Trường Trung học phổ thông Marie Curie, Thành phố Hồ Chí Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trung học Phổ thông Marie Curie
Cổng trường Marie Curie
Thành lập 1918
Loại hình Trung học phổ thông
Hiệu trưởng Ông Nguyễn Văn Vân
Địa chỉ 159 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 3, Tp Hồ Chí Minh
Vị trí Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Trang mạng http://mariecurie.biz

Trường Trung học Phổ thông Marie Curie là một trường phổ thông trung học công lậpQuận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là một trong những trường trung học lâu đời nhất của Sài Gòn và là trường duy nhất không thay đổi tên ban đầu do người Pháp đặt. Trường được đặt tên theo nhà khoa học Marie Curie.

Quá trình hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Trường Marie Curie bắt đầu mở cửa từ năm 1918, là trường dành riêng cho nữ sinh, mang tên Lycée Marie Curie. Trong thời kỳ Việt Nam Cộng hòa, trường là trường trung học tư thục cho nữ sinh.

Năm 1997, trường được chuyển thành trường Trung học phổ thông bán công, cho cả nam lẫn nữ. Trước đây, trường từng là trường Trung học phổ thông lớn nhất Việt Nam với hơn 5000 học sinh mỗi năm. Trường dạy hai ca sáng và chiều với tổng cộng 90 đến 100 lớp trong hơn 50 phòng học. Hiện nay, để tăng chất lượng giáo dục, trường đang giảm dần sĩ số. Hiện trường có hơn 3000 học sinh, với trên 70 lớp.

Năm 2007, trường được đổi lại thành trường Trung học phổ thông công lập. Đồng thời, đồng phục nữ sinh của trường sẽ là váy dài xanh, áo trắng vào các ngày thường, còn thứ 2 đầu tuần và các ngày lễ mặc áo dài, nam mặc quần xanh, áo trắng, mang giày thể thao bata, và khi học quốc phòng và thể dục thì cả nam lẫn nữ đều mặc đồng phục thể dục.

Điều kiện giảng dạy[sửa | sửa mã nguồn]

Cổng vào
Khuôn viên trường

Tuy là một trường bán công, trường Marie Curie là một trong số các trường có chất lượng đào tạo, thi cử và kỷ luật khá cao. Hiện giờ, cùng với trường thpt chuyên Lê Hồng Phongthpt Nguyễn Thị Minh Khai, trường Marie Curie là một trong 3 trường Trung học phổ thông có dạy Pháp văn của thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, chỉ có khoảng 2 lớp Pháp văn và 2 lớp song ngữ (Anh-Pháp) trong tổng số 30 lớp ở mỗi khối.

Trường có 8 dãy phòng học: A, B, C, D, E, F, G và H. Dãy lớn nhất, mới nhất là dãy F, một tòa nhà 4 tầng, nơi đặt các phòng thí nghiệm , Hóa, Sinh, hội trường, phòng lab, phòng vi tính, điện gia dụng và dinh dưỡng và nhà thi đấu thể thao. Dãy nhỏ nhất là dãy H với duy nhất hai phòng. Các phòng học đều được trang bị một micro cho giáo viên. Đa số các phòng được trang bị máy điều hoà nhiệt độ (1 phòng thường có 4 quạt trần và 2 máy điều hoà)

Các lớp học được phân làm hai loại: lớp chọn và lớp thường. Để vào được lớp chọn khối 10, các học sinh tốt nghiệp Trung học cơ sở phải có điểm tổng kết năm học lớp 9 hoặc điểm tốt nghiệp cao. Thường thì học sinh lớp chọn cũng có hạnh kiểm khá hơn lớp thường. Theo chương trình phân ban, các lớp được phân chia theo 4 ban: ban A (Toán-Lý-Hóa), ban B(Toán-Hóa-Sinh), ban D (Toán-Văn-Anh) và 2 ban cơ bản.

Kể từ năm 2000 tỉ lệ đậu tốt nghiệp Trung học phổ thông luôn thuộc loại cao của thành phố (trên 98%) và năm sau luôn cao hơn năm trước.

Phong trào văn nghệ[sửa | sửa mã nguồn]

Trường Marie Curie còn có những phong trào về âm nhạc khá sôi nổi. Đội văn nghệ của trường tham dự giải Chú Ve Con và đạt giải cao trong những năm gần đây.

Khoảng tháng 11 hằng năm, trường lại tổ chức đêm ca nhạc truyền thống quy tụ nhiều ca sĩ nổi tiếng với 2 mục đích: tạo sân chơi giải trí cho các bạn học sinh và quyên góp tiền cho các hoạt động từ thiện. Đội văn nghệ của trường sinh hoạt vào sáng chủ nhật hàng tuần với sự tham gia của rất nhiều bạn với nhiều hoạt động bổ ích

Ngoài ra, trường còn tổ chức các cuộc đi chơi dã ngoại, tham quan, thăm trại trẻ mồ côi thường xuyên hơn nhiều trường khác, tạo điều kiện cho học sinh, giáo viên có cơ hội gần gũi nhau hơn, học tập được nhiều hơn.

Danh sách các hiệu trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lycée Marie Curie:

1948-1950:Bà Brissaud

1950-1954:Bà Fortunel

1954-1965:Ông Castagnon

1965-1974:Ông Gages

1974-1975:Ông Thevenin

  • Trường Trung học phổ thông Marie Curie:

1975-1976:Bà Tôn Tuyết Dung

1976-1977:Bà Lê Thị Loan

1977-1987:Bà Trần Tố Nga

1987-1992:Bà Hoàng Bảo Quân

1992-1999:Bà Dương Thu Hằng

1999-2000:Ông Nguyễn Bác Dụng

2000-2006:Ông Nguyễn Đình Hân

2006-2008:Bà Nguyễn Ngọc Lang

2008 đến nay: Thạc sĩ Nguyễn Văn Vân

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]