Trận Agincourt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tọa độ: 50°27′49″B 2°08′30″Đ / 50,46361°B 2,14167°Đ / 50.46361; 2.14167

Trận đánh Agincourt
Một phần của Chiến tranh Trăm Năm
Schlacht von Azincourt.jpg
Trận Agincourt, hình minh họa của thế kỷ 15
.
Thời gian 25 tháng 10 (ngày Thánh Crispin) năm 1415
3 tháng 11 năm 1415 nếu tính theo lịch mới
Địa điểm Agincourt, miền Đông Bắc nước Pháp [1]
Kết quả Thắng lợi quyết định của Quân đội Anh[2], các Hiệp sĩ Pháp bị hủy diệt.[3] Người Anh mở đầu 30 năm thống trị trên đất Pháp.[4]
Tham chiến
Royal Arms of England (1399-1603).svg Vương quốc Anh France moderne.svg Vương quốc Pháp
Chỉ huy
Royal Arms of England (1399-1603).svg Henry V của Anh
Royal Arms of England (1399-1603).svg Công tước xứ York  
Royal Arms of England (1399-1603).svg Thomas Erpingham
Royal Arms of England (1399-1603).svg Nam tước Camoys
France moderne.svg Charles d'Albret  
France moderne.svg Thống chế Boucicault  Đầu hàng
France moderne.svg Công tước xứ Orléans Đầu hàng
France moderne.svg Bá tước d'Alencon  
Lực lượng
Các ước tính ngày nay vào khoảng 6 nghìn người [5] đến 9 nghìn người.[6]
Khoảng 5/6 là lính bắn cung dài, 1/6 là các lính Kỵ binh đã xuống ngựa chiến đấu với áo giáp nặng.
Các ước tính ngày nay vào khoảng 36 nghìn người (tỉ lệ 6:1 với quân Anh)[7] đến 12 nghìn người (tỉ lệ 4:3 với quân Anh.[8]
Có khoảng 1 vạn Kỵ binh (khoảng 1.200 người trong đó trực tiếp chiến đấu trên lưng ngựa), nhiều ngàn Bộ binh, lính nỏ và lính bắn cung (số lượng chưa rõ).
Tổn thất
Ít nhất có 112 người tử trận, số người bị thương không rõ[2][7] Khoảng 7 nghìn – 1 vạn người tử trận và khoảng 1.500 quý tộc bị bắt[1][9][10]
.

Trận Agincourt hay còn được gọi là Trận Azincourt ở Pháp, là một chiến thắng lớn trong Chiến tranh Trăm Năm của quân Anh trước quân Pháp đông đảo hơn nhiều về mặt số lượng. Trận chiến diễn ra vào ngày thứ sáu 25 tháng 10 năm 1415 (ngày Thánh Crispin) tại một địa điểm gần Azincourt ngày nay, thuộc miền Bắc Pháp.[11] Đây là một toàn thắng của vua Henry V nước Anh và có ý nghĩa như một đòn giáng sấm sét của ông vào quân Pháp, bất chấp ưu thế to lớn về quân số của Pháp[12][13]. Không những gặp may mắn, mà lòng can trường của ông đã truyền cảm ba quân chiến đấu và thắng trận lừng danh này.[14] Với liên tiếp hai đợt tấn công của quân Pháp bị phá tan mà quân Anh chỉ có chút ít thương vong, trận Agincourt trở thành một trong những cuộc ác chiến "một chiều" nhất trong lịch sử nhân loại, một vụ tàn sát thê lương tầng lớp Hiệp sĩ phong kiến Pháp[15].[16] Được xem là cuộc đại thắng cuối cùng của quân Anh với cung dài trên đất Pháp,[17] toàn thắng tại Agincourt cũng được xem là một chiến tích đầu tay của ông vua cầm binh Henry V.[18] Trong văn học - lịch sử nước Anh, thắng lợi to tát của ông trong trận này - là tuyệt đỉnh cho cuộc tiến công nước Pháp của ông[19] - đã trở nên bất hủ,[20] góp phần làm nên niềm tự hào dân tộc Anh.[21] Với tầm trọng đại trong suốt lịch sử châu Âu,[4] chiến thắng oanh liệt này được coi là một biểu hiện cho chủ nghĩa anh hùng và binh thế của nước Anh,[14][22] làm nước Pháp lâm vào cảnh lụn bại, mất quá nhiều quý tộc (trong đó có cả bảy vương hầu[23])[1], và mở ra một thời kỳ mới của cuộc chiến tranh với thế thượng phong nghiêng hẳn về nhà Plantagenet cũng như 30 năm thống trị của Quân đội Anh trên đất Pháp.[4][24] Thắng lợi lừng vang này - có thể được xem là trận thắng ngoại bang lớn nhất của người Anh trước trận phá hạm đội Tây Ban Nha (1588)[25] - cũng khiến cho Henry V, nổi danh là "nhà chinh phạt tại Agincourt"[26][27] đã diệt sạch quân chủ lực Pháp mà hoàn toàn "giết tươi cái vinh hiển của Hiệp sĩ Pháp"[3][16], nắm được lợi thế rõ rệt và trở nên một anh hùng bất bại trong mắt người đời,[28][29] gắn chắc với niềm huy hoàng của nước Anh.[30] Và, sau đó ông đã phát huy thắng lợi bước đầu này bằng cuộc chinh phạt vùng Normandie và buộc nước Pháp phải cầu hòa,[31][32][33] lấy con gái của vua Pháp và con trai của họ được hứa hẹn sẽ nối dõi ngôi vua nước Pháp, tuy nhiên kế hoạch của ông đã không thể thực thi được sau khi ông qua đời.

