Trần Thanh Phong

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trần Thanh Phong
Tiểu sử
Sinh


Trà Vinh - Việt Nam
Mất


Tuy Hoà - VN
Binh nghiệp
Phục vụ Việt Nam Cộng hòa Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Cấp bậc Trung tướng
Đơn vị Sư đoàn Bộ binh 23 Việt Nam Cộng hòa
Sư đoàn Bộ binh 1
Sư đoàn Bộ binh 5
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Thanh Phong (19261972) , nguyên là một Tướng lĩnh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Ông được Truy Phong quân hàm Trung Tướng. Ông là một chỉ huy giỏi và dũng cảm, từng Tư lệnh các đơn vị Bộ binh thiện chiến của Quân Lực, đứng đầu ngành An ninh nội chính (Cảnh Sát Quốc Gia) . Chức vụ cuối cùng: Chánh Văn phòng Thường Trực Trung Ương Đặc trách Chương trình Thị tứ của Thủ Tướng Chính Phủ. Cuối năm 1972 ông bị tử nạn máy bay Quân sự khi đang trên đường làm nhiệm vụ thanh sát các Tỉnh thuộc QK 2.

Tiểu sử & gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tướng Trần Thanh Phong sinh ngày 19-1-1926 tại Trà Vinh.
  • Tốt nghiệp Trung học, có bằng Tú tài Pháp.
  • Thân phụ: Cụ Trần Văn Hanh - Thân mẫu: Cụ Nguyễn Thị Ngà .
  • Các em:
  • Đại tá Trần Thanh Phú(Số quân:48/101.235. Sinh tháng 10 tại Trà Vinh. Tốt nghiệp khoá 1 Bảo Đại Trường Võ Bị Huế )
  • Trung tá Trần Thanh Quang(Số quân:56/405.190. Sinh tháng 8 tại Bình Thuận, Tốt nghiệp Trường Sĩ quan Thủ Đức )
  • Trần Thanh Xuân (Thông dịch viên của Cơ quan Cords tại Tỉnh Phú Yên) .
  • Trần Thanh Phúc (Tốt nghiệp khoá 21 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam) .

Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

  • Năm 1949: Theo lệnh động viên ngày 1-10 ông trình diện nhập ngũ vào Quân Đội Pháp (Thời QT Bảo Đại) mang số quân: 46/103.156. Theo học Khoá 2 Quang Trung Trường Võ Bị Huế (Khai giảng vào tháng 12-1949. Mãn khoá ngày 26-4-1950. Cùng khoá với ông sau này lên Tướng còn có các Trung tướng Ngô Du, Nguyễn Văn Mạnh, các Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao, Hoàng Văn Lạc, Nguyễn Thanh Sằng, Hồ Văn Tố, Lê Ngọc Triển và các Chuẩn tướng Nguyễn Thanh Hoàng, Lê Trung Tường) .
  • Chú thích thêm về Trường Võ Bị Huế (Trường được thành lập để chuyên đào tạo sĩ quan người Việt, toạ lạc tại khu Đập Đá, hữu ngạn sông Hương, Tp Huế. Chỉ đào tạo khoá 1 và 2 Võ bị Quốc Gia. Sau đó dời về Đà Lạt, nên bắt đầu từ khoá 3 được gọi là Võ Bị Liên Quân Đà Lạt sau cải danh là Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Tuy nhiên, Trường Võ Bị Huế vẫn tiếp tục đào tạo sĩ quan người Việt nhưng cải danh là Trường Võ Bị Địa Phương Huế (còn gọi là Trường Võ Bị Đập Đá) . Từ năm 1950-1952 đào tạo thêm 3 khoá nữa. Sĩ quan tốt nghiệp sau này có các Tướng: Thiếu tướng Võ Văn Cảnh Khoá 3 (1951-1952) , Chuẩn tướng Phan Hoà Hiệp Khoá 1 (1950-1951) , Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ Khoá 2 (1951)) .
  • Năm 1950 ông tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu uý, thuyên chuyển đến Liên Đội 3 Trung Đoàn 3 Vệ Binh Nam Việt. Tháng 10-1951 ông làm Giám Đốc Trung Tâm Huấn Luyện Trung Đoàn 3.
  • Năm 1952 thăng Trung uý. Tháng 7-1953 thăng Đại uý chuyển đến Bộ Tham Mưu Đệ Nhất Quân Khu.
  • Năm 1954 tháng 7 theo học khoá Tham Mưu tại Pháp. Đầu năm 1955 mãn khoá về nước chuyển đến Phân Khu Mỹ Tho để giữ chức Tham Mưu Trưởng.
  • Tháng 8-1955 vinh thăng Thiếu tá. Đầu năm 1956 làm Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn Địa Phương 154 & Quyền Phân Khu Trưởng Phân Khu Mỹ Tho. Tháng 6 cùng năm chuyển đến Phòng 2 Bộ Tổng Tham Mưu.
  • Tháng 2-1957 chuyển đến Bộ Tư Lệnh Quân Khu 5 giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng.
  • Tháng 2-1958 thuộc Bộ Tư lệnh Quân Đoàn I, điều làm Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 3 Bộ binh. Tháng 8 cùng năm thăng Trung tá, cùng ngày chuyển đến Sư Đoàn 16 Khinh Chiến.
  • Tháng 5-1959 nhậm chức Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh thay thế Trung tá Bùi Dinh (Sau Tư lệnh SĐ 9 BB đến cuối năm 1963 giải ngũ) .
  • Năm 1961 du học lớp cấp tốc 1 Chỉ Huy & Tham Mưu tại Hoa Kỳ.
  • Năm 1962 chuyển đến Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng.
  • Năm 1963 ngày 1-11 được đặc cách thăng Đại tá làm Tư lệnh Sư Đoàn 1 Bộ binh.
  • Năm 1964 tháng 2 về làm Trưởng Phòng Quân Huấn Bộ Tư Lệnh QĐ I. Tháng 10 cùng năm được điều đi làm Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ binh.
  • Ngày 20-10-1964 vinh thăng Chuẩn tướng.
  • Tháng 7-1965 bàn giao SĐ 5 BB lại cho Đại tá Phạm Quốc Thuần về Bộ Tổng Tham Mưu giữ chức vụ Trưởng Phòng 3 kiêm nhiệm Giám Đốc Trung Tâm Hành Quân.
  • Ngày 1-11-1966 vinh thăng Thiếu tướng.
  • Tháng 11-1967 được cử làm Tham Mưu Trưởng Liên Quân QL VNCH.
  • Năm 1969 tháng 8 được cử giữ chức Tổng Thanh Tra QL VNCH. Sau đó tham chính với chức vụ Tổng Trưởng Bộ Xây Dựng Nông Thôn.
  • Năm 1971 biệt phái sang Bộ Nội Vụ giữ chức vụ Tư Lệnh CSQG. Đến tháng 9 trở lại Quân Đội.
  • Năm 1972 trực thuộc Bộ Quốc Phòng phụ trách đặc biệt Bình Định & Phát Triển Nông Thôn. Tháng 10 Chánh Văn Phòng Thường Trực Trung Ương Đặc trách Chương Trình Thị tứ của Thủ Tướng Chính Phủ.
  • Ngày 1-12, Tử nạn máy bay Caribou C.47 sau khi đi thanh sát các Tỉnh thuộc Quân Khu 2 khi đang trên đường bay về Tuy Hoà, máy bay bị tại ngộ nạn 2 km về phía băc Thị xã Tuy Hoà do thời tiết xấu vì mưa bão ( Cùng tử nạn còn có các sĩ quan Trung cấp tháp tùng với ông: Thiếu tá Lê Văn Ba sinh năm 1929, số quân:49/118.779 Tốt nghiệp Trường VBQGĐL, Truy thăng Trung tá. Đại uý Nguyễn Thu Giang sinh năm 1934, số quân:54/300.071 Tốt nghiệp khoá 10 phụ Trường VBQGĐL, Truy thăng Thiếu tá. Ngoài ra còn 3 viên Cố vấn Mỹ và 2 Trung uý Phi công) . Thi hài ông được đưa về quàn tại Toà Đô Chánh Gài Gòn.
  • Ngày 5-12 Tổng Thống & Phái đoàn Quân chính cao cấp hiện diện tại Toà Đô Chánh cử hành lễ Truy điệu, ông được TT Thiệu Truy phong lên Trung Tướng, Truy tặng Đệ Nhị Đẳng Bảo Quốc Huân Chương.
  • Tổ chức tang lễ theo nghi lễ Quân cách. Quan tài được đặt trên Thiết quân vận M 113 danh dự, di chuyển đến an táng tại Nghĩa trang Đô thành Mạc Đỉnh Chi.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  • (Sau năm 1975, Vợ ông Bà Ngô Thị Cúc lo xong cho hai cô con gái vượt biên sang Hoa Kỳ vào tháng 7 năm 1978. Năm 1979, bà tiến hành vượt biên bằng tàu nhưng sau đó gia đình không còn nghe tin tức gì của bà nữa) .

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Viết theo sách Lược Sử QL VNCH - Trần Ngọc Thống & Hồ Đắc Huân 2011.

Sách[sửa | sửa mã nguồn]

  • Những người trai khói lửa, NXB Thanh Hóa, ấn phẩm năm 2000