Trường Trung học phổ thông Chuyên Đại học Sư phạm Hà Nội

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trường thpt Chuyên
Đại học Sư phạm Hà Nội
Tên gọi khác Chuyên Sư phạm
Thành lập 1966
Loại hình Trung học phổ thông chuyên
Hiệu trưởng Tiến sĩ Nguyễn Đức Hoàng
Hiệu phó Thạc sĩ Vũ Minh Tiến
Thạc sĩ Nguyễn Bá Bình
Giáo viên 80
Học sinh ~1100 [1]
Địa chỉ 136 Xuân Thuỷ, Quận Cầu Giấy, Thành phố = Hà Nội
Vị trí , Việt Nam
Trang web truongchuyensupham.edu.vn
Diễn đàn

Tọa độ: 21°02′16″B 105°47′02″Đ / 21,03777°B 105,784°Đ / 21.03777; 105.784 Trường Trung học Phổ thông Chuyên, Đại học Sư phạm Hà Nội, tiền thân là Khối Trung học Phổ Thông Chuyên Toán-Tin của trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tên thường gọi: Phổ thông Chuyên Sư phạm hay Chuyên Sư phạm, là một trường chuyên công lập chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Hà Nội, Việt Nam, trực thuộc Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Được thành lập vào năm 1966, ban đầu, mục tiêu của Trường là bồi dưỡng những học sinh Việt Nam xuất sắc về toán học. Sau một số đợt mở rộng quy mô, Trường hiện là cơ sở đào tạo đa lĩnh vực dành cho các học sinh có năng khiếu về: toán học, vật lý, hóa học, sinh học, tin học, văn họctiếng Anh.

Là một trường Trung học phổ thông nổi tiếng tại Việt Nam, Chuyên Sư phạm đã đào tạo nhiều nhà khoa học hàng đầu cũng như nhà quản lý, chính trị gia, kỹ sư công nghệ nổi tiếng..... Theo thống kê không chính thức, Trường Chuyên Đại học Sư phạm Hà Nội là một trong những trường Trung học phổ thông có tỉ lệ cựu học sinh có học vị tiến sĩ và thạc sĩ cao nhất Việt Nam.

Hàng năm, Trường nằm trong tốp đứng đầu về tỉ lệ học sinh được nhận học vào các trường đại học uy tín trong nước. Trường có thành tích tham dự các thì thi Toán học Quốc tế (IMO) đứng thứ hai tại Việt Nam, sau Trường thpt Chuyên, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, và là một trong những trường Trung học phổ thông Việt Nam có thành tích cao nhất trong các kì thi Olympic Khoa học Quốc tế.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời gian Chiến tranh Việt Nam, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa đã giao cho Bộ Giáo dục trách nhiệm phải thành lập những trường đặc biệt dành cho các học sinh có năng khiếu về Toán học, nhằm chuẩn bị lực lượng nòng cốt cho nền khoa học sau này. Với tư cách của một viện giáo dục quốc gia, chuyên đào tạo đội ngũ các giảng viên và nhà nghiên cứu khoa học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội được giao nhiệm vụ thành lập một trường như vậy. Vào ngày 24 tháng 12 năm 1966, lớp Toán đặc biệt của của Trường Đại học Sư phạm đã được mở cho ba mươi ba học sinh giỏi toán ở khu vực di tán tại Huyện Phù Cừ, Tỉnh Hưng Yên. Lớp học đó chính là tiền thân của Trường Trung học phổ thông Chuyên Đại học Sư phạm Hà Nội ngày nay.

Quá trình phát triển của Trường Trung học phổ thông Chuyên Đại học Sư phạm có thể được chia làm ba giai đoạn chính:

  • Từ 1966 đến 1995, Trường có tên là "Khối Phổ thông Chuyên toán, Đại học Sư phạm Hà Nội I", nằm dưới sự quản lý của Khoa toán, trường Đại học Sư Phạm Hà Nội I.
  • Năm 1995, Khối đổi tên thành: "Hệ Trung học Phổ thông Chuyên Toán-Tin, Đại học Sư phạm Hà Nội", vẫn nằm dưới sự quản lý của Khoa Toán-Tin và mở thêm lớp chuyên tin học.
  • Năm 2005, Hệ Trung học phổ thông Chuyên lấy tên chính thức: "Khối thpt Chuyên Đại học Sư Phạm Hà Nội", hoạt động với tư cách một khoa của Đại học Sư phạm Hà Nội và mở rộng lần hai với những lớp chuyên về văn học, vật lý, hóa học và sinh học.
  • Năm 2009, Đơn vị này chính thức trở thành một đơn vị có tư cách pháp nhân riêng thuộc Đại học Sư phạm Hà Nội với tên gọi Trường Trung học phổ thông Chuyên, Đại học Sư phạm.[2].

