Trần Duệ Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trần Duệ Tông
Hoàng đế Việt Nam (chi tiết...)
Vua nhà Trần
Trị vì 1373 - 1377
Tiền nhiệm Trần Nghệ Tông
Thái thượng hoàng Trần Nghệ Tông
Kế nhiệm Trần Phế Đế
Thông tin chung
Thê thiếp Gia Từ hoàng hậu
Thần phi Nguyễn thị
Cung nhân Trần thị
Hậu duệ
Tên húy Trần Kính
Tước hiệu Cung Tuyên vương
Vua Đại Việt
Niên hiệu Long Khánh (1373 - 1377)
Miếu hiệu Duệ Tông
Triều đại Nhà Trần
Thân phụ Trần Minh Tông
Thân mẫu Sung viên Lê thị
Sinh 1337
Mất 1377
Tôn giáo Phật giáo

Trần Duệ Tông (chữ Hán: 陳睿宗, 13371377) là vua thứ 9 nhà Trần trong lịch sử Việt Nam, tên thật là Trần Kính (陳曔), sinh tại kinh đô Thăng Long - Hà Nội, Việt Nam.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Duệ Tông sinh ngày 2 tháng 6 năm 1337. Ông là con thứ mười một của Trần Minh Tông, em của ba vị vua Trần Hiến Tông, Trần Dụ TôngTrần Nghệ Tông. Mẹ ông là Đôn Từ Hoàng Thái phi.

Củng cố quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1369, Trần Dụ Tông mất, truyền ngôi cho Nhật Lễ - con Cung Túc vương Trần Dục. Theo sử sách, Nhật Lễ vốn không phải là con đẻ của Trần Dục mà mẹ Lễ là đào hát, vợ của kép hát Dương Khương, đã mang thai Lễ trước khi làm vợ Cung Túc vương Trần Dục.

Nhật Lễ làm vua nhưng bỏ bễ công việc, ham chơi, rượu chè, lại giết bà nội là mẹ Dụ Tông vì bà hối hận việc lập Nhật Lễ. Lễ còn định đổi sang họ Dương khiến các quan trong triều bất bình.

Năm 1370, các hoàng tử, thân tộc nhà Trần mưu khởi binh lật đổ Nhật Lễ. Trần Kính giúp anh là Trần Phủ đảm nhận việc sắm sửa mọi vũ khí, trang bị quân đội. Ông cùng Trần Phủ thực hiện đảo chính lật đổ giết chết Nhật Lễ. Trần Phủ lên ngôi, tức là Trần Nghệ Tông [1].

Noi gương đời trước của nhà Trần thường giữ chế độ vua và thái thượng hoàng cùng trị nước, năm 1372, Nghệ Tông nhường ngôi cho ông lên làm thượng hoàng. Đây là trường hợp đầu tiên thượng hoàng chỉ là anh của vua trong lịch sử Việt Nam. Trần Kính lên ngôi, tức là Trần Duệ Tông.

Trần Duệ Tông tiếp tục đường lối của cha ông, liên tục tuyển chọn nhân tài cho quốc gia. Sử cũ chép: "Ất Mão (năm 1375),... xuống chiếu chọn các quan viên, người nào có tài năng, luyện tập nghề võ, thông hiểu thao lược, thì không cứ là tôn thất đều làm tướng coi quân, đồng thời cho ra khỏi quân ngũ những người lính già cả, ốm yếu, bệnh tật..."

Ông đã tổ chức thi Đình năm 1374 tuyển chọn nhân tài cho quốc gia. Những nho sĩ thời đó như Đào Sư Tích (Trạng nguyên), Lê Hiến Phủ (Bảng nhãn), Trần Đình Thám (Thám hoa)... đều xuất thân từ bình dân, không trong hàng ngũ hoàng tộc. Vua rất coi trọng nho sỹ, coi đó là đại diện văn hiến nước nhà, nên cho ăn yến, áo xấp, tước phẩm...

Trần Duệ Tông còn rất chú trọng đề cao ý thức dân tộc. Ông hạ lệnh cho quân dân không được mặc áo kiểu người phương Bắc và không được bắt chước tiếng nói của các nước Chiêm – Lào. Vừa bảo vệ được thuần phong mỹ tục, vừa biểu hiện ý thức tự lập, tự cường, ông còn quy định về mẫu mã các loại thuyền, xe, kiệu, tán, nghi, trượng và y phục[1].

Lâm nạn ở đất Chiêm[sửa | sửa mã nguồn]

Do Đại Việt thường bị Chiêm Thành xâm lấn, Duệ Tông ra sức xây dựng quân đội. Theo sử sách, tháng tám năm 1374 ông cho dân đinh xung vào quân ngũ: hạng nhất xung vào Lan Đô, rồi đến hạng nhì, hạng ba. Người thấp bé nhưng mạnh khỏe cũng được xung lên hạng trên. Trước đây, quân Túc vệ có quân Tứ Thiên, Tứ Thánh, Tứ Thần. Sau đặt thêm các quân Uy Tiệp, Bảo Tiệp, Long Dực, Thần Dực, Ý Yên, Thiên Trường, Bắc Giang, Điện Hậu, Long Tiệp, thích ba chữ đen vào trán. Các quân Thị vệ, Tạc Ngạch, Hoa Ngạch, Tả Ban, Hữu Ban, Thanh Hóa Nghệ An, Hóa Châu, Thuận Châu, Lâm Bình đều đặt quân hiệu. Có đại đội trưởng, đại đội phó làm tướng hiệu.

Năm 1376, vua Chiêm là Chế Bồng Nga lại mang quân xâm lấn. Duệ Tông sai Đỗ Tử Bình đi đánh. Chế Bồng Nga sợ hãi, xin dâng 10 mâm vàng tạ tội. Tử Bình giấu vàng đi, lại tâu về triều rằng vua Chiêm kiêu ngạo không thần phục. Duệ Tông quyết định thân chinh đi đánh[1].

Tháng 12 năm 1376, Duệ Tông cầm 12 vạn quân đánh Chiêm Thành. Ông sai Lê Quý Ly (tức Hồ Quý Ly) đốc vận lương thảo đến cửa biển Di Luân (Quảng Bình) rồi dừng quân 1 tháng để luyện sĩ tốt. Tháng giêng năm 1377, quân Trần tiến vào cửa Thi Nại (Quy Nhơn), đánh lấy đồn Thạch Kiều rồi tiến tới kinh thành Đồ Bàn nước Chiêm. Chế Bồng Nga lập đồn giữ ngoài thành, rồi cho người trá hàng nói rằng Chế Bồng Nga đã bỏ thành trốn. Ngày 24, Duệ Tông muốn tiến quân ngay, đại tướng Đỗ Lễ can ngăn mãi nhưng ông không nghe, nói với quân sĩ rằng: "Ta mình mặc giáp, tay cầm gươm, dãi gió dầm mưa, lội sông, trèo núi, vào sâu trong đất giặc, không một người nào dám chống lại đó là trời giúp. Huống chi nay vua giặc nghe tiếng bỏ trốn, không có lòng đánh lại. Cổ nhân nói "Dụng binh quý ở nhanh chóng". Nay lại dùng dằng không tiến nhanh, thế là trời cho mà không lấy, để nó lại có mưu khác, thì hối không kịp?".

Và ông thúc quân tiến vào thành. Quân Chiêm 4 phía phục binh đổ ra đánh, quân Đại Việt thua to, mười phần chết đến 7, 8 phần[2]. Duệ Tông bị hãm trong trận, cùng các tướng Đỗ Lễ, Nguyễn Nạp Hòa, Hành khiển Phạm Huyền Linh đều tử trận[1]. Năm đó ông 41 tuổi.