Sơ lược[sửa | sửa mã nguồn]

Henry V là người chỉ huy của quân Anh và cũng trực tiếp chiến đấu. Chính chiến thắng vẻ vang này đã gây nên danh thơm của ông - một trong những vị vua - chiến binh kiệt xuất nhất của nước Anh vào thời kỳ Trung Cổ[31], mặc dù thực chất, toàn thắng này nằm ngoài kế hoạch đánh Pháp của ông.[22] Bên phía quân Pháp, do vua Pháp lúc đó là Charles VI không đủ sức khỏe nên người trực tiếp chỉ huy là Nguyên soái Charles d'Albret và nhiều quý tộc Pháp thuộc phái Armagnac, do đó thảm họa Agincourt gây thiệt thòi nhất cho họ. Trận mưa tên của các cung thủ Anh dũng mãnh đã băm nát quân Pháp, trước khi hai bên lao vào đánh giáp lá cà một trận nảy lửa, trong đó quân Anh thắng thế và quân Pháp bị tàn sát thẳng tay, nhiều quý tộc có thế lực và quân lính Pháp bị người Anh tóm gọn.[34][35][36][37] Quân lính Pháp gặp bất lợi, chẳng thể chiến đấu nổi ở nơi bùn lầy trắc trở.[38] Lần lượt hai tuyến quân Pháp bị đổ vỡ[1].[17] Bản thân nhà vua Henry V xông pha chiến đấu mãnh liệt, giết địch ngay tại nơi chiến sự gay go nhất, loại được nhiều kẻ địch ra khỏi vòng chiến.[14][36] Ông đã diệt được địch và làm chủ được trận địa, còn quân Pháp đã tan vỡ khi đêm đến đúng như ông dự đoán[23][35][39]. Sau khi đánh tan nát quân Pháp, do lo sợ một đạo quân Pháp khác bọc hậu quân Anh nên ông đã truyền lệnh cho 200 cung thủ Anh triệt để hạ sát tù binh Pháp - phá vỡ truyền thống "quân tử" của người nam nhi thời phong kiến[39]. Bản thân nhóm quân Pháp này cũng dễ dàng bị quân Anh đánh cho tan nát và phải lui đi.[1][31][35] Quân Pháp không hề rút ra bài học từ đại bại ở trận Crécy hồi năm 1346, khiến cho Henry V - vốn đã bố trí ba quân theo kiểu hai đại thắng này[1] - toàn thắng trận này.[34] Nguyên soái Albret đã trận vong trong trận thua to ấy,[35] chính sự hiếu thắng và bất tuân của quân tướng dưới quyền ông đã khiến cho họ bị đại thảm bại trong trận này.[29] Cũng trong thảm họa lớn,[10] Thống chế Boucicault của Pháp bị bắt giải về nước Anh.[4] Đại bại ấy cũng cho thấy sự vô kỷ cương của Hiệp sĩ phong kiến Pháp.[38]