Chuyên Sư phạm đã được Chính phủ trao tặng:

  • Huân chương Lao động hạng ba, năm 1986.
  • Huân chương Lao động hạng hai, năm 1996.
  • Huân chương Lao động hạng nhất, năm 2001.
  • Bằng khen của TW Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, năm 2004.
  • Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, năm 2005.
  • Bằng khen của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về thành tích đào tạo học sinh giỏi, năm 2008.
  • Bằng khen của TW Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, năm 2011.

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Tuyển sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Trong giai đoạn từ ngày đầu thành lập đến thập niên 1980, Trường Trung học phổ thông Chuyên Đại học Sư phạm không trực tiếp đứng ra tuyển sinh; công việc này Bộ Giáo dục và Đào tạo đảm nhiệm. Trong giai đoạn đó, các học sinh có khả năng toán học đặc biệt xuất sắc (từ tỉnh Nam Định trở ra bắc) được địa phương giới thiệu lên Bộ Giáo dục và tham dự kì thi vào "trường chuyên của bộ". Những học sinh trúng tuyển sẽ được phân về một trong hai Trường: Khối Trung học phổ thông Chuyên Toán Đại học Sư phạm I và Khối thpt Chuyên Toán của Đại học Tổng hợp[3]. Kể từ cuối thập niên 1980, với làn sóng xóa bỏ cơ chế bao cấp, Chuyên Sư phạm và Chuyên Tổng hợp tiến hành tuyển sinh độc lập.

Hiện nay, Trường Trung học phổ thông Chuyên Đại học Sư phạm Hà Nội, với tư cách trường Trung học phổ thông chuyên cấp quốc gia, là một trong số ít các trường Trung học phổ thông công lập của Việt Nam được tổ chức thi tuyển trong cả nước[4]. Hàng năm, kì thi tuyển sinh của Trường diễn vào khoảng tháng 6, thu hút hàng nghìn học sinh trên cả nước tham gia và có tính cạnh tranh khá cao[5][6].

Đợt thi diễn ra trong hai ngày: Ngày thi thứ nhất, thí sinh phải làm hai bài thi bắt buộc (tiếng Việttoán học), ngày thứ hai, thí sinh làm bài thi tự chọn (trong số: toán học, văn học, vật lý, hóa học, sinh học, Tiếng Anh) tương ứng với môn chuyên mình muốn theo học (thí sinh dự thi chuyên tin làm bài thi toán với một câu hỏi riêng).

Kì thi này nhằm đánh giá các kĩ năng cơ bản của thí sinh như: khả năng suy luận lô-gic, kĩ năng tính toán, kĩ năng đọc và viết, bên cạnh việc kiểm tra kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực muốn theo học.

Trong mỗi đợt thi này, số học sinh được tuyển vào mỗi lớp tối đa là 40 học sinh[4]. Các học sinh đạt điểm cao trong kì thi tuyển sinh sẽ được nhận học bổng cho kì học đầu tiên tại Trường[7].

Mô hình giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Học sinh của Trường được chia thành những lớp theo các môn học: Toán học (2 lớp: Toán 1 và Toán 2), Văn học, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Tin họcTiếng Anh (2 lớp: Anh1 và Anh 2). Học sinh sẽ được tăng cường môn chuyên với số tiết học lớn hơn chương trình học của học sinh bình thường. Bên cạnh các tiết học môn chuyên chính trên lớp, học sinh còn được tham dự các buổi học chuyên đề (hay còn gọi là "seminar"), ở đó, học sinh sẽ được nghiên cứu, trình bày các ý tưởng về môn học mình yêu thích.

Bên cạnh chương trình học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, học sinh còn được tạo điều kiện đi thực tế hoặc tham gia các buổi hội thảo với những nhà nghiên cứu. Các học sinh đặc biệt xuất sắc sẽ được nhà trường giới thiệu để học tập riêng với các chuyên gia. Học sinh được khuyến khích tham gia các kì thi học sinh giỏi của Bộ Giáo dục cũng như các kì thi khác, trong nước và quốc tế[8][9].

Bắt đầu từ năm học 2010-2011, nhà trường sẽ tuyển sinh 2 lớp Phổ thông chất lượng cao.

Ngoài ra, học sinh được khuyến khích tham gia những hoạt động ngoại khóa, các câu lạc bộ cũng như các hoạt động phục vụ cộng đồng để có thể phát triển đồng đều về thể chất lẫn tinh thần.

Giáo viên[sửa | sửa mã nguồn]

Trong giai đoạn cuối thập niên 1980 trở về trước, giáo viên giảng dạy tại Khối Chuyên Toán của Đại học Sư phạm Hà Nội được Bộ Giáo dục tuyển chọn từ những nhà giáo, nhà khoa học uy tín và có kinh nghiệm giảng dạy lâu năm để phân công công tác. Từ đầu thập niên 1990, công việc này được Chuyên Sư phạm tự chủ.

Trong số các giáo viên biên chế chính thức của Trường, hiện có 7 tiến sĩ, 25 thạc sĩ[10]. Nhiều người là các giảng viên đào tạo đội tuyển quốc gia, thành viên ban biên soạn chương trình sách giáo khoa trung học phổ thông, sách giáo khoa Trung học phổ thông chuyên, giáo trình các trường đại học cũng như các đề thi đại học và tốt nghiệp Trung học phổ thông.

Bên cạnh đó, nhiều giảng viên các trường đại học, các chuyên gia tại các viện nghiên cứu cũng tham gia giảng dạy tại Trường.

Cơ sở vật chất[sửa | sửa mã nguồn]

Phòng học[sửa | sửa mã nguồn]

Khu nhà chính của Trường hiện giờ gồm 16 lớp học và một phòng đa phương tiện. Để có thể tạo cho học sinh điều kiện thuận lợi để học tập, toàn khu nhà đã được phủ sóng mạng không dây.

Thư viện[sửa | sửa mã nguồn]

Thư viện của Đại học Sư phạm Hà Nội

Học sinh của Trường Chuyên được sử dụng thư viện của Đại học Sư phạm cho mục tiêu học tập và nghiên cứu. Được xây dựng vào năm 2001, thư viện có diện tích hơn 6000 m², với hơn 31 phòng, được trang bị những thiết bị hiện đại, có khả năng đáp ứng được như cầu tham khảo và nghiên cứu của giáo viên và học sinh. Học sinh và giáo viên của Trường có thế truy cập vào kho tài liệu phong phú gồm sách, báo, tạp chí, các băng đĩa tiếng và hình, tài nguyên Internet v.v. Đặc biệt, học sinh có thể sử dụng hệ thống điện tử để tra cứu và mượn sách trực tuyến[11].

Phòng thí nghiệm[sửa | sửa mã nguồn]

Có hai phòng tin học để học sinh có thể thực hành môn tin học và sử dụng để nghiên cứu, tham khảo hoặc giải trí. Các máy tính đều được kết nối Internet. Tuy thế, hiện nay Chuyên Sư phạm vẫn chưa có phòng thí nghiệm riêng cho các thí nghiệm vật lý, hóa học và sinh học nên học sinh của Trường phải sử dụng các phòng thí nghiệm của trường đại học.

Kí túc xá[sửa | sửa mã nguồn]

Những học sinh sống xa nhà được Trường bố trí ở phòng kí túc xá với mức giá hợp lý. Xung quanh khu vực kí túc xá có các điểm truy cập Internet, căng-tin, cửa hàng tạp hóa và đặc biệt là ở gần thư viện, giúp học sinh thuận tiện hơn trong quá trình sinh hoạt và học tập.

Sân vận động[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện tại, học sinh sử dụng sân vận động của trường Đại học Sư Phạm Hà Nội để luyện tập cũng như tổ chức các giải thi đấu thể thao.

Cuộc sống của học sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc sống của học sinh Trường có những nét đặc trưng mà ít học sinh trường Trung học phổ thông nào khác có được. Trước hết, học sinh trong trường đến từ nhiều vùng đất khác nhau trên cả nước với những hoàn cảnh rất khác nhau, điều đó tạo nên một môi trường đa dạng về văn hóa. Bên cạnh đó, với qui mô trường tương đối nhỏ (khoảng 1100 học sinh, so với hàng nghìn học sinh tại các trường Trung học phổ thông cỡ vừa khác), không khí trong trường thường được học sinh và phụ huynh đánh giá là gần gũi và thân mật.

SAGS- Studying Abroad for Gifted Students[sửa | sửa mã nguồn]

SAGS là tên viết tắt của tổ chức định hướng du học và phát triển Tiếng Anh do học sinh trường chuyên Sư Phạm thành lập ngày 19 tháng 11 năm 2008 dưới sự quản lí của tổ Tiếng Anh trường chuyên ĐHSP. Tuy mới thành lập không lâu nhưng SAGS đã có nhiều thành viên đã và đang du học tại các nước có nền giáo dục tiên tiến, không những thế tổ chức còn giúp nâng cao khả năng tiếng Anh của học sinh trong trường qua câu lạc bộ Tiếng Anh, trang facebook "the ySAGS" (trang chia sẻ các kinh nghiệm Tiếng Anh, clip học Tiếng Anh..). Không chỉ dừng lại ở việc giúp đỡ Tiếng Anh và du học cho các bạn học sinh, SAGS còn là tổ chức thường xuyên tổ chức các hoạt động ngoại khóa cho trường như: Cuộc thi hát Tiếng Anh " Stereo Hearts";U-talk English Speaking Contest; Halloween; Christmas;...và là cầu nối giúp các bạn học sinh tham gia các hoạt động tình nguyện bổ ích tại các trại trẻ, viện mồ côi hay hoạt động tình nguyện như "Youth Day"... SAGS luôn là nơi hội tụ những thành viên giỏi và năng động, không những đạt được nhiều thành tích học tập cho trường mà còn là những người làm phong phú hoạt động ngoại khóa của trường Chuyên Sư Phạm.

PTCMedia[sửa | sửa mã nguồn]

PTCMedia, tiền thân là tạp chí PTCTimes, là tổ chức lâu đời nhất của học sinh Trường Trung học phổ thông Chuyên Đại học Sư phạm Hà Nội, thành lập vào tháng 09 năm 2006. Được các thế hệ học sinh từ lớp 10 đến lớp 12 xây dựng và phát triển dưới sự quản lý của Đoàn trường, PTCMedia hướng về tổ chức, hỗ trợ các hoạt động thuộc mảng thông tin, truyền thông nhằm tạo nên môi trường giáo dục toàn diện, hiệu quả cho Chuyên Sư phạm. Trải qua 5 năm, PTCMedia ngày càng mở rộng về qui mô, số lượng và nâng cao chất lượng các hoạt động của mình. Tới nay, PTCMedia đã xuất bản được 20 số tạp chí PTCTimes (và PTCTimes 20+ ấn bản đặc biệt chào mừng 2014), cho ra đời Kỉ yếu K42 (bản online)[12].,và Kỉ yếu K43 (bản giấy) phát triển nhiều kênh thông tin khác như TV, web, truyền thanh; điều hành trang Facebook của trường; tham gia, đưa tin, tổ chức các hoạt động trong Trường Trung học phổ thông Chuyên nói riêng cũng như trong Đại học Sư phạm Hà Nội nói chung; đồng thời bảo trợ thông tin và tham gia xây dựng, giúp đỡ nhiều câu lạc bộ khác. PTCMedia hiện là một tổ chức có ảnh hưởng lớn trong học tập, hoạt động và đời sống của học sinh Chuyên Sư phạm cũng như nhiều trường Trung học phổ thông khác trên địa bàn Hà Nội.

Hoạt động ngoại khóa[sửa | sửa mã nguồn]

Trước đây, do học sinh của Trường rất chú trọng tới việc học tập nên các hoạt động ngoại khóa của Trường không được phong phú như tại các trường Trung học phổ thông khác. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay các hoạt động này được tổ chức đầy đủ để học sinh có thể phát triển đầy đủ cả thể chất, tinh thần, sức khỏe và nhân cách. Các hoạt động đều được giao cho học sinh phụ trách và tổ chức với sự hỗ trợ từ phía Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trường Trung học phổ thông Chuyên ĐHSP, nhằm tạo cho học sinh sự năng động, kinh nghiệm cũng như tinh thần trách nhiệm và để học sinh phát huy được tối đa các khả năng của mình.

