Trần Lệ công

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trần Lệ công
陳厲公
Vua chư hầu Trung Quốc (chi tiết...)
Vua nước Trần
Trị vì 706 TCN - 700 TCN
Tiền nhiệm Trần Hoàn công hoặc Trần Đà
Kế nhiệm Trần Lợi công hoặc Trần Trang công
Thông tin chung
Hậu duệ Quy Hoàn
Thụy hiệu Trần Lệ công
chư hầu nước Trần
Thân phụ Trần Văn công hoặc Trần Hoàn công
Mất 707 TCN hoặc 700 TCN
Trung Quốc

Trần Lệ công (chữ Hán: 陳厲公; trị vì: 706 TCN - 700 TCN[1][2]) là một vị vua nước Trần – một chư hầu nhà Chu trong lịch sử Trung Quốc.

Sử sách đề cập không thống nhất về tên húy, thân thế con người và cuộc đời Trần Lệ công.

Trong Sử ký[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Sử ký, Trần Lệ công tên thật là Quy Đà (媯佗), là con thứ của Trần Văn công – vua thứ 11 nước Trần và là em của Trần Hoàn công – vua thứ 12 nước Trần. Ông sinh năm 754 TCN khi vua cha Trần Văn công mới lên ngôi. Mẹ ông là người nước Sái.

Năm 707 TCN, vua anh Hoàn công mất, Quy Đà lên ngôi, tức là Trần Lệ công.

Năm 705 TCN, Trần Lệ công sinh ra công tử Hoàn – người sau này di cư sang nước Tề và trở thành tổ tiên của dòng họ Điền Tề.

Khoảng năm 701 TCN, ông giết chết con Trần Hoàn công là thế tử Miễn. Thế tử Miễn còn 3 người em là Quy Dược, Quy Lâm và Quy Chử Cữu. Những người này liên kết với những thủ hạ thế tử Miễn, nhờ người nước Sái dụ ông sang nước Sái rồi hợp sức giết chết ông. Sau đó người nước Trần lập Quy Dược lên ngôi, tức là Trần Lợi công.

Theo trình tự tại Sử ký, Trần Lệ công Quy Đà là vị vua thứ 13 nước Trần, ở ngôi 7 năm.

Trong Kinh Xuân Thu và Tả truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Kinh Xuân Thu và Tả Truyện, Trần Lệ công tên thật là Quy Dược (媯躍), là con thứ của Trần Hoàn công – vua thứ 12 nước Trần và là em của thế tử Quy Miễn. Năm 707 TCN, vua cha Hoàn công mất, chú ông là Quy Đà giết thế tử Miễn anh ông lên ngôi.

Năm 706 TCN, Trần Đà bị người nước Sái giết chết trong khi đi săn. Người nước Trần lập Quy Dược lên ngôi, tức là Trần Lệ công. Theo Kinh Xuân Thu và Tả Truyện, Trần Đà không có thụy hiệu.

Trần Lệ công sinh ra công tử Hoàn – người sau này di cư sang nước Tề và trở thành tổ tiên của dòng họ Điền Tề.

Trịnh Trang công bỏ không vào triều kiến thiên tử nhà Chu. Chu Hoàn Vương tức giận huy động nước Sái, nước Vệ và nước Trần đánh Trịnh. Trần Lệ công mang quân giúp Chu Hoàn vương, hai bên chạm trán ở Nhu Cát. Liên quân thiên tử và chư hầu bị quân Trịnh đánh bại, bản thân vua Chu bị thương[3].

Năm 700 TCN, Trần Lệ công qua đời. Ông ở ngôi được 7 năm. Em ông là Quy Lâm lên nối ngôi, tức là Trần Trang công.

Theo trình tự tại Kinh Xuân Thu, Trần Lệ công là vua thứ 14 nước Trần và cũng ở ngôi 7 năm.

Điểm giống và khác về sử liệu[sửa | sửa mã nguồn]

Dù phản ánh về 2 con người khác nhau (một người là chú, một người là cháu, 2 người khác tên, khác năm mất), nhưng sử liệu thống nhất các thông tin sau về Trần Lệ công:

  1. Làm vua nước Trần trong 7 năm
  2. Là cha của công tử Hoàn – người sau này di cư sang nước Tề và trở thành tổ tiên của dòng họ Điền Tề.
  3. Trình tự 2 vị Trần Lệ công đều là: Quy Dược làm vua kế ngay sau Quy Đà

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sử ký Tư Mã Thiên, thiên:
    • Trần Kỷ thế gia
  • Phương Thi Danh (2001), Niên biểu lịch sử Trung Quốc, NXB Thế giới
  • Khổng Tử (2002), Xuân Thu tam truyện, tập 1, NXB TP Hồ Chí Minh

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sử ký, Trần Kỷ thế gia
  2. ^ Phương Thi Danh, sách đã dẫn, tr 17
  3. ^ Xuân Thu tam truyện, tập 1, tr 141