Trần Đại Nghĩa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phạm Quang Lễ
Vien si Tran Dai Nghia.jpg
GS.VS Trần Đại Nghĩa
Tiểu sử
Biệt danh Trần Đại Nghĩa
Quốc tịch Flag of Vietnam.svg Việt Nam
Sinh

13 tháng 9, 1913

Tam Bình, Vĩnh Long
Mất

9 tháng 8, 1997 (83 tuổi)

Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh
Binh nghiệp
Thuộc Flag of Viet Nam Peoples Army.svg Quân đội nhân dân Việt Nam
Năm tại ngũ 1946-1997
Cấp bậc Thiếu tướng
Chỉ huy Flag of Viet Nam Peoples Army.svg Quân đội nhân dân Việt Nam
Tham chiến Kháng chiến chống Pháp
Khen thưởng Giải thưởng Hồ Chí Minh
Huân chương Hồ Chí Minh
Công việc khác Chủ nhiệm Ủy ban Kiến thiết cơ bản Nhà nước
Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học kỹ thuật Nhà nước
Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam
Thứ trưởng Bộ Công thương
Hiệu trưởng trường Đại học Bách khoa Hà Nội
...

Thiếu tướng, Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa (19131997) là một kỹ sư quân sự, một nhà khoa học lớn, cũng như một nhà quản lý khoa học kỹ thuật cấp cao, cha đẻ của ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam[1].

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Ông tên thật Phạm Quang Lễ, sinh ngày 13 tháng 9 năm 1913 trong một gia đình nhà giáo nghèo tại xã Chánh Hiệp, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Mồ côi cha lúc 6 tuổi, ông được mẹ và chị gái đã tần tảo nuôi dưỡng cho ăn học. Giữa 1933, Phạm Quang Lễ đã thi đỗ đầu hai bằng tú tài: Tú tài Việt và Tú tài Tây. Nhưng vì nhà nghèo, không có tiền đi Hà Nội để học tiếp, Phạm Quang Lễ quyết định đi làm giúp mẹ, giúp chị và nuôi chí vươn lên, chờ thời cơ.

Năm 1935, ông đi du học Pháp và tốt nghiệp kỹ sư và cử nhân toán học tại các trường: Đại học Bách khoa Paris, Đại học Mỏ, Đại học Điện, Đại học Sorbonne, Đại học Cầu đường Paris. Sau đó ông ở lại Pháp làm việc tại Viện nghiên cứu máy bay. Năm 1942, ông sang Đức làm việc trong xưởng chế tạo máy bay và Viện nghiên cứu vũ khí.[cần dẫn nguồn]

Về nước tham gia chính quyền cách mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 5 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua Pháp thương thuyết với Bộ trưởng Thuộc địa Marius Moutet. Ông cùng với kỹ sư luyện kim Võ Quý Huân, bác sĩ Trần Hữu Tước theo Hồ Chủ tịch về nước, tham gia tổ chức, chế tạo vũ khí cho quân đội tại núi rừng Việt Bắc. Ngày 5 tháng 12 năm đó, Hồ Chí Minh đặt tên mới cho ông là Trần Đại Nghĩa và trực tiếp giao cho ông làm Cục trưởng Cục Quân giới (nay là Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng Việt Nam), năm 1948 phong quân hàm Thiếu tướng [2], Giám đốc Nha nghiên cứu Quân giới[3] (nay là Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự), Bộ Tổng tư lệnh Quân đội.

Trong quân đội từng giữ các chức vụ: Cục trưởng Cục pháo binh, Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật.

Sau đó ông chuyển sang lĩnh vực dân sự giữ chức: Thứ trưởng Bộ Công thương[4], Thứ trưởng Bộ Công nghiệp nặng [5], Ủy viên Ủy ban Khoa học Nhà nước [6], Chủ nhiệm Ủy ban Kiến thiết Cơ bản Nhà nước[7], Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước[7],[8], Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam, Chủ tịch đầu tiên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kĩ thuật Việt Nam (nhiệm kỳ 1983-1988), Đại biểu Quốc hội khoá II, III.

Ông được phong quân hàm Thiếu tướng trong đợt đầu tiên năm 1948. Ông đã được trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh và danh hiệu Anh hùng Lao động (tại đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc đầu tiên năm 1952).

6 tháng 3 năm 1956, Bộ trưởng Giáo dục quốc gia Nguyễn Văn Huyên ký Nghị định số 147/NĐ về việc thành lập trường Đại học Chuyên nghiệp Bách khoa và ông được bổ nhiệm làm giám đốc.

Năm 1996, ông được Nhà nước Việt Nam trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 về Cụm công trình nghiên cứu và chỉ đạo kỹ thuật chế tạo vũ khí (Bazooka, súng không giật, đạn bay) trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1945-1954. Các công trình nghiên cứu của ông được quốc tế đánh giá cao, được ứng dụng rộng rãi trong Quân đội Nhân dân Việt Nam và là nỗi kinh hoàng của quân đội đối phương. Trong tác phẩm Street Without Joy của Bernard B. Fall ở trang 237 có viết về súng SKZ của ông như sau "...and the feared Viet-Minh SKZ recoilless cannon oppened up at minimum range upon the "soft" vehicles...".[9]

Năm 1966, ông được bầu làm Viện sỹ nước ngoài của Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô.

Những năm cuối đời, ông cùng gia đình trở về quê hương miền Nam, sinh sống tại quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông mất vào 16 giờ 20 phút ngày 9 tháng 8 năm 1997, hưởng thọ 84 tuổi.

Ghi nhận đóng góp[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng Trần Đại Nghĩa trong Nhà trưng bày truyền thống lịch sử-cách mạng Vĩnh Long.

Tên đường[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối tháng 8 năm 2007, Ủy ban nhân dân TP.Hà Nội đã quyết định đặt tên của ông cho một con đường mới của thủ đô. Phố Trần Đại Nghĩa nối phố Lê Thanh Nghị với đường Đại Cồ Việt, song song với phố Tạ Quang Bửu và đi qua cổng phía đông của các trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Xây dựng, được xây ngay trên mặt của đoạn sông Sét (đoạn từ hồ Bảy Mẫu đến đoạn sông ngày nay).

Tại TP Đà Nẵng cũng có con đường mang tên ông nối liền từ Núi Ngũ Hành Sơn (cuối đường Lê Văn Hiến) đến địa phận tỉnh Quảng Nam (đường vào Phố cổ Hội An. Hiện nay (năm 2009) con đường này đang được mở rộng 48m.

Trước đó, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã đặt tên của ông cho một con đường tại quận Bình Tân, đi từ Quốc lộ 1 (gần vòng xoay An Lạc) vào khu công nghiệp Lê Minh Xuân. Ngoài ra tên của ông còn được đặt cho một số trường học trên cả nước, trong đó có trường THPT chuyên Trần Đại NghĩaThành phố Hồ Chí Minh. Ngày 23 tháng 12 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2345/QĐ-TTg thành lập Trường Đại học Trần Đại Nghĩa trên cơ sở nâng cấp Trường Sĩ quan Kỹ thuật quân sự (Vin-hem-Pích) có trụ sở chính tại 189 Nguyễn Oanh, phường 10, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.[10]

Tên tàu[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 10 tháng 10 năm 2010, công ty đóng tàu Sông Thu- Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng cũng hạ thuỷ tàu khảo sát đầu tiên của Việt Nam có ký hiệu HSV 6613 mang tên Trần Đại Nghĩa sau hơn 2 năm lắp đóng theo đặt hàng của Đoàn đo đạc vẽ hải đồ và nghiên cứu biển (thuộc Hải quân Nhân dân Việt Nam), chuyên dụng đáp ứng yêu cầu của công tác khảo sát, đo đạc biển.[11]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]