng Nhất (1996)

- 05 nhà giáo ưu tú và 36 huân chương Vì sự nghiệp GD

- Huân chương Độc lập hạng Ba (2001)

- Huân chương Độc lập hạng Nhất (2006)

- Trường liên tục được công nhận là Trường Tiên tiến XS.

Những học sinh tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]