  • Các giải thi đấu thể thao: Trong suốt năm học, học sinh có thể tham dự các giải đá bóng, cầu lông hay cầu trinh. Những hoạt động ngoại khóa này giúp cho học sinh tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau và rèn luyện thể chất. Đội vô địch sẽ đại diện cho trường trong những giải thi đấu của các trường phổ thông trong Hà Nội.
  • Cắm trại và tham quan: Cuối năm học, trường thường xuyên tổ chức những cuộc du lịch ngắn cho học sinh hoặc có thể thay thế bằng cắm trại trong một số dịp.
  • Câu lạc bộ: Học sinh có thể tham gia các câu lạc bộ thể thao (gồm các bộ môn cầu lông, bóng bàn, bóng đá, bóng chuyền, cờ, aerobic, rubic), câu lạc bộ Âm nhạc MCCM hoặc câu lạc bộ tiếng Anh.

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Tuyển sinh vào đại học[sửa | sửa mã nguồn]

Hàng năm, 100% học sinh của Chuyên Sư phạm qua kì thi đại học và được nhận vào những trường đại học uy tín của Việt Nam. Điểm trung bình của học sinh Trường luôn đứng trong top đầu trong các trường Trung học phổ thông ở Việt Nam[13][14] với nhiều thủ khoa[15][16]. Nhiều học sinh của Trường cũng dẫn đầu tại các trường đại học[17].

Sau khi ra trường, rất nhiều học sinh của Trường tiếp tục học tập tại các trường đại học nước ngoài. Một số lượng đáng kể các cựu học sinh đang học tập tại các đại học đẳng cấp thế giới như Đại học Brown, Học viện Kinh tế - Chính trị London, Đại học Stanford, Đại học Cambridge, Đại học California tại Berkeley, Imperial College London, Đại học Bách khoa Paris, École normale supérieure, Đại học Quốc gia Moskva, Đại học Tokyo, Đại học Quốc gia Singapore, Đại học Quốc gia Úc, v.v. Một số học sinh của Trường còn dẫn đầu tại các trường đại học này[18][19][20].

Kì thi học sinh giỏi quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Là một trường chuyên cấp quốc gia, các đội tuyển của Chuyên Sư phạm được tham dự thực tiếp kì thi học sinh giỏi quốc gia mà không phải tham gia các kì thi cấp tỉnh và thành phố. Kể từ ngày thành lập, Chuyên Sư phạm đã giành hơn 500 giải, chủ yếu là Toán và Tin học, bao gồm khoảng 50 giải nhất.

Olympic khoa học quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

44 học sinh của Chuyên Sư phạm đã giành huy chương trong các kì thi Olympic quốc tế (tỉ lệ giành huy chương là 100%) như Olympic Toán Quốc tế (IMO), Olympic Toán học Châu Á Thái Bình Dương (APMO) và Olympic Tin học Quốc tế (IOI). Một số đã đạt được những kỉ lục như: Vũ Ngọc Minh hai lần đoạt huy chương vàng IMO (lần thứ 42 và 43)[21]; Đinh Tiến Cường đạt điểm tuyệt đối 42/42 trong IMO lần thứ 30[22]; 14 năm sau, Nguyễn Trọng Cảnh lặp lại kỉ lục này[23].

Olympic Toán học Quốc tế[24][sửa | sửa mã nguồn]

  • Olympic Toán học quốc tế lần thứ 16 ở Cộng hòa Dân chủ Đức, năm 1974
    • Vũ Đình Hòa – Huy chương bạc
    • Tạ Hồng Quảng – Huy chương đồng
  • Olympic Toán học quốc tế lần thứ 18 ở Áo, năm 1976
    • Lê Ngọc Minh – Huy chương đồng
  • Olympic Toán học quốc tế lần thứ 20 ở România, năm 1978
    • Vũ Kim Tuấn – Huy chương bạc
    • Nguyễn Thanh Tùng – Huy chương bạc
    • Đỗ Đức Thái – Huy chương đồng
  • Olympic Toán học quốc tế lần thứ 21 ở Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, năm 1979
    • Bùi Tá Long – Huy chương bạc
  • Olympic Toán học quốc tế lần thứ 24 ở Pháp, năm 1983
    • Trần Tuấn Hiệp – Huy chương bạc
    • Phạm Thanh Phương– Huy chương đồng
  • Olympic Toán học quốc tế lần thứ 25 ở Cộng hòa SécSlovakia, năm 1984
    • Đỗ Quang Đại – Huy chương bạc
  • Olympic Toán học quốc tế lần thứ 27 ở Ba Lan, năm 1986
    • Hà Anh Vũ – Huy chương vàng
    • Nguyễn Phương Tuấn – Huy chương bạc
  • Olympic Toán học quốc tế lần thứ 28 ở Cuba, năm 1987
    • Trần Trọng Hùng – Huy chương bạc
  • Olympic Toán học quốc tế lần thứ 29 ở Úc, năm 1988
    • Trần Trọng Hùng – Huy chương bạc
  • Olympic Toán học quốc tế lần thứ 30 ở Đức, năm 1989
  • Olympic Toán học quốc tế lần thứ 31 ở Trung Quốc, năm 1990
    • Nguyễn Tường Lâm – Huy chương đồng
  • Olympic Toán học quốc tế lần thứ 32 ở Thụy Điển, năm 1991
    • Nguyễn Việt Anh – Huy chương bạc
  • Olympic Toán học quốc tế lần thứ 33 ở Nga, năm 1992
    • Nguyễn Hữu Cường – Huy chương đồng
  • Olympic Toán học quốc tế lần thứ 34 ở Thổ Nhĩ Kì, năm 1993
    • Phạm Hồng Kiên – Huy chương bạc
    • Pham Chung Thủy – Huy chương đồng
  • Olympic Toán học quốc tế lần thứ 35 ở Hồng Kông, năm 1994
    • Nguyễn Duy Lân – Huy chương bạc
  • Olympic Toán học quốc tế lần thứ 36 ở Canada, năm 1995
    • Nguyễn Thế Phương – Huy chương bạc
  • Olympic Toán học quốc tế lần thứ 39 ở Đài Loan, năm 1998
    • Vũ Việt Anh – Huy chương vàng
    • Lê Thái Hoàng – Huy chương đồng
  • Olympic Toán học quốc tế lần thứ 40 ở România, năm 1999
    • Lê Thái Hoàng – Huy chương vàng
  • Olympic Toán học quốc tế lần thứ 42 ở Hoa Kỳ, năm 2001
    • Vũ Ngọc Minh – Huy chương vàng
    • Trần Khánh Toàn – Huy chương bạc
  • Olympic Toán học quốc tế lần thứ 43 ở Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, năm 2002
    • Phạm Gia Vĩnh Anh – Huy chương vàng
    • Vũ Ngọc Minh – Huy chương vàng
  • Olympic Toán học quốc tế lần thứ 44 ở Nhật Bản năm 2003
    • Nguyễn Trọng Cảnh – Huy chương vàng
  • Olympic Toán học quốc tế lần thứ 45 ở Hy Lạp, năm 2004
    • Nguyễn Kim Sơn – Huy chương vàng
    • Nguyễn Đức Thịnh – Huy chương bạc
    • Hứa Khắc Nam – Huy chương bạc
  • Olympic Toán học quốc tế lần thứ 46 ở Mexico, năm 2005
    • Nguyễn Nguyên Hùng – Huy chương đồng
  • Olympic Toán học quốc tế lần thứ 49 ở Tây Ban Nha, năm 2008
    • Nguyễn Phạm Đạt - Huy chương bạc
  • Olympic Toán học quốc tế lần thứ 53 ở Argentina, năm 2012
    • Đậu Hải Đăng - Huy chương vàng
    • Nguyễn Tạ Duy - Huy chương bạc
    • Nguyễn Phương Minh - Huy chương bạc

Olympic Toán học Châu Á Thái Bình Dương[25][sửa | sửa mã nguồn]

