Trần Thiện Khiêm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trần Thiện Khiêm
Chức vụ
Nhiệm kỳ 27 tháng 8 năm 1964 – 8 tháng 9 năm 1964
Tiền nhiệm Nguyễn Khánh
Kế nhiệm Dương Văn Minh
Khu vực Việt Nam Cộng Hòa
Nhiệm kỳ tháng 9 năm 1969 – 14 tháng 4 năm 1975
Tiền nhiệm Trần Văn Hương
Kế nhiệm Nguyễn Bá Cẩn
Khu vực Việt Nam Cộng Hòa
Nhiệm kỳ 1964 – 1975
Khu vực Việt Nam Cộng Hòa
Thông tin chung
Sinh 15-12-1925 (89 tuổi)
Châu Thành, Long An VN
Nghề nghiệp Quân nhân
Dân tộc Người Việt
Vợ Đinh Thị Yến - mất: 2004
Binh nghiệp
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Năm tại ngũ 1945-1975
Cấp bậc US-O10 insignia.svg Đại tướng
Chỉ huy Flag of Colonial Annam.svgĐông Dương thuộc Pháp
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Việt Nam Cộng hòa
Tham chiến Đảo chính Việt Nam Cộng hòa 1960
Đảo chính Việt Nam Cộng hòa 1963
Đảo chính Việt Nam Cộng hòa 1964
  • Trần Thiện Khiêm nguyên là một tướng lĩnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà mang quân hàm Đại Tướng (Ông lên Tướng thời kỳ Đệ Nhất Cộng Hoà, Thiếu Tướng ngày 6-12-1962) và là một chính khách Việt Nam Cộng hòa. Ông từng có vai trò quan trọng trong các cuộc đảo chính quân sự tại Việt Nam Cộng hòa trong những năm 1963-1964 và là người từng giữ chức vụ Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa trong thời gian lâu nhất (6 năm).

Khởi đầu binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tướng Trần Thiện Khiêm sinh ngày 15 tháng 12 năm 1925 tại Châu Thành, Long An, trong một gia đình đại điền chủ giàu có. Tốt nghiệp Tú tài.
  • Năm 1945, ông tham gia phong trào Việt Minh. Khi Pháp tái chiếm Nam Bộ, ông cùng các bạn hữu rút vào chiến khu 8, chiến đấu dưới quyền khu trưởng Trần Văn Trà một thời gian ngắn, sau đó lại trở về thành.
  • Năm 1946, ông gia nhập quân đội Pháp, số quân: 45/102.661. Theo học khoá 1 Nguyễn Văn Thinh Trường Võ bị Liên quân Viễn đông Đà Lạt. Ông tốt nghiệp năm 1947 với cấp bậc Chuẩn úy. Thời gian này ông kết thân với Nguyễn Khánh, Quách Sến, Lâm Văn PhátTrần Đình Lan.
  • Sau khi tốt nghiệp, ông phục vụ trong quân đội Pháp. Tháng 7 năm 1948, ông được chuyển sang lực lượng Vệ Binh Nam Phần làm sĩ quan tập sự, phục vụ Đại đội 1 thuộc Tiểu đoàn 3 VN và được thăng cấp Thiếu úy (ngày 1-8). Một thời gian sau, khi Quân đội Quốc gia Việt Nam được thành lập.

Quân đội Quốc gia

  • Năm 1950, ông chuyển ngạch phục vụ và trở thành sĩ quan chính thức với cấp bậc Trung úy, được điều làm chỉ huy một đơn vị đồn trú tại Mông Thọ, Rạch Giá. Tại đây, ông làm quen và kết hôn với bà Đinh Thùy Yến (Tư Nết, tên Pháp là Annette), con gái một đại điền chủ vùng Rạch Giá.
  • Năm 1952, ông được thăng cấp Đại uý điều đi Tiểu khu Hưng Yên làm Trưởng ban 3 của Liên đoàn Lưu động số 2 đồn trú tại Ninh Giang. Tại đây ông kết thân với 2 sĩ quan người Việt là Trung úy Nguyễn Văn Thiệu và Trung úy Cao Văn Viên (bộ 3 này về sau là những người có thế lực nhất trong nền Đệ nhị Cộng hòa). Năm 1953, tháng 8 bàn giao chức Trưởng phòng 3 lại cho Đại uý Vương Văn Đông. Tháng 9, phục vụ tại Liên đoàn Lưu động số 3 đồn trú tại Ninh Bình do Thiếu tá Phạm Văn Đổng làm Chỉ huy trưởng.
  • Tháng 7 năm 1954, ông làm Trưởng phòng 3 Đệ nhị Quân khu thay thế Thiếu tá Nguyễn Văn Thiệu lên làm Tham mưu trưởng. Cuối năm ông được thăng cấp Thiếu tá làm Tham mưu trưởng Đệ nhị Quân khu (phụ trách Trung phần vừa được thành lập, dưới quyền Trung tá Nguyễn Ngọc Lễ) thay thế Thiếu tá Thiệu đi làm Tiểu khu trưởng Tiểu khu Ninh Thuận.

Quân đội VNCH

  • Một năm sau, tháng 8 năm 1955, ông được thăng Trung tá giữ chức vụ Tham mưu Phó Tiếp vận Bộ Tổng tham mưu Quân đội Việt Nam Cộng Hoà thay thế Trung tá Đặng Văn Quang.
  • Do có công ủng hộ Thủ tướng Ngô Đình Diệm phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, tháng 8 năm 1957 ông được thăng cấp Đại tá giữ chức Xử lý thường vụ Tham mưu trưởng Bộ Tổng tham mưu. Sau đó ông được cử đi tu nghiệp khóa Chỉ huy và Tham mưu cao cấp tại Học viện Fort Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ.
  • Sau khi về nước tháng 3 năm 1958, ông được cử làm Tư lệnh Sư đoàn 4 Dã chiến (ngay sau đó, được cải danh thành Sư đoàn 7 Bộ binh). Năm 1959, cuối tháng 3, bàn giao chức Tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh lại cho Trung tá Huỳnh Văn Cao.
  • Tháng 2 năm 1960, Tư lệnh Sư đoàn 21 Bộ binh (tiền thân là Sư đoàn 11 Khinh chiến) thay thế Đại tá Nguyễn Văn Y (chuyển về Trung ương) kiêm Tư lệnh Quân khu 4 (đồng bằng sông Cửu Long, miền tây Nam bộ).
  • Tháng 11 năm 1960, khi nổ ra cuộc đảo chính quân sự do Đại tá Nguyễn Chánh Thi và Trung tá Vương Văn Đông cầm đầu, ông đã chỉ huy Sư đoàn 21 kéo về Sài Gòn để giải vây cho Tổng thống Ngô Đình Diệm.

Mưu sĩ của các cuộc đảo chính[sửa | sửa mã nguồn]

  • Năm 1962, bàn giao chức Tư lệnh Sư đoàn 21 lại cho Đại tá Bùi Hữu Nhơn. Do hành động giải vây trên, ông rất được Tổng thống Ngô Đình Diệm tín nhiệm. Tháng 12, ông được thăng cấp Thiếu tướng và giữ chức Tham mưu trưởng Liên quân, thay cho người tiền nhiệm là tướng Nguyễn Khánh vừa được điều vào chức vụ Tư lệnh Quân đoàn II.
  • Tháng 7-1963, Quyền Tổng tham mưu trưởng thay thế Đai tướng Lê Văn Tỵ sang Hoa Kỳ chữa bệnh. Tháng 8, bàn giao chức Quyền Tổng tham mưu trưởng lại cho Trung tướng Trần Văn Đôn, tái nhiệm chức Tham mưu trưởng Liên quân thay thế Thiếu tướng Lê Văn Nghiêm
  • Tuy vậy, tướng Khiêm lại là một trong những tướng lĩnh chủ chốt tham gia cuộc Đảo chính. Với cương vị Tham mưu trưởng Liên quân, tướng Khiêm được cho là có những động thái tích cực để vạch kế hoạch và điều động các đơn vị tham gia đảo chính vào Sài Gòn cũng như cách ly các đơn vị trung thành với tổng thống Diêm.
  • Sau cuộc đảo chính, ông được Vinh thăng Trung tướng kiêm chức Uỷ viên Quân sự trong Hội đồng Quân nhân Cách mạng do Trung tướng Dương Văn Minh làm Chủ tịch.
  • Năm 1964, bàn giao chức Tham mưu trưởng Liên quân, được bổ nhiệm vào chức vụ Tư lệnh Quân đoàn III, kiêm Tổng trấn Sài Gòn thay cho tướng Tôn Thất Đính. Tuy nhiên, chỉ một tháng sau, ông cùng với người bạn cũ là tướng Nguyễn Khánh đã thực hiện cuộc "chỉnh lý" chớp nhoáng, cướp quyền của Hội đồng Quân nhân Cách mạng, đưa tướng Khánh lên nắm quyền tối cao. Để trả công, ông được tướng Khánh giao giữ chức Tổng trưởng Quốc phòng, kiêm Tổng Tư lệnh Quân lực (Tổng tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam Cộng hòa). Ngày 11 tháng 8, ông được thăng cấp Đại tướng và trở thành người thứ 2 sau tướng Lê Văn Tỵ thụ phong hàm Đại tướng của Việt Nam Cộng hòa.

