Trần Văn Đôn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trần Văn Đôn
Tranvandon.jpg
Tướng Trần Văn Đôn
Tiểu sử
Sinh

19 tháng 8, 1917(1917-08-19)

Bordeaux, Pháp
Mất 1998 (81 tuổi), Arkansas, Hoa Kỳ
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of France.svg Quân đội Pháp
Flag of South Vietnam.svg Quân đội Quốc gia Việt Nam
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Việt Nam Cộng hòa
Năm tại ngũ 1945-1965
Cấp bậc US-O9 insignia.svg Trung tướng
Tham chiến Chiến tranh Đông Dương
Chiến tranh Việt Nam
Công việc khác Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Cộng hòa

Trần Văn Đôn (1917-1998) là một cựu Trung tướng Quân lực Việt Nam Cộng hòa và cựu chính khách Việt Nam Cộng hòa. Ông là một trong những nhân vật chủ chốt trong cuộc đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm năm 1963. Ông cũng là phó thủ tướng và là bộ trưởng quốc phòng của nền Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam thời Việt Nam Cộng hòa.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 19 tháng 8 năm 1917 tại Cauderan, Gironde, Bordeaux, Pháp, nhưng xuất thân từ một gia đình đại địa chủ giàu có ở Tây Nam Bộ. Cha của ông đã đến Pháp học y khoa và sinh ông tại đây. Cả gia đình ông đều theo quốc tịch Pháp, vì vậy ông còn có tên Pháp là Andre.

Năm 1920, thân phụ ông hồi hương mang theo cả gia đình. Năm 1923, ông theo học Trường Tiểu Học Lasan Taberd Sài Gòn. Năm 1925, học Trường Lycėe Chaseloup Laubat Sài Gòn. Tại đây ông quen biết một học sinh giỏi thể thao tên là Dương Văn Minh.

Năm 1927, ông được gia đình cho sang Pháp du học, đến năm 1939 thì hồi hương về học ở Việt Nam. Năm 1939, ông tốt nghiệp Tú tài 2 Pháp, sau đó lại sang Pháp theo học Trường Cao đẳng Thương mại Paris, Pháp.

Binh nghiệp trong quân đội Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 9 năm 1939, Thế chiến thứ hai bùng nổ. Ông nhập ngũ vào Quân đội Pháp. Tháng 5 năm 1940, ông được cử theo học tại Trường Sĩ quan Trừ bị Saint Maixent. Tuy nhiên, trong thời gian ông thụ huấn, nước Pháp thất thủ trước Đức Quốc xã. Ông bị bắt làm tù binh tại chiến trường La Loire và giam giữ 2 tháng tại Trường Thiết giáp Kỵ binh Saumur. Tháng 12 năm đó, ông hồi hương bằng đường biển trên tàu thuỷ Ville de Strasbourg.

Sau khi về nước, ông tiếp tục phục vụ cho Quân đội Pháp tại Đông Dương, trở thành Huấn luyện viên tân binh cho các binh sĩ người Việt trong quân đội thuộc địa. Năm 1944, ông là một trong 2 hạ sĩ quan trẻ người Việt (trong số 10 khóa sinh) được cử theo học Trường Võ bị Tông, Sơn Tây theo chương trình nhằm đào tạo sĩ quan người Việt của chính quyền thuộc địa Pháp[1]. Ông tốt nghiêp với cấp bậc Chuẩn úy và được giữ lại trường làm huấn luyện viên.

Khi Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương, ông theo đoàn quân của tướng Marcel Alessandri vượt biên đào thoát sang Trung Quốc. Vì vậy, khi quân Pháp tái chiếm Đông Dương, ông được thăng cấp Thiếu úy, được phân công phục vụ tại văn phòng của tướng Jacques-Philippe Leclerc, Tổng tư lệnh Quân Viễn chinh Pháp tại Đông Dương. Giữa tháng 12, ông từng được chọn vào Biệt đội hỗ trợ cho cựu hoàng Duy Tân, nguyên Thiếu tá Quân đội Pháp. Tuy nhiên do cựu hoàng bị tử nạn máy bay vào ngày 26 tháng 12 năm 1945 khi trên đường trở về nước, do đó ông được chuyển sang Sở Nghiên cứu Lịch sử Pháp.[cần dẫn nguồn] Đầu tháng 10 năm 1946, ông được thăng Trung úy.