  • Olympic Toán học Châu Á Thái Bình Dương lần thứ 10
    • Vũ Việt Anh - Huy chương Đồng
  • Olympic Toán học Châu Á Thái Bình Dương lần thứ 11
    • Lê Thái Hoàng - Huy chương vàng
  • Olympic Toán học Châu Á Thái Bình Dương lần thứ 13
    • Lưu Tiến Đức – Huy chương vàng
  • Olympic Toán học Châu Á Thái Bình Dương lần thứ 14
    • Vũ Hoàng Hiệp – Huy chương vàng

Olympic Tin học Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

  • Olympic Tin học quốc tế lần thứ 12 ở Thổ Nhĩ Kì, năm 1999
    • Nguyễn Hồng Sơn – Huy chương bạc
  • Olympic Tin học quốc tế lần thứ 14 ở Phần Lan, năm 2001
    • Trần Quang Khải – Huy chương bạc
  • Olympic Tin học quốc tế lần thứ 15 ở Hàn Quốc, năm 2002
    • Trần Quang Khải – Huy chương vàng
  • Olympic Tin học quốc tế lần thứ 23 ở Thái Lan, năm 2011
    • Nguyễn Hoàng Yến - Huy chương đồng
  • Olympic Tin học quốc tế lần thứ 24 ở Italy, năm 2012
    • Nguyễn Việt Dũng - Huy chương bạc

Olympic Sinh học Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

  • Olympic Sinh học Quốc tế lần thứ 21 ở Hàn Quốc, năm 2010
    • Vũ Thị Ngọc Oanh - Huy chương đồng
  • Olympic Sinh học Quốc tế lần thứ 22 ở Đài Loan, năm 2011
    • Nguyễn Trung Kiên - Huy chương đồng
  • Olympic Sinh học Quốc tế lần thứ 23 ở Singapore, năm 2012
    • Nguyễn Thị Ngọc Hồng - Huy chương đồng
  • Olympic Sinh học Quốc tế lần thứ 24 ở Thụy Sỹ, năm 2013
    • Nguyễn Thị Phương Diệp - Huy chương đồng

Cựu học sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Trong 45 năm, Trường Trung học phổ thông Chuyên Đại học Sư phạm Hà Nội đã đào tạo hơn 3000 học sinh.[10] Trong đó, hơn 150 người đạt học vị tiến sĩ và hàng trăm người khác có học vị thạc sĩ. Nhiều người cũng là những doanh nhân thành đạt, y bác sĩ, kĩ sư công nghệ thông tin, chính trị gia.... nổi tiếng. Một vài gương mặt tiêu biểu:

Khoa học[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh doanh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lê Đình Long - Nguyên Tổng giám đốc Ngân hàng VIB, Nguyên Tổng giám đốc Hong Leong Bank Vietnam.[28]
  • Nguyễn Tử Quảng - Giám đốc Công ty An ninh mạng Bkis.[29]
  • Hồ Hữu Việt - Tiến sĩ Toán học, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Khu du lịch Cúc Phương Orion.
  • Đoàn Công - Tiến sĩ Toán học, Chủ tịch Hội đồng quản trị, CR.
  • Hoàng Ngọc Trung - Giám đốc Công ty AI Việt Nam, công ty sở hữu website truongtructuyen.vn.
  • Đỗ Văn Minh - Tổng giám đốc Công ty cổ phần Gemandept (GMD)

Khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đoàn Xuân Hưng - Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam, nguyên Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền tại Nhật Bản.
  • Lê Quốc Thịnh - Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Osaka, Nhật Bản, Bộ Ngoại giao Việt Nam.
  • Phan Văn Lân - Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Phú Thọ.
  • Doãn Minh Cường (khóa 1) - Cựu Trưởng Khối (tương đương Hiệu trưởng) Trung học phổ thông Chuyên, Đại học Sư phạm Hà Nội.
  • Nguyễn Thị Ngân - Top 7 Vietnam's Next Top Model 2012.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Chuyên Sư phạm bước vào năm học mới”. chuyensphn.org. Truy cập Thứ bảy, 06 Tháng 9 2008 21:01 (GMT+7). 
  2. ^ “Những trang sử vẻ vang và một chặng đường mới đầy hứa hẹn”. http://giaoducthoidai.vn/. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2009. 
  3. ^ “Từ thực tế 40 năm đào tạo chuyên toán ở Trường đại học Sư phạm Hà Nội”. Báo Nhân Dân. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2006. 
  4. ^ a ă “Thông báo tuyển sinh vào lớp 10 thpt Chuyên năm 2008”. http://www.hnue.edu.vn. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2008. 
  5. ^ “Thi vào lớp 10 chuyên: Căng thẳng không kém thi Đại học”. http://www.tienphong.vn. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2006. 
  6. ^ “Teen 9 tiếp tục với thử thách Trường Chuyên thpt ĐHSP”. http://www.hoahoctro.vn. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2007. 
  7. ^ “Quy chế học bổng cho học sinh chuyên”. http://www.hnue.edu.vn/. 
  8. ^ [1]
  9. ^ “"Đại sứ" Lê Trang và những cái nhất”. http://chuyensphn.org. Truy cập 13 tháng 9 năm 2008 05:18 (GMT+7). 
  10. ^ a ă “Giới thiệu Trường thpt chuyên”. http://www.hnue.edu.vn. 
  11. ^ “Giới thiệu chung về Đại học Sư phạm Hà Nội”. http://www.hnue.edu.vn. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2008. 
  12. ^ [2]
  13. ^ “Top 100 trường thpt có điểm thi Đại học cao nhất”. http://www.vietnamnet.vn. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2007. 
  14. ^ “Top 200 trường có điểm thi đại học cao nhất năm 2008”. http://vnexpress.net. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2007. 
  15. ^ “Lớp thủ khoa”. http://www.vietnamnet.vn. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2006. 
  16. ^ “Danh sách học sinh xuất sắc trong kì thi đại học và cao đẳng 2008”. Chuyên Sư phạm. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2008. 
  17. ^ Nguyễn Đình Tư là cựu học sinh chuyên tin khóa k37 của Chuyên Sư phạm. “Cú “hat-trick” vàng của “Tư mắm””. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2007.  Đã bỏ qua văn bản “http://dantri.com.vn ” (trợ giúp)
  18. ^ Lương Thế Vinh là cựu học sinh chuyên toán khóa k36 của Chuyên Sư phạm. Theo bài viết này, Lương Thế Vinh nhiều năm liền đứng đầu khoa kinh tế trường St Catherine's của Đại học Cambridge. “Dấu ấn Việt ở Cambridge”. http://www.tuoitre.com.vn. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2008. 
  19. ^ Nguyễn Thành Nhân là cựu học sinh chuyên tin khóa k32 của Chuyên Sư phạm. Xuân, Mai. “Người lập thời gian biểu cho vệ tinh”. http://www.tienphong.vn. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2005. 
  20. ^ Phạm Gia Vĩnh Anh là cựu học sinh chuyên toán khóa k33 của Chuyên Sư phạm. Trong suốt thời gian học tập tại Đại học Sydney của Úc đã luôn đạt thành tích xuất sắc ra trường với Bằng Danh dự Hạng nhất cùng với Huy chương của Đại học Sydney.“Pham Gia Vinh Anh Personal CV”. University of Sydney. 
  21. ^ “Kết quả của Vũ Ngọc Minh trong hai lần tham dự IMO”. Trang mạng chính thức của IMO. 
  22. ^ “Kết quả của Đinh Tiến Cường tại IMO lần thứ 30”. Trang mạng chính thức của IMO. 
  23. ^ “Kết quả của Nguyễn Trọng Cảnh tại IMO lần thứ 44”. Trang mạng chính thức của IMO. 
  24. ^ “Kết quả các cá nhân của Việt Nam”. Trang mạng chính thức của IMO. 
  25. ^ Olympic Châu Á Thái Bình Dương, Nguyễn Văn Nho, Nhà xuất bản Giáo dục, Mã số: L3T046
  26. ^ “Từ cậu bé Thành Nam đến giáo sư đại học West Georgia”. http://dantri.com.vn. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2008. 
  27. ^ “GS.Đỗ Đức Thái: Toán học thật đẹp và quyến rũ”. Tạp chí Tia sáng. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2008. 
  28. ^ “Khi dân Toán làm kinh doanh”. Vietnamnet. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2006. 
  29. ^ “HIỆP SĨ” NGUYỄN TỬ QUẢNG”. http://wwww.guongmattretieubieu.vn. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2007. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]