Thắng làm vua, thua làm đại sứ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tuy nhiên, mâu thuẫn quyền lực đã nảy sinh với ông bạn cũ Nguyễn Khánh. Để bảo đảm quyền lực tuyệt đối, tướng Khánh khó mà chấp nhận người bạn đã nhiều lần tổ chức đảo chính và đã đưa mình lên vị trí quyền lực. Cho rằng tướng Khiêm đứng đằng sau cuộc binh biến của tướng Dương Văn Đức ngày 13 tháng 9 năm 1964, ngày 24 tháng 10 năm 1964, ông bị tướng Khánh tước mọi chức vụ và được "cử" làm Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Hoa Kỳ, thực chất là một hình thức đẩy đi lưu vong ở nước ngoài.
  • Sau khi nhóm các tướng trẻ do tướng Nguyễn Cao Kỳ và một người bạn cũ của tướng Khiêm là tướng Nguyễn Văn Thiệu cầm đầu, đã buộc tướng Khánh phải rời khỏi chức vụ để "làm" đại sứ lưu động, tướng Khiêm đã có hy vọng trở về. Tuy nhiên, tháng 19-1965, nhóm tướng Kỳ một lần nữa lại đẩy ông làm Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Đài Loan (Trung Hoa Dân Quốc).

Trở về nắm quyền[sửa | sửa mã nguồn]

  • Mãi đến sau khi người bạn cũ Nguyễn Văn Thiệu (sau khi đã ngồi chắc vào chiếc ghế Tổng Thống) đã dùng nhiều biện pháp để loại trừ vây cánh của tướng Kỳ (lúc đó đã là Phó tổng thống), tháng 5 năm 1968, ông mới được triệu hồi về nước và được giao chức vụ Tổng trưởng Nội vụ trong chính phủ Trần Văn Hương. Đầu năm 1969, ông được cử làm Phó Thủ tướng. Tháng 8 năm 1969, ông được Tổng thống Thiệu chỉ định làm Thủ tướng và lập chính phủ mới. Khi tướng Nguyễn Văn Vỹ bị cách chức Tổng trưởng Quốc phòng năm 1972, ông kiêm nhiệm luôn chức vụ này cho đến tận tháng 4 năm 1975.

Lưu vong lần thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tháng 3 năm 1975, sau khi Quân đội Nhân dân Việt Nam đã kiểm soát được hầu hết miền Trung và cao nguyên, trước áp lực của Hoa Kỳ đòi hỏi phải có một cuộc cải tổ sâu rộng thành phần chính phủ để ổn định nội tình Miền Nam và có đủ sức mạnh để đối thoại với phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã yêu cầu ông từ chức để mời Nguyễn Bá Cẩn thành lập chính phủ mới. Ngày 5 tháng 4 năm 1975, ông chính thức từ chức rời khỏi chức vụ. Ngày 21 tháng 4, đến lượt tổng thống Thiệu cũng từ chức, giao quyền Tổng thống cho phó Tổng thống Trần Văn Hương. Đêm ngày 24 tháng 4, ông cùng với cựu Tổng thống Thiệu rời khỏi Việt Nam sang Đài Loan. Sau đó qua định cư tại Hoa Kỳ.
  • Những giờ phút cuối cùng của ông tại Việt Nam được cựu điệp viên CIA Frank Snepp ghi lại trong quyển "Decent Interval" như sau:
  • "Khoảng 5giờ chiều 25 tháng 4 năm 1975, Polgar gọi tôi, Joe Kingsley, tướng Timmes và một nhân viên khác của sở đến văn phòng: "Các anh có thể tìm đường quanh Sài Gòn ban đêm?...". "Tốt". "Vì tôi muốn các anh giúp tôi đưa Thiệu và Thủ tướng Khiêm đi Đài Loan tối nay". Đại sứ Martin sau này thú nhận với tôi là ông đã tiếc vì đã nhờ Polgar Giám đốc CIA ở Việt Nam, thay vì nhờ cơ quan DAO và than phiền Polgar đã không làm được việc giao phó cho đúng. "Tôi đã yêu cầu ông ấy đánh máy hồ sơ cần thiết cho Thiệu và đem theo với ông ấy khi các anh vào Tân Sơn Nhất. Nhưng ông ấy không làm được. Ông ấy quên giấy. Ông ấy bảo là không tìm thấy bàn đánh máy chữ". Kết quả là Thiệu rời khỏi xứ trên máy bay Mỹ mà không có giấy tờ chấp thuận của Việt Nam hay phía Mỹ.
  • Timmes, hai nhân viên khác và tôi lấy ba chiếc Limousine từ nhà xe của cơ quan CIA khoảng 8giờ 30 tối và lái xe đến Bộ Tư lệnh Quân đội miền Nam ngoài Tân Sơn Nhất nơi Khiêm cư ngụ…
  • Ngay sau 9 giờ tối, Polgar đến nhà Khiêm với xe riêng và tài xế. Trong khi ông ta uống rượu với Khiêm và Timmes trong nhà, tất cả chúng tôi ra ngoài sân nghỉ chân….
  • Sau khi sang Mỹ, ông cùng gia đình định cư tại Virginia, rồi chuyển sang Houston, Texas. Vợ ông, bà Đinh Thuỳ Yến đã qua đời ngày 17 tháng 11 năm 2004.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lược Sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà - Trần Ngọc Thống & Hồ Đắc Huân 2011.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phỏng vấn đặc biệt nguyên Thủ tướng Trần Thiện Khiêm: Phần 1Phần 2