Đầu năm 1948, Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân được cựu hoàng Bảo Đại chỉ định làm Thủ tướng Chính phủ lâm thời Quốc gia Việt Nam. Tháng 7 năm đó, ông được bổ nhiệm làm Sĩ quan Tùy viên cho tướng Nguyễn Văn Xuân. Tháng 10 năm 1949, ông được thăng Đại úy.

Sĩ quan Pháp trong Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Để chuẩn bị sĩ quan nòng cốt để hình thành bộ máy của Bộ Tổng tham mưu Quân đội Quốc gia Việt Nam sắp được thành lập, theo thỏa thuận giữa chính phủ Pháp và Quốc gia Việt Nam, 4 sĩ quan người Việt quốc tịch Pháp, thuộc lực lượng Liên hiệp Pháp được chuyển sang đặt thuộc quyền sử dụng của Bộ Quốc phòng chính phủ Quốc gia Việt Nam. Bốn sĩ quan này gồm Thiếu tá Trần Văn Minh, Thiếu tá Lê Văn Kim, Đại úy Trần Văn Đôn, và Đại úy Nguyễn Khánh. Tháng 5 năm 1950, cả 4 sĩ quan trên được cử sang Pháp theo học một khoá ngắn hạn tại Trường Cao đẳng Quốc phòng (École Supérieure de Geurre) tại Paris.

Sau khi về nước, ông được chuyển ngạch sang Quân đội Quốc gia Việt Nam và được thăng Thiếu tá đầu năm 1952. Tháng 5 năm 1942, ông được bổ nhiệm làm Chánh Sở An ninh Quân đội, đến tháng 7, được thăng Trung tá, Giám đốc Nha Tác động tinh thần (gồm cả An ninh Quân đội và Phòng 5) Bộ Tổng Tham mưu. Ngày 1 tháng 6 năm 1953, ông được thăng Đại tá, Tham mưu trưởng Liên quân Bộ Tổng tham mưu.

Ảnh hưởng trong nền Đệ nhất Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi người Pháp thảm bại trong trận Điện Biên Phủ, cựu thượng thư Ngô Đình Diệm được Quốc trưởng Bảo Đại chỉ định làm Thủ tướng. Ông và nhiều bạn hữu của mình đã tích cực ủng hộ Thủ tướng Diệm loại trừ các ảnh hưởng của những người thân Pháp trong chính quyền, kể cả Quốc trưởng Bảo Đại và cấp trên của ông, tướng Nguyễn Văn Hinh, Tổng tham mưu trưởng. Để tưởng thưởng cho sự ủng hộ ấy, ngày 30 tháng 4 năm 1955, ông được Thủ tướng Diệm thăng cấp Thiếu tướng.

Sau khi chính thể Việt Nam Cộng hòa thành lập, ông từ bỏ quốc tịch Pháp và ở lại phục vụ trong Quân đội Việt Nam Cộng hòa với chức vụ Tham mưu trưởng Liên quân Bộ Tổng tham mưu kiêm Phụ tá Tổng tham mưu trưởng. Tháng 2 năm 1957, ông được thăng Trung tướng. Cùng thăng Trung tướng đợt này có người bạn cũ Dương Văn Minh.

Tháng 5 năm 1957, ông tháp tùng Tổng thống Diệm công du Hoa Kỳ 10 ngày. Đến tháng 10, được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân đoàn I và Vùng 1 Chiến thuật. Năm 1959, ông được cử đi du học khóa vũ khí cận đại tại Fort Bliss, Texas, Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, từ năm 1960 trở đi, mối quan hệ giữa ông và Tổng thống Diệm bắt đầu có những rạn nứt. Năm 1962, ông được điều về lại Bộ Tổng tham mưu nhận chức Tư lệnh Lục quân, trên thực tế là một chức vụ không nắm thực quyền. Những người cũ của ông ngày nào từng ủng hộ Tổng thống Diệm cũng giữ một chức vụ "quyền lực" không kém: tướng Dương Văn Minh, Tư lệnh Hành quân Bộ Tổng tham mưu; tướng Lê Văn Kim, Phụ tá Tư lệnh Bộ Tư lệnh Hành quân; tướng Trần Văn Minh, Chỉ huy trưởng Trường Đại học Quân sự... Cộng thêm tình thế chính trị và xã hội phức tạp của Việt Nam Cộng hòa trong Biến cố Phật giáo 1963, ông dần trở thành một nhân vật quan trọng trong các báo cáo về những ý đồ đảo chính của phân bộ CIA tại Sài Gòn.[2]