Chiến thắng oanh liệt ở trận Agincourt, cùng với các trận CrécyPoitiers, trở thành những chiến công hiển hách nhất của Nhà nước phong kiến Anh trong cuộc Chiến tranh Trăm Năm.[40] Nếu như trận Crécy đánh dấu mốc suy yếu của các Hiệp sĩ mặc giáp thì trận Agincourt - được xem là thắng lợi của tinh thần kỷ cương và tài nghệ của cung thủ Anh trước lòng dũng cảm nhưng vô phép của Hiệp sĩ Pháp[15] - đánh dấu sự sụp đổ của lối đánh phong kiến này.[34] Đại thắng ở Agincourt thậm chí còn nổi tiếng hơn cả hai thắng lợi nêu trên, tận diệt quý tộc Pháp chỉ trong vòng chưa đầy một tiếng đồng hồ.[15][22] Chiến thắng này của quân Anh trở nên một trong những trang sử vàng son của lịch sử quân sự thế giới, như một trong những thắng lợi chấn vang nhất mà sử cũ ghi lại được, và được coi là một chiến thắng uy vũ điển mẫu theo kiểu Anh, qua việc nhà vua "lấy ít thắng nhiều".[31][35][41] Thậm chí chiến công này còn được xem là một trận "lấy ít thắng nhiều" vang danh nhất trong lịch sử Anh.[42] Dẫu chiến thắng to lớn này của quân tướng Anh là nhờ có sự chuẩn bị chu đáo và kỹ lưỡng của Henry V trước khi lên đường đánh Pháp, việc ông đại phá cường địch đã khiến cho người đương thời hết sức là bất ngờ.[19] Nhà vua nước Anh thắng trận đã tóm gọn được nhiều nhà quý tộc phong kiến Pháp - thể hiện sự tan tành của khát vọng Hiệp sĩ hào hùng tại Pháp thời đó.[12][34] Quân Anh kiên dũng, sau cuộc chiến đấu gian nan mà thắng lợi huy hoàng của họ, chỉ mất có chút ít quý tộc phong kiến và binh sĩ (một chiến quả thần kỳ của họ, cho thấy tổn thất nhỏ hơn hẳn chiến thắng của họ[30][35]), trong khi xác quân Pháp mà chủ yếu là quý tộc thì chất cao thành núi.[19][36] Không những nhân tố quyết định là sự có lợi địa thế Agincourt đối với quân Anh[31], trận chiến được nhớ tới (hơn cả trận Crécy và trận Poitiers) với sự sử dụng cung dài với số lượng lớn của quân Anh, đa phần là các cung thủ người Anh và xứ Wales, đã hạ đo ván đoàn Kỵ binh Pháp và quyết định cho đại thắng, như thể Chúa quan phòng cho Henry V phá Pháp[1][22][28][35]. Chiến công lớn ấy chứng tỏ sự bất bại của cung thủ Anh thời Trung Cổ.[37] Bản thân nhà vua cũng ấn tượng với chiến quả này - sự chứng nhận tính đúng đắn của các chiến thuật của Anh hồi ấy[4][38]. Chính cung dài không những đóng góp lớn cho chiến thắng ti tát tại Agincourt mà cũng khiến cho nước Anh trở thành cường quốc quân sự hùng mạnh nhất của châu Âu trong đêm trường Trung Cổ, hơn hẳn Pháp.[31] Ngoài cung thủ, thắng lợi vang dội này cũng được coi là nhờ có lực lượng Bộ binh Anh.[43] Các Hiệp sĩ giờ đây đã mất đi vai trò chủ đạo trong quân đội các quốