Trần Huy Liệu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trần Huy Liệu
Tran Huy Lieu.jpg
Chức vụ
Nhiệm kỳ 2 tháng 9, 1945 – 2 tháng 3, 1946
&0000000000000001.0000001 năm, &0000000000000184.000000184 ngày
Tiền nhiệm không có
Kế nhiệm bãi bỏ
Nhiệm kỳ 2 tháng 12, 1953 – 4 tháng 3, 1959
&0000000000000005.0000005 năm, &0000000000000092.00000092 ngày
Tiền nhiệm đầu tiên
Khu vực Flag of North Vietnam 1945-1955.svg Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Nhiệm kỳ 26 tháng 2, 1966 – 28 tháng 7, 1969
&0000000000000003.0000003 năm, &0000000000000152.000000152 ngày
Tiền nhiệm đầu tiên
Kế nhiệm Phạm Huy Thông (tạm thời)
Nguyễn Khánh Toàn (tạm thời)
Khu vực Flag of North Vietnam 1945-1955.svg Việt Nam
Thông tin chung
Đảng phái Việt Nam Quốc dân đảng (trước 1928)
Đảng Cộng sản Việt Nam
Sinh 5 tháng 11 năm 1901
Vụ Bản, Nam Định
Mất 28 tháng 7, 1969 (67 tuổi)
Hà Nội
Dân tộc Kinh

Giáo sư Trần Huy Liệu (5 tháng 11, 1901 - 28 tháng 7, 1969) là một nhà văn, nhà hoạt động cách mạng, nhà sử học, nhà báo Việt Nam. Ông từng giữ nhiều vị trí lãnh đạo cấp cao (như Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền Cổ động) trong chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông là chủ tịch đầu tiên của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Đông Đức.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ông quê ở làng Vân Cát, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Ông có bút danh chính là Nam Kiều và nhiều bút hiệu khác như Đẩu Nam, Hải Khánh, Côi Vị, Ẩm Hân Kiếm Bút.

Thuở nhỏ ông học thầy Bùi Trình Khiêm ở Nam Định, Hà Nội. Từ năm 1924, ông vào Nam công tác với các báo Nông cổ mín đàm, Rạng đông, làm chủ bút tờ Đông Pháp thời báo. Tháng 6 năm 1927 ông bị Pháp bắt, kết án tù vì có chân trong các tổ chức yêu nước.

Trần Huy Liệu có một người vợ chính thức và bốn người con. Ngoài ra, ông có một bà vợ không chính thức và một người con nữa với bà này. Bà vợ không chính thức dù có con, em tham gia bộ đội và ủng hộ rất nhiều cho kháng chiến, bà vẫn bị quy địa chủ tại Cuộc cải cách ruộng đất năm 1954, giam giữ đến gần chết vì lao phổi.[1].

Tham gia hoạt động chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1928 ông thành lập Cường học thư xã chuyên xuất bản sách cổ võ tinh thần yêu nước, nâng cao dân trí.

Cũng trong năm này, ông tham gia nhập Việt Nam Quốc dân đảng và tổ chức đảng bộ trong Nam giữ cương vị Bí thư kỳ Nam bộ.

Rồi bị Pháp bắt vào khoảng tháng 8 năm 1928, bị kết án 5 năm tù và đày ra Côn Đảo. Trong tù, vì tiếp xúc với người cộng sản ông tiếp thu chủ nghĩa cộng sản, tuyên bố li khai Quốc dân đảng, tự nguyện đứng vào hàng ngũ những người cộng sản.

Năm 1935, ông ra tù, bị trục xuất về miền Bắc.

Từ năm 1936, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, tích cực hoạt động cho đảng.

Tháng 10 năm 1939 lại bị bắt đày đi Sơn La, Bá Vân, Nghĩa Lộ. Đến tháng 3 năm 1945, tham gia phá trại giam Nghĩa Lộ, vượt ngục trở về Hà Nội làm công tác cách mạng.

Tham gia chính phủ cách mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời gian Cách mạng Tháng Tám ông giữ những cương vị quan trọng mặc dù ông chưa bao giờ làm Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng.

Tháng 8 năm 1945, ông dự Đại hội Quốc dânTân Trào và được bầu làm Phó chủ tịch Ủy ban dân tộc giải phóng (có vai trò như Chính phủ cách mạng lâm thời lúc đó). Ông là người soạn Quân lệnh số 1 phát lệnh Tổng khởi nghĩa toàn quốc dẫn đến Cách mạng Tháng Tám thắng lợi rồi làm Bộ trưởng Bộ Thông tin Tuyên truyền trong Chính phủ lâm thời.[2]

Ngày 25 tháng 8 năm 1945 ông thay mặt Chính phủ cùng với Nguyễn Lương BằngCù Huy Cận vào kinh đô Huế chấp nhận sự thoái vị và nhận ấn tín của vua Bảo Đại.[3]

Sau đó, ông lần lượt giữ các chức vụ: Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền cổ động,[4], Chính trị Cục trưởng trong Quân sự Ủy viên hội, Bí thư Tổng bộ Việt Minh, Chủ tịch Hội Văn hóa cứu quốc, Ủy viên thường trực Quốc hội, Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Phó chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Trung.

Trong thời gian kháng chiến chống Mỹ ông tham gia công tác Quốc hội, làm Chủ nhiệm Ủy ban Thống nhất của Quốc hội [5]

Hoạt đông nghiên cứu khoa học lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1953, ông chuyển sang công tác nghiên cứu khoa học, làm Trưởng ban Ban nghiên cứu Văn Sử Địa trực thuộc Trung ương Đảng cho đến năm 1959.

Sau đó ông lần lượt đảm nhiệm các chức vụ Viện trưởng đầu tiên của Viện Sử học, Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam.

Ông để lại 290 công trình nghiên cứu và các bản hồi ký là một di sản đồ sộ, ông đã có những cống hiến xuất sắc cho nền sử học đất nước, trong đó "Lịch sử 80 năm chống Pháp" đã đem lại vinh quang cho ông, tác phẩm được đưa vào làm sách giáo khoa trong các trường Đại học. Ông được bầu làm Chủ tịch đầu tiên của Hội Khoa học Lịch sử Việt nam

Ngày 28 tháng 7 năm 1969 ông mất tại Hà Nội, thọ 68 tuổi.

Vinh danh[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Đức tặng ông Huân chương khoa học Hum-Bôn, và ông lại được nhận danh hiệu Viện sĩ Thông tấn do Viện Hàn lâm khoa học Cộng hòa dân chủ Đức trao tặng.[cần dẫn nguồn]

Năm 1996, các công trình về Lịch sử của Trần Huy Liệu được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu tiên.[cần dẫn nguồn]

Tên của ông đặt cho một con đường ở khu vực phường Giảng Võ, quận Đống Đa, Hà Nội; một con đường tại phường Trường Thi, thành phố Nam Định; một con đường ở huyện Mường La, tỉnh Sơn La và một con đường tại quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh.[cần dẫn nguồn] Sau này con trai ông là nhà văn Trần Trường Chiến đã viết về ông trong tác phẩm "Trần Huy Liệu - Cõi người".

Các tác phẩm chính[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Một bầu tâm sự (1927)
  2. Ngòi bút sắc (1927)
  3. Hiến thân vì nước (1928)
  4. Ngục trung kí sự (1927)
  5. Anh hùng yêu nước (1928)
  6. Câu chuyện chung (1928)
  7. Thái Nguyên khởi nghĩa
  8. Ba người anh kiệt nước Ý
  9. Lịch sử Hà Nội

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]