Trảng Bàng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Trảng Bàng là một huyện nằm ở phía Nam tỉnh Tây Ninh.

Địa giới hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Diện tích: 334.61 km²

Huyện nằm trên tuyến quốc lộ nối Thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Phnom Penh của Campuchia, hiện đã thành lập được khu công nghiệp Trảng Bàng và khu chế xuất Linh Trung III, thu hút số lượng lớn nguồn lao động tại địa phương và các tỉnh khác

Chính quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ tịch UBND: Ông Trần Văn Minh.

Bí thư huyện ủy: Ông Nguyễn Thanh Ngọc.

Phó Bí thư: Ông Trần Văn Khải

Du lịch - đặc sản[sửa | sửa mã nguồn]

Món ăn nổi tiếng: bánh canh Trảng Bàngbánh tráng Trảng Bàng được khá nhiều du khách thập phương yêu thích. Đặc biệt là món bánh tráng phơi sương. Trước khi ăn, vào buổi tối, khi nhìn thấy những chậu kiểng ươn ướt man mát hơi sương, người ta đem các vỉ bánh ra phơi độ một, hai phút để hơi sương thấm vào bánh, làm cho bánh có độ dẻo vừa đủ mà không ướt, nát. Bánh tráng phơi sương thường được phục vụ cùng với thịt luộc và rau sống (dùng bánh tráng để cuốn thịt và rau, do đó bánh cần có độ dẻo), chấm nước mắm tỏi ớt. Lịch sử anh hùng: Quê hương Trảng Bàng đã trải qua cuộc kháng chiến chống giặc Mỹ cực kì khốc liệt. Cùng với địa đạo Củ Chi tạo nên vành đai cách mạng. Ngày nay còn đó địa đạo An Thới là chiến tích. Ngoài ra Trảng Bàng còn hai lần phong tặng Anh Hùng. Anh hùng trong chống giặc và Anh hùng trong sản xuất. Ngày nay, Trảng Bàng là huyện có Khu Công nghiệp tập trung lớn nhất tỉnh. Trảng Bàng là vùng đất địa linh nhân kiệt. Nhìn từ trên cao, vùng đất này có hình dáng như con chim phụng đang cất cánh bay cao. Hy vọng Trảng Bàng sẽ phát triển hơn nữa trong tương lai.

Đơn vị hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

  • Xã Bình Thạnh
  • Xã Phước Lưu
  • Xã Phước Chỉ
  • Xã Gia Bình
  • Xã Gia Lộc
  • Xã An Hòa
  • Xã Lộc Hưng
  • Xã Đôn Thuận
  • An Tịnh
  • Thị trấn Trảng Bàng
  • Xã Hưng Thuận mới thành lập ghép 1 phần xã Lộc Hưng và Đôn Thuận

Lịch sử của Trảng Bàng[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới triều Nguyễn, phủ Tây Ninh thuộc tỉnh Gia Định, có 2 huyện Tân NinhQuang Hoá. Đất Trảng Bàng ngày nay thuộc huyện Quang Hoá. Năm 1867, Nam Kỳ Lục tỉnh chia thành 24 khu tham biện. Khu tham biện Quang Hoá có Châu Thành (Trảng Bàng), huyện Quang Hoá và huyện Tân Ninh. Từ đây Trảng Bàng là tên gọi đơn vị hành chính cho đến ngày nay. Năm 1872, hạt Tây Ninh chia thành 2 quận: Thái Bình và Trảng Bàng. Năm 1961, chính quyền Sài Gòn đổi tên quận Trảng Bàng thành quận Phú Đức. Năm 1963, quận Phú Đức tách khỏi tỉnh Tây Ninh để thành lập tỉnh Hậu Nghĩa.

Về phía chính quyền cách mạng, đầu năm 1955, một phần đất phía Bắc huyện Trảng Bàng được tách ra thành lập huyện Gò Dầu. Năm 1960, Gò Dầu lại nhập vào huyện Trảng Bàng. Cuối 1961, lại tách khỏi huyện Trảng Bàng. Năm 1967, huyện Trảng bàng thuộc đặc khu Sài GònChợ Lớn. Đến 1972, Trảng Bàng lại được trả về Tây Ninh.

Điều kiện tự nhiên của Trảng Bàng[sửa | sửa mã nguồn]

Về thổ nhưỡng, huyện có 3 nhóm đất chính. Đất xám chiếm 76,6%, đất phù sa chiếm 2,6%, đất phèn chiếm 20,1%. Khí hậu nóng ẩm quanh năm rất phù hợp với nhiều loại cây trồng.

Về sông ngòi: huyện có 2 sông lớn chảy qua: sông Vàm Cỏ Đông chảy trong phạm vi huyện dài 11,25 km, lưu lượng mùa lũ 40m3/giây, lúc kiệt nước 13m3/giây. Sông Sài Gòn chảy qua trong phạm vi huyện dài 23,25 km, lưu lượng bình quân 59m3/giây. Các chi lưu của 2 sông này chảy qua huyện như: rạch Gò Suối, rạch Trà Cao, rạch Trảng Bàng, rạch Môn, rạch Cầu Trường Chùa, rất thuận lợi cho thuyền, ghe đi lại quanh năm.

Nước ngầm ở Trảng Bàng khá phong phú, tập trung ở các xã phía Đông. Riêng các xã phía Tây việc khai thác nước ngầm bằng đào giếng còn gặp nhiều khó khăn vì nhiễm phèn và đất dễ sụp lở. Ngày nay, hệ thống giao thông này phục vụ cho sự đi lại và giao lưu hàng hoá của nhân dân trong huyện với các địa phương khác. Hệ thống kênh tưới, kênh tiêu của huyện đang được hoàn thiện.

Di tích lịch sử của Trảng Bàng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tha La xóm đạo.Đây là vùng đồng bào Thiên Chúa giáo chiếm tỉ lệ dân số lớn. Ngày nay thuộc xã An Hòa huyện Trảng Bàng. Vùng Tha la xóm đạo có nhà thờ Thiên Chúa giáo nổi tiếng, có những nghề truyền thống mỹ nghệ từ tre, tầm vong, nghề thủ công rèn, tiểu thù công nghiệp xay xát. Cùng với Đình An Hòa, nhà thờ Tha la là kiến trúc cổ, tiêu biểu của Trảng Bàng.
  • Đình An Hoà.
  • Di tích lịch sử Rừng Rong.
  • Địa đạo An Thới.
  • Đình An Tịnh. Hiện nay nằm ở ấp An Thành, phía Nam của xã. Đình là kiến trúc đặc trưng của Đình làng Nam bộ. Hiện nay, lễ cúng kỳ yên đình làng An Tịnh được tiến hành hàng năm. Sân đình rộng lớn theo đúng nguyên mẫu làng quê Nam bộ.
  • Tháp cổ Bình Thạnh.
  • Đình Gia Bình
  • Di tích lịch sử Bời Lời
  • "Miếu Ông Cả" Trước. Nằm ở Trung tâm thị trấn Trảng Bàng. Ngày xưa, miếu nằm giữa chợ Trảng Bàng. Sau khi chợ di dời lên nơi mới, khu vực được giải tỏa nhưng miếu giữ nguyên. Kiến trúc đẹp, đậm chất Á Đông. Tương truyền "Miếu Ông Cả" rất linh thiêng. Hàng năm con dân làng An Tịnh xưa khắp nơi trở về cúng viếng.Ngày Giổ "Ông Cả" là ngày 06 tháng 03 âm lịch hằng năm tại miếu này.
  • Chùa Phước Lưu
  • Đình Gia Lộc
  • Chùa Phước Lâm
  • Tịnh xá Ngọc Trản

Các nghề thủ công truyền thống của Trảng Bàng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Xóm Bánh tráng: Ở ấp Lộc Du, thị trấn Trảng Bàng, có rất nhiều nhà làm bánh tráng chuyên nghiệp, còn được gọi là "xóm bánh tráng". Nguồn nguyên liệu làm bánh tráng phơi sương chỉ là bột gạo nhưng phải là bột gạo tẻ đặc biệt. Để làm ra bánh tráng phơi sương người ta phải qua nhiều công đoạn khá công phu và cầu kỳ. Đầu tiên là đem gạo đi vo sạch. Sau đó, phải xay gạo thành bột nước, hoà muối vừa độ, rồi tráng mỏng trên hơi nước sôi và phải tráng làm hai lớp. Bánh chín trải ra vỉ tre phơi, chỉ một ngày nắng tốt là được. Công đoạn tiếp theo là nướng bánh. Lò nướng giống như chiếc nồi Cà om to chứa vỏ đâu phọng riu riu cháy ở bên trong. Bánh tráng nướng nở xốp đều nhưng vẫn giữ nguyên màu giấy trắng… Nướng xong, người ta đem bánh tráng phơi sương vào khoảng tờ mờ sáng hoặc vào ban đêm, nếu nhiều sương chỉ cần phơi mười lăm phút. Phơi xong, đem bọc kín trong lá chuối tươi để giữ cho bánh được mềm, xốp.
  • Xóm đóng ghe: Đặc điểm địa hình của Tây Ninh có nhiều rừng núi, nhưng cũng lắm sông ngòi, kênh rạch nên hoạt động vận chuyển buôn bán trao đổi nông, lâm, ngư, thổ sản từ trước đến nay bằng ghe xuồng trên các tuyến đường thủy đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế, xã hội ở Tây Ninh. Vì thế mà nghề đóng ghe xuồng ở Tây Ninh đã hình thành và phát triển rất sớm. Có nhiều trại đóng ghe, xuồng ở Tây Ninh phải kể đến các cơ sở ở thị trấn Trảng Bàng, xã An Hoà, xã Phước Chỉ (Trảng Bàng); xã Long Thành Nam (Hoà Thành); xã Cẩm Giang (Gò Dầu)Nguồn nguyên liệu để đóng ghe xuồng trước đây được khai thác tại chỗ, với nhiều loại gỗ tốt như gỗ sao, vên vên, căm xe, dầu, trắc …Hiện nay, việc khai thác rừng đã hạn chế, các nguồn nguyên liệu gỗ được bổ sung từ các tỉnh và có cả ở Campuchia. Các loại ghe, xuồng ở Tây Ninh ngày nay được chế tạo chủ yếu từ các loại gỗ có đặc tính chắc, bền, nhẹ nổi trên nước và ít hư hỏng do tác động của môi trường sông nước. Cư dân Tây Ninh có gốc người tứ xứ… nên ghe xuồng ở Tây Ninh có nhiều kiểu dáng, phản ánh đặc điểm văn hoá nhiều tộc người Việt, Hoa, Chăm, Khơme), nhiều địa phương. Nhìn chung, có các loại ghe như: ghe ô, ghe lê dành cho quan lại; ghe tam bản, ghe tam bản mũi chài, ghe chài, ghe tải...Trong vài chục năm gần đây ghe xuồng truyền thống Tây Ninh có xu hướng hiện đại hoá, cải tiến chiếc ghe sao cho phù hợp với điều kiện chuyên chở, đi lại, buôn bán trên sông nước. Ghe xuồng chèo tay thành ghe, xuồng gắn các động cơ, khiến việc di chuyển được thuận lợi nhanh chóng hơn trước. Đây cũng là bước phát triển mới của nghề đóng ghe xuồng ở Tây Ninh.
  • Xóm chằm nón lá: Nghề chằm nón lá ở Tây Ninh đã xuất hiện tương đối khá lâu đời. Ngày nay, có nhiều nơi sản xuất nón lá được gọi là "xóm nón lá" như ở ấp An Phú, An Hòa (Trảng Bàng), làng nón lá Ninh Sơn ở thị xã Tây Ninh. Họ làm được tất cả các loại nón: nón Bài Thơ (Huế), nón Bình Định, nón thêu, nón dày, nón thưa, vốn rất nổi tiếng ở miền Trung nhưng ở Tây Ninhkhông dễ kiếm lá buôn, dây thao, nguyên liệu làm nón Bài Thơ, ngược lại nguồn trúc và lá mật cật lại rất dễ tìm. Người dânTây Ninh chọn loại lá mật cật là nguyên liệu chính để làm nón. Đây là loại nón thông dụng dành cho người lao động và được sản xuất đại trà để bán hàng gọi là "nón hàng", loại nón này khi gặp mưa vẫn thẳng, không bị dúm lại như các loại nón khác.Muốn làm nón phải có cái khung chằm hình chóp có kích thước bằng chiếc nón lá. Nón làm bằng lá mật cật luộc chín, phơi khô và vuốt thẳng. Người ta xếp từng lá chồng dọc theo khuôn để chằm. Vừa chằm vừa gác các nan tre được chuốt nhỏ, đều và trùm lên khuôn để làm sườn nón lá. Lá mật cật dược kết dính đều đặn tỉ mỉ, khéo léo với vòng nan tre bằng chỉ trong suốt.Hầu hết các phụ nữ ở Ninh Sơn, cũng như ở An Phú, An Hoà đều biết chằm nón từ lúc còn rất nhỏ 5- 6 tuổi. Nón hàng làm nhanh hơn nón dày giá cả nón dày, đắt hơn nón hàng. Nghề chằm nón không giàu nhưng đây là số tiền kiếm được khi bà con tận dụng được thời gian nhàn rỗi của mình và giúp cho những người không có sức khoẻ để làm những việc nặng nhọc có việc làm ổn định. Nón lá vốn là thành phần quan trọng trong trang phục của phụ nữ vùng nông thôn, là nét độc đáo riêng. Dẫu rằng ngày nay phụ nữ có xu hướng theo Âu hoá, nhưng hễ còn người dân ra đồng là còn cần chiếc nón lá.


Việt Nam Các đơn vị hành chính cấp huyện, thị trực thuộc tỉnh Tây Ninh-Việt Nam
Thành phố (1): Thành phố Tây Ninh
Huyện (8): Tân Biên | Tân Châu | Dương Minh Châu | Châu Thành | Hòa Thành | Bến Cầu | Gò Dầu | Trảng Bàng


Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]