Đảo chính và bị đảo chính[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù vậy, với bản tính thận trọng, ông vẫn giữ được phần nào sự tin cậy của Tổng thống Diệm trong khi vẫn là nhân vật liên lạc của nhóm đảo chính, thậm chí giữ kín kế hoạch đảo chính với cả người Mỹ[3]. Ngày 27 tháng 7 năm 1963, Đại tướng Lê Văn Tỵ, Tổng tham mưu trưởng, sang Mỹ chữa trị ung thư phổi, Thiếu tướng Trần Thiện Khiêm, Tham mưu trưởng Liên quân, tạm thời làm Xử lý thường vụ Tổng tham mưu trưởng. Trong một động thái đã được dự tính, ngày 19 tháng 8 năm 1963, ông dẫn đầu một phái đoàn gồm một số tướng lĩnh vào dinh Gia Long để đệ trình Tổng thống Diệm một kế hoạch ban hành tình trạng khẩn cấp để tránh những tác hại lan rộng của Biến cố Phật giáo. Vì vậy, ngay ngày hôm sau, ngày 20 tháng 8, Tổng thống Diệm đã bổ nhiệm ông làm quyền Tổng tham mưu trưởng, nhằm mục đích thực thi kế hoạch.

Trên thực tế, với vai trò này, ông càng có điều kiện đẩy nhanh kế hoạch đảo chính. Chỉ trong vòng 1 tháng, các chỉ huy và đơn vị trung thành với Tổng thống Diệm đều bị vô hiệu hoặc được điều chuyển ra khỏi Sài Gòn. Và cuộc đảo chính thực sự nổ ra ngày 1 tháng 11 năm 1963, cũng như cái chết của anh em Tổng thống Diệm một ngày sau đó.

Để thay thế vai trò của Tổng thống Diệm, một Hội đồng Quân nhân Cách mạng được thành lập. Ông được giữ vị trí thứ 2 trong Hội đồng với vai trò Đệ nhất Phó chủ tịch, chỉ sau tướng Dương Văn Minh.

Tuy nhiên, danh vọng tột đỉnh của ông chỉ tồn tại chưa đầy 3 tháng. Ngày 30 tháng 1 năm 1964, một người bạn cũ của ông, tướng Nguyễn Khánh, đã thực hiện cuộc "chỉnh lý" lên nắm chức Chủ tịch Hội đồng. Ông cùng các một số tướng lĩnh chủ chốt trong Hội đồng gồm Tôn Thất Đính, Lê Văn Kim, Mai Hữu Xuân, đều bị bắt giam và đưa lên Đà Lạt chờ điều tra với tội danh Tình nghi “trung lập”.

Ông kể lại trong hồi ký như sau khi được đưa ra đối chất trước Hội đồng vào lúc 1 giờ sáng ngày 29 tháng 5 năm 1964:

“Bước vào thật là buồn rầu, bỡ ngỡ. Trước mặt tôi là các tướng tá: Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh, Đỗ Cao Trí, Phạm Xuân Chiểu, Dương Văn Đức, Lâm Văn Phát, Đỗ Mậu, Tôn Thất Xứng, Nguyễn Chánh Thi, Dương Ngọc Lắm, Trần Tử Oai, Lê Văn Nghiêm, Nguyễn Cao Kỳ (đến buổi sáng sau). Chung Tấn Cang, các đại tá: Trần Thanh Bền, Nguyễn Mộng Bích, Lê Văn Nhiêu. Tôi ngồi ở giữa, họ ngồi chung quanh…”.

Nhưng dù sao thì ông cũng được trả tự do. “Tôi ngủ một đêm tự do sau 4 tháng “đi nghỉ mát” ở biển và cao nguyên. Qua ngày chủ nhật 31 tháng 5, tất cả gia đình tôi đoàn tụ ở Đà Lạt sau 4 tháng đen tối nhất của đời tôi”. [4]

Mặc dù đến tháng 10 cùng năm, ông được phép trở lại phục vụ quân đội nhưng không được giao nhiệm vụ cụ thể nào. Sau khi tướng Nguyễn Khánh bị các tướng trẻ đẩy đi lưu vong, ông cũng nhận được quyết định buộc phải giải ngũ vào tháng 5 năm 1965.

Chính khách Đệ nhị Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Binh nghiệp khép lại, nhưng sự nghiệp chính trị của ông lại mở ra từ khi nền Đệ nhị Cộng hòa được thành lập. Ông cùng nhiều cựu tướng lĩnh thành lập Hiệp hội Chiến sĩ Việt Nam do ông làm Chủ tịch, tham gia nhiều tổ chức xã hội, xây dựng uy tín chính trị. Nhờ đó, tháng 9 năm 1967, ông đắc cử Thượng nghị sĩ, được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng Thượng viện (1968-1970). Năm 1971, ông ra tranh cử Hạ viện tại đơn vị Quảng Ngãị và đắc cử.

Năm 1974: Là Phó Thủ tướng Đặc trách Thanh tra các chương trình Phát triển Quốc Gia.

Tháng 3 năm 1975, ông được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cử đi công du các nước không liên kết ở châu Phi, sau đó sang Pháp và Mỹ để vận động chính trị cho Việt Nam Cộng hòa. Tuy nhiên, do sự kiện Buôn Ma Thuột, ông buộc phải bỏ dở kế hoạch.

Khi chính phủ Nguyễn Bá Cẩn được thành lập ngày 14 tháng 4 năm 1975, ông giữ chức Phó thủ tướng Đặc trách Thanh tra kiêm Tổng trưởng Quốc Phòng. Tuy nhiên, chính phủ chỉ tồn tại được 10 ngày thì đổ. Ngày 27 tháng 4 năm 1975, ông ra trước Quốc hội trình bày thực trạng quân sự, thuyết phục các nghị sĩ ủy nhiệm cho tướng Dương Văn Minh làm Tổng thống nhằm tìm một giải pháp về chính trị để thương thuyết với đối phương. Tuy nhiên mọi việc đã quá trễ.

Lưu vong[sửa | sửa mã nguồn]

Khi chính phủ Vũ Văn Mẫu thành lập, ông là người thay mặt cho chính phủ cũ để bàn giao. Ngay sau khi bàn giao, ông nhanh chóng trở về để di tản khỏi Sài Gòn.

Những thời khắc cuối cùng tại Sài Gòn được ông kể lại chi tiết trong hồi ký của mình:

“Chiều 29 tháng 4: lúc đến Tòa đại sứ Mỹ, tôi không vào được vì người quá đông nên mọi cửa ra vô đều đóng chặt, tôi phải đi vòng ngã phía đường Hồng Thập Tự (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai, quận 1- HCM) cũng không vô được. Tôi trở lại Bộ Quốc phòng điện thoại cho Tòa đại sứ Mỹ, nhưng gọi rất khó khăn vì họ đã cắt nhiều đường dây, kiên nhẫn gọi một hồi liên lạc được với ông Polgar (người có trách nhiệm cao nhất của Cơ quan trung ương tình báo Mỹ CIA tại Sài Gòn). Ông dặn tôi đến nhà riêng rồi ông sẽ bốc tôi đi.
“Đến nơi tôi cũng thấy đông nghẹt người đang chờ. Cô thư ký của ông Polgar kêu chúng tôi đến khách sạn Mỹ Lee Hotel gần đài Chiến sĩ tự do. Chúng tôi tới đó thấy cửa đóng mà người chờ đợi để đi cũng quá đông nên đành trở lại nhà ông Polgar ngồi chờ.[5]
...
"Đang lúc nản lòng, định bỏ cuộc, bỗng cô thư ký của ông Polgar đến, nói nhỏ: “Mình đi chỗ khác!”. Xe chúng tôi theo xe của cô ấy đến đường Gia Long (nay là đường Lý Tự Trọng) gần đường Tự Do (nay là đường Đồng Khởi) tại một cao ốc 9 tầng. Tầng dưới là Alliance Francaise của Pháp. Còn 8 tầng trên là văn phòng tình báo CIA của Mỹ. Chúng tôi lên trên sân thượng tầng 9. Tại đó đã có sẵn khoảng 60 người đang chờ trực thăng hạ xuống. Người ta chen lấn nhau để lên máy bay nên tôi đành phải đứng phía sau.[6]

Trong chuyến đi cuối cùng này, ông tình cờ gặp một người quen cũ là Trần Kim Tuyến, cựu Giám đốc Sở Nghiên cứu Chính trị thời Đệ nhất Cộng hòa. Cả hai người ngồi đối diện nhau nhưng đều lặng thinh, không nói câu nào trong suốt thời gian bay ra chiến hạm Hancock.[7]

“7 giờ 30 tối ngày 29.4.1975, tôi giã từ Sài Gòn. Lúc đó Sài Gòn đã lên đèn, những ngọn đèn lờ mờ như chan hòa nước mắt, tôi giã từ quê hương đất nước, lúc quê hương đất nước đang chuyển mình quặn đau, cái đau đứt ruột (…) Trực thăng chở chúng tôi đáp xuống chiến hạm Hancock. Sáng hôm sau (30.4.1975), khi radio loan tin lời tuyên bố đầu hàng của tổng thống Dương Văn Minh, hầu hết những người trên tàu đều xúc động. Một nỗi buồn da diết đè nặng tâm hồn mọi người hiện diện. Tất cả đều im lặng. Im lặng nhìn nhau không muốn chuyện trò… đám đông người ở trên tàu đều nhòe nhoẹt nước mắt. Tàu nổ máy rồi rẽ sóng ra khơi”…[6]

Sau khi đến Mỹ, ông cùng gia đình định cư tại Fort Chaffee, Arkansas, Hoa Kỳ. Những năm cuối đời, ông cho xuất bản quyển hồi ký chính trị "Việt Nam nhân chứng", kể lại nhiều chi tiết trong cuộc đời mình.

Năm 1998 ông từ trần tại nơi định cư. Hưởng thọ 81 tuổi.

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Thân phụ ông là bác sĩ Trần Văn Đôn, tốt nghiệp y khpa tại Paris, một trong những đồng sáng lập của đảng Dân chủ Đông Dương, nguyên Hội trưởng Hội Khuyến học Sài Gòn, Thị trưởng Sài Gòn - Chợ Lớn, Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Ý.

Ông có 2 người em:

  • Trần Thị Thu Hương (1918-?), tức Gabrielle Antoinette Trần Văn Đôn, sau này được gả cho tướng Lê Văn Kim.
  • Pierre Trần Văn Đôn, bác sĩ tại Paris, Pháp.

Đời tư ông nổi tiếng có nhiều giai thoại tình ái. Nhiều phụ nữ thuộc tầng lớp thượng lưu thời bấy giờ là tình nhân của ông, thậm chí có nghi vấn Đệ nhất phu nhân Trần Lệ Xuân cũng nằm trong số này.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trần Văn Đôn, Việt Nam nhân chứng, NXB Xuân Thu, California, 1989. tr. 27.
  2. ^ Trần Văn Đôn, Việt Nam nhân chứng NXB Xuân Thu, California, 1989, tr. 173
  3. ^ Trần Văn Đôn, Việt Nam nhân chứng NXB Xuân Thu, California, 1989, tr. 209
  4. ^ Đọc hồi ký của các tướng tá Sài Gòn xuất bản ở nước ngoài
  5. ^ Trần Văn Đôn, Việt Nam nhân chứng NXB Xuân Thu, California, 1989, tr. 478
  6. ^ a ă Trần Văn Đôn, Việt Nam nhân chứng NXB Xuân Thu, California, 1989, tr. 479
  7. ^ Larry Berman, Perfect Spy, 2007, p. 221 - 224.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]