Trại Davis

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Trại Davis, mà trong một số tài liệu viết nhầm thành "trại David"[1], là một địa danh để chỉ một trại quân sự nằm ở phía Tây Nam Căn cứ không quân Tân Sơn Nhứt, Sài Gòn, trong thời gian diễn ra Chiến tranh Việt Nam[2]. Tuy nhiên, nó thường được biết đến nhiều hơn với tư cách là nơi đặt trụ sở của hai phái đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòaChính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam thi hành Hiệp định Paris 1973 về chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam.

Sự hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên thủy, đây là một trại cư trú của một nhóm công tác an ninh quân đội Hoa Kỳ, được xây dựng vào khoảng giữa năm 1961. Đây là một đơn vị trực thuộc Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ, được đưa sang Việt Nam với danh nghĩa Tổ Viễn thám số 3 (3rd Radio Research Unit - 3rd RRU), trực thuộc Phái bộ Cố vấn Quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam (Military Assistance Advisory Group, Vietnam - MAAG-V). Thực chất, đây là một đơn vị phụ trách về việc thu thập và giải mã các tín hiệu, cũng như xác định vị trí điện đài của đối phương, ngoài ra còn làm công tác cố vấn và hỗ trợ chuyên môn cho Nha An ninh Quân đội Việt Nam Cộng hòa.

Nguồn gốc tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Ban đầu trại không có tên gọi riêng. Ngày 22 tháng 12 năm 1961, một thành viên của Tổ Viễn thám số 3 là Hạ sĩ chuyên viên (Specialist Four) James Thomas Davis (1936-1961) bị quân du kích Cộng sản phục kích và giết chết tại vùng Đức Hòa, tỉnh Hậu Nghĩa (nay thuộc tỉnh Long An). Nhiều tài liệu thường nhầm lẫn, ông là người lính Mỹ đầu tiên bị giết chết tại Việt Nam.[3]

Để tưởng niệm ông, ngày 10 tháng 1 năm 1962, các bạn bè trong Tổ đã đặt trại cư trú của mình theo tên ông. Họ cũng dựng một khu tưởng niệm Davis nho nhỏ ở trong trại.

Ban đầu trại được gọi là "Davis Station". Đến năm 1966, Tổ Viễn thám số 3 được thay thế bằng Nhóm Viễn thám 509 (509th Radio Research Group - 509th RRG). Trại được nâng cấp và mở rộng, một thời gian thì được gọi là "Davis Camp". Nơi đây trở thành trại cư trú của 509th RRG cho đến cuối năm 1972 thì Nhóm được rút về nước theo điều khoản quy định của Hiệp định Paris 1973. Từ đó, trại bị bỏ hoang.[4]

Trụ sở 2 phái đoàn đại biểu quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Theo các điều khoản của Hiệp định Paris, chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã chọn Trại Davis để làm nơi làm việc của phái đoàn đại biểu quân sự 4 bên cũng như nơi ở của hai phái đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòaChính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, với lý do thuận tiện cho việc di chuyển của các phái đoàn bằng máy bay, đồng thời cơ sở vẫn còn tiện nghi. Tuy nhiên, theo Thiếu tướng Nguyễn Đôn Tự thì: "Sắp xếp cho hai đoàn ta ở trại Trại Đa-vít, chính quyền Sài Gòn muốn cô lập, ngăn không cho ta có điều kiện tiếp xúc với người dân Sài Gòn, đồng thời dễ bề kiểm soát thông tin, phá sóng, gây nhiễu điện của ta.".[5]

Phiên họp đầu tiên của Ban Liên hợp quân sự 4 bên Trung ương được khai mạc vào 15 giờ 15 phút ngày 2 tháng 2 năm 1973 với sự có mặt của 4 vị trưởng đoàn gồm: Trung tướng Trần Văn Trà (Cộng hòa miền Nam Việt Nam), Thiếu tướng Lê Quang Hòa (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), Trung tướng Ngô Du (Việt Nam Cộng hòa) và Thiếu tướng Gilbert H. Woodward (Hoa Kỳ). Ngày 28 tháng 3 năm 1973, Ban liên hiệp quân sự 4 bên Trung ương chấm dứt hoạt động. Ngày 29 tháng 3 năm 1973, người lính Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam. Không lâu sau, đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng rời khỏi trại.

Sau đó, Ban Liên hợp quân sự chỉ còn 2 bên là Đoàn của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn làm Trưởng đoàn và Đoàn của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa do Chuẩn tướng Phan Hòa Hiệp làm Trưởng đoàn. Phái đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam làm việc tại trại cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Hiện trạng[sửa | sửa mã nguồn]

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, trại có thời gian được sử dụng làm nơi làm việc của tướng Trần Văn Trà, với tư cách là Tư lệnh quân quản Sài Gòn. Một thời gian dài trại bị bỏ hoang và hầu như hư hại hoàn toàn. Hiện nay (2010), khu vực trại vẫn nằm trong khu quân sự thuộc sự quản lý của Sư đoàn không quân 370 và được sử dụng một phần để làm sân bóng đá. Tuy nhiên, khu vực trại đã được đề nghị phục dựng và công nhận trại Davis là Di tích lịch sử cấp Quốc gia.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trong phiên âm tiếng Việt, cả 2 từ đều có dạng đọc đồng âm là "Đa-vít" hoặc "Đê-vít" nên mới có sự nhầm lẫn giữa từ "Davis" sang "David" vốn thông dụng hơn. Từ nguyên "Davis" trong tiếng Anh có nghĩa là "con trai của David" (son of David).
  2. ^ Nay thuộc phường 12, quân Tân Bình.
  3. ^ Thực ra người lính Mỹ đầu tiên được xem là chết ở Việt Nam là Trung tá OSS Albert Peter Dewey, người bị bắn chết bởi một sự nhầm lẫn của du kích Việt Minh vào ngày 26 tháng 9 năm 1945. Ngoài ra, người lính Mỹ đầu tiên chết trong Chiến tranh Việt Nam là Trung sĩ Kỹ thuật (Technical Sergeant) Richard B. Fitzgibbon Jr. (1920-1956), bị giết tại miền Nam Việt Nam ngày 6 tháng 8 năm 1956 bởi một người bạn đồng ngũ. Người lính Mỹ đầu tiên bị giết bởi đối phương trong Chiến tranh Việt Nam là Thiếu tá Lục quân Richard Dale Buis (1921-1959) và Thượng sĩ Chester Melvin Ovnand (1914-1959) trong một cuộc tấn công bằng bom của quân Cộng sản vào ngày 8 tháng 7 năm 1959 tại Biên Hòa.
  4. ^ Phạm Thắng Vũ, "Chuyện về Trại Davis trong Phi trường Tân Sơn Nhứt thời thi hành Hiệp định Paris năm 1973".
  5. ^ "Trại Đa-vít 823 ngày đêm", phần hồi ức của Thiếu tướng Nguyễn Đôn Tự.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]