Trần Văn Trà

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nguyễn Chấn
Tran Van Tra.jpeg
Thượng tướng Trần Văn Trà (1919-1996)
Tiểu sử
Biệt danh Trần Văn Trà
Quốc tịch Flag of Vietnam.svg Việt Nam
Sinh

1919

Tịnh Long, Sơn Tịnh, Quảng Ngãi
Mất

20 tháng 4, 1996

Thành phố Hồ Chí Minh
Binh nghiệp
Thuộc Flag of Viet Nam Peoples Army.svg Quân đội Nhân dân Việt Nam
Năm tại ngũ 1946-1997
Cấp bậc ThuongtuongQDND.gifThượng tướng
Chỉ huy Flag of Viet Nam Peoples Army.svg Quân đội Nhân dân Việt Nam
Tham chiến Chiến tranh Đông Dương
Chiến tranh Việt Nam
Khen thưởng Huân chương Hồ Chí Minh
Huân chương Quân công hạng nhất, hạng ba
Huân chương Chiến thắng hạng nhất
Công việc khác Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam
Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
Ủy viên Trung ương Đảng
Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam

Trần Văn Trà (tên thật là Nguyễn Chấn; 19191996) là Thượng tướng trong Quân đội Nhân dân Việt Nam

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Văn Trà quê xã Tịnh Long, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, sau vào cư ngụ tại Sài Gòn. Ông còn có bí danhTư Chi, Tư Nguyễn, Ba Trà. Xuất thân trong một gia đình làm nghề nông, thời trẻ học tiểu học tại Quảng Ngãi, năm 1936, ông tham gia Đoàn Thanh niên Dân chủ Huế khi còn đang học tại trường Kỹ nghệ thực hành Huế; năm 1938 gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Ông từng bị thực dân Pháp bắt giam hai lần.

Lãnh đạo quân sự Nam Bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Cách mạng tháng Tám, ông giữ chức Ủy viên Kỳ bộ Việt Minh Nam Bộ. Khi chiến tranh Đông Dương nổ ra tại Nam Bộ, ông tham gia công tác quân sự, giữ chức Chi đội trưởng Chi đội (tương đương trung đoàn) 14, Khu trưởng Khu 8, xứ ủy viên Nam Bộ (1946-1948); Tư lệnh kiêm Chính ủy Khu Sài Gòn - Chợ Lớn; Tư lệnh Khu 7 (1949-1950); Phó Tư lệnh Nam Bộ, Tư lệnh Phân khu Miền Đông Nam Bộ (1951-1954).

Tướng Trần Văn Trà trong hội nghị bốn bên.

Năm 1955, ông tập kết ra Bắc, giữ chức Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (1955-1962), Phó Chủ nhiệm Tổng cục Quân huấn (1958), Giám đốc Học viện quân chính và Chánh án Tòa án quân sự Trung ương (1961).

Từ năm 1963, ông được cử vào Nam làm Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam (1963-19671973-1975), Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam (1968-1972), Phó Bí thư Quân ủy Quân giải phóng Miền Nam.

Sau Hiệp định Paris 1973, ông làm Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tại Ban Liên hiệp đình chiến bốn bên ở Sài Gòn.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông giữ chức Chủ tịch Ủy ban Quân quản Sài Gòn - Gia Định, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7.

Từ năm 1978 đến năm 1982, ông giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Từ năm 1992 ông là Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

Ông là ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (dự khuyết khóa 3, chính thức khóa 4). Ông được phong quân hàm Trung tướng năm 1959 [1], Thượng tướng năm 1974. Được thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất, hạng ba, Huân chương Chiến thắng hạng nhất.

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Ông lập gia đình với tiến sĩ sinh hóa nguyên Phó Giám đốc Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh Lê Thị Thoa, con gái luật sư Lê Đình Chi (1912-1949), Trưởng ban Quân pháp Nam Bộ. Sau khi nghỉ hưu, ông tập trung viết hồi ký và tham gia nhiều hoạt động xã hội[2].

Năm 1982, ông cho in cuốn Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm, trong đó có ghi những nhận định chủ quan của nhiều lãnh đạo Cộng sản, khi đã đánh giá quá cao khả năng quân sự của mình và đánh giá quá thấp khả năng của quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng hòa trước và trong dịp Tổng tấn công Tết Mậu Thân. Sách mới in đến tập 5 thì bị thu hồi do quan điểm bị coi là không chính thống, nên các tập sau không được xuất bản.

Ông qua đời ngày 20 tháng 4 năm 1996 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Tên ông hiện được đặt cho một con phố ở khu đô thị Phú Mỹ Hưng, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Không chỉ là một tướng lãnh, ông còn trước tác một số sách.

  • Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm (gồm nhiều tập, mới in tập 5 thì bị thu hồi do quan điểm bị coi là không chính thống, nên các tập sau không được xuất bản)
  • Gởi người đang sống (1996)
  • Mùa thu lịch sử (1996)
  • Cảm nhận về xuân Mậu Thân (1968) (1998)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản dịch tiếng Anh của tập 5 Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm: