Trận đồn Donelson

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trận đồn Donelson
Một phần của Nội chiến Hoa Kỳ
Battle of Fort Donelson.png
Battle of Fort Donelson, tranh của Kurz và Allison, 1887.
.
Thời gian 1116 tháng 2 năm 1862
Địa điểm Quận Stewart, Tennessee
Kết quả Liên bang miền Bắc chiến thắng[1]
Tham chiến
Hoa Kỳ Liên bang miền Bắc Liên minh miền Nam Hoa Kỳ Liên minh miền Nam
Chỉ huy
Hoa Kỳ Ulysses S. Grant
Hoa Kỳ Andrew H. Foote
Liên minh miền Nam Hoa Kỳ John B. Floyd
Liên minh miền Nam Hoa Kỳ Gideon J. Pillow
Liên minh miền Nam Hoa Kỳ Simon B. Buckner Đầu hàng
Thành phần tham chiến
Quận Cairo
Đội tàu miền Tây
Quân đồn trú đồn Donelson
Lực lượng
24.531[2] 16.171[2]
Tổn thất
2.691
(507 chết,
  1.976 bị thương,
  208 bị bắt/mất tích[3])
13.846
(327 chết,
  1.127 bị thương,
  12.392 bị bắt/mất tích[3])
.

Trận đồn Donelson là trận đánh diễn ra từ ngày 11 tháng 2 đến 16 tháng 2 năm 1862, thuộc Mặt trận miền Tây trong Nội chiến Hoa Kỳ. Quân đội Liên bang miền Bắc đã đánh chiếm đồn Donelson, mở rộng đường sông Cumberland cho cuộc tấn công xuống miền Nam. Nhờ thắng trận này mà chuẩn tướng Ulysses S. Grant đang là sĩ quan không ai biết đến được thăng chức thiếu tướng và trở nên nổi tiếng với biệt hiệu Grant "đầu hàng vô điều kiện" ("Unconditional Surrender" Grant - viết tắt trùng với hai tên đầu của ông).

Sau khi hạ được đồn Henry ngày 6 tháng 2, Grant kéo quân chạy 12 dặm theo đường bộ tiến đến đồn Donelson từ ngày 12 đến ngày 13 tháng 2 và bắt đầu các cuộc công kích lẻ tẻ để thăm dò.[4] Ngày 14 tháng 2, viên chỉ huy hải quân Andrew H. Foote đã cố hạ đồn bằng cách cho tàu chiến pháo kích nhưng bị quân miền Nam bắn trả dữ dội và buộc phải rút lui với nhiều thiệt hại.

Ngày 15 tháng 2, đồn Donelson bị bao vây, chỉ huy quân miền Nam là chuẩn tướng John B. Floyd liền bất thình lình đem quân kéo ra phá vòng vây mở đường thoát. Tướng Grant lúc đầu không có mặt tại chiến trường nhưng đã tới kịp để củng cố lực lượng và tiến hành phản kích, điều động quân miền Bắc đánh trả mãnh liệt. Mặc dù có giành được thắng lợi cục bộ nhưng Floyd thấy vậy đâm mất tự tin, kéo quân rút về đồn.

Sáng hôm sau, ngày 16 tháng 2, Floyd cùng phó tướng là Gideon J. Pillow đã chuyển giao quyền chỉ huy cho chuẩn tướng Simon Bolivar Buckner (người sau này trở thành thống đốc Kentucky), và Buckner liền chấp nhận ra hàng vô điều kiện tướng Grant.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ NPS
  2. ^ a ă Gott, trg 284-88. Lực lượng miền Bắc bao gồm cả hải quân và lục quân.
  3. ^ a ă Gott, pp. 284-85, 288.
  4. ^ Mặc dù chưa phải là tên chính thức nhưng đội quân dưới quyền Grant đã trở thành hạt nhân của Binh đoàn sông Tennessee sau này.Woodworth, trg 10.

Thứ mục[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Catton, Bruce. Grant Moves South. Boston: Little, Brown & Co., 1960. ISBN 0-316-13207-1.
  • Huffstodt, James. Hard Dying Men: The Story of General W. H. L. Wallace, General Thomas E. G. Ransom, and the "Old Eleventh" Illinois Infantry in the American Civil War (1861–1865). Bowie, MD: Heritage Press. ISBN 1-55613-510-6.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tọa độ: 36°29′38″B 87°51′22″T / 36,493808°B 87,856014°T / 36.493808; -87.856014