Đỗ Tử Bình trước đã vu cáo vua Chiêm, lúc đó lĩnh hậu quân không tới cứu ứng cho Duệ Tông. Lê Quý Ly cũng sợ hãi bỏ chạy. Nghệ Tông sai lấy xe cũi nhốt Tử Bình. Khi cũi Tử Bình trở về trên thuyền qua Thiên Trường, dân chúng tranh nhau lấy ngói, gạch ném vào thuyền mà chửi[3]. Tuy nhiên khi về kinh, Quý Ly không hề bị thượng hoàng Nghệ Tông trách cứ, còn Tử Bình chỉ bị đồ làm lính 1 năm, sau đó lại được cất nhắc lên chức vụ cao hơn trước.

Thượng hoàng Trần Nghệ Tông thấy ông vì việc nước mà bỏ mình, nên chiêu hồn chôn ở Hy Lăng và cho lập con trưởng của ông là Kiến Đức Đại vương Trần Hiện nối nghiệp nhà Trần, tức là Trần Phế Đế.

Trần Phế Đế sai Đình Thâm sang cáo phó với nhà Minh, và nói rằng vua Duệ Tông đi tuần nơi biên giới, bị chết đuối ở biển. Người Minh từ chối không sang viếng, lấy cớ rằng: Theo Kinh Lễ, có ba điều không nên thăm là: vì phạm tội mà chết ở trong ngục (úy), hoặc vì bị đè chẹt mà chết bẹp (áp), hoặc vì ngã xuống nước mà chết đuối (nịch).

Đình Thâm tranh luận, cãi rằng: "Người Chiêm chống nghịch, quấy nhiễu nơi biên giới, vua Duệ Tông có công chống ngoại hoạn, cứu nhân dân, vậy sao không nên viếng?". Nhà Minh mới sai sứ sang điếu tang ông. Bấy giờ Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương muốn nhân Đại Việt có đại tang và tổn thất nhân sự, tính chuyện xâm lược. Thái sư Lý Thiện Trường nói rằng: "Thấy em chết vì việc nước, anh lại lập con của em lên ngôi; xem nhân sự [xử tốt với nhau] như thế, thì đủ biết lòng trời [hãy còn tựa nước người ta]"[1]. Do đó, Chu Nguyên Chương đành thôi ý định xâm lấn.

Giai thoại về Chế Thắng phu nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Tương truyền theo truyện dân gian, khi Trần Duệ Tông mang quân tới cửa biển Quảng Bình, gió thổi ngược khiến thuyền quân Trần không tiến được. Vua làm lễ cầu thần biển. Đêm đó thần biển báo mộng cho vua, đòi phải nộp 1 mỹ nhân mới cho thuận gió để quân đi qua.

Hôm sau Duệ Tông thuật lại chuyện cho mọi người nghe. Mọi người sợ hãi, chỉ có bà cung phi Nguyễn Thị Bích Châu tình nguyện hiến thân cho thần biển. Bà lao mình xuống biển chết và quân Trần đi qua được.

Sau này đến thời Lê Thánh Tông, năm 1471 cũng đi đánh Chiêm Thành, qua chỗ bà Bích Châu đã trầm mình. Bà hiện lên báo mộng cho vua Lê và xin làm lễ giải thoát. Vua Lê làm lễ cầu giải thoát cho bà và lập đền thờ ở cửa biển, phong làm "Chế Thắng phu nhân".

Bình luận[sửa | sửa mã nguồn]

Đại Việt sử ký toàn thư nhận định về Trần Duệ Tông như sau[1]:

Vua ương gàn cố chấp, không nghe lời can, khinh thường quân giặc, nên mang họa vào thân chứ không phải là do bất hạnh.

Trong sách Thuyết Trần, Trần Xuân Sinh tổng kết một số ý kiến khác nhau về Duệ Tông. Có ý kiến cho Duệ Tông kiêu hãnh tự hại mình và hại các tướng sĩ; nhưng cũng có ý kiến ngược lại coi ông là người có khí phách và chết ở chiến trường không kết tội[4].

Sau khi Minh Tông qua đời (1357), trong các vua nhà Trần thời hậu kỳ, ông là vua duy nhất có cá tính mạnh mẽ, mang hoài bão chấn hưng quốc gia[4]. Ngôi vua của Nghệ Tông giành lại từ tay Dương Nhật Lễ phần nhiều do công lao của ông. Trước Duệ Tông, các vua Dụ Tông, Nghệ Tông đều tầm thường, sau ông, các vua Trần phần nhiều bị Hồ Quý Ly khống chế.

Trần Duệ Tông là vua duy nhất trong lịch sử Việt Nam bị tử trận khi đương quyền[5]. Xét trong hơn 1000 năm chiến tranh Việt-Chiêm, ông cũng là vua duy nhất bị tử trận khi đánh nhau với quân Chiêm. Duệ Tông có lòng dũng cảm, nhưng vì ông quá nóng vội đánh bại kẻ địch mà ông xem là yếu ớt "nhược tiểu" nên bị bại trận. Do ông là tấm bình phong lớn nhất cho dòng tộc nhà Trần khi đó, việc ông bị tử trận khiến vua anh Nghệ Tông khiếp đảm, sau này hễ Chế Bồng Nga bắc tiến là cùng Lê Quý Ly bỏ kinh thành chạy dài. Trận thua lớn ở Đồ Bàn khiến thế nước Đại Việt suy kém, những người kế vị đều vô tài, nhà Trần ngày càng suy[4].

Cái chết của Duệ Tông là bước ngoặt lớn đối với nhà Trần thời hậu kỳ. Vua anh Nghệ Tông nhu nhược, vốn hoàn toàn dựa vào ông và sau khi ông mất lại hoàn toàn dựa vào Lê Quý Ly khiến cơ nghiệp nhà Trần suy sụp. Nếu ông không chủ quan sớm bỏ mạng, nước Đại Việt ít ra có thể giảm thiểu được họa Chiêm Thành trong những năm tiếp theo và chừng nào còn ông, Quý Ly khó trở thành quyền thần mà thao túng triều đình. Cái chết của Duệ Tông được xem là thiệt thòi cho Đại Việt và cho nhà Trần[6].

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vợ:
    • Gia Từ hoàng hậu.
    • Thần phi Nguyễn Thị Bích Châu.
    • Cung phi Trần Thị Ngọc Hòa, hay còn gọi là Cung phi Bạch Ngọc, con gái ông Trần Công Thiệu, quê làng Tri Bản, xã Thổ Hoàng, phủ Đức Quang, lộ Nghệ An (nay thuộc huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh), là người có tiếng là đoan trang, đức hạnh. Từ khi được tuyển vào cung, bà sinh được cho vua một người con gái đặt tên là Trần Thị Ngọc Hiền (còn có tên khác là Ngọc Dung, Ngọc Huyên) có hiệu là công chúa Huy Chân.
  • Con:
    • Chương Vũ đại vương Trần Vĩ (1360-?).
    • Trần Hiện, tức Trần Phế Đế (6/3/1361-1388), sau bị thượng hoàng Trần Nghệ Tông giáng làm Linh Đức vương rồi bắt thắt cổ chết.
    • Trần Nguyên Diệu (?-23/1/1390), năm 1389 hàng Chiêm Thành, sau khi Chế Bồng Nga chết lại chạy về Đại Việt, bị giết.
    • Chương Tĩnh vương Trần Nguyên Hy.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 7
  2. ^ Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược
  3. ^ Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư. Sách Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục chép khác một chút: Tử Bình bị nhốt vào xe, không ở trên thuyền và bị dân "chửi mắng, lấy gạch ngói ném vào xe tù Tử Bình"
  4. ^ a ă â Trần Xuân Sinh, sách đã dẫn, tr 368
  5. ^ Hai Bà Trưng được coi là tự vẫn. Theo các tài liệu của Trung Quốc thì Hai Bà Trưng tử trận.
  6. ^ Trần Xuân Sinh, sách đã dẫn, tr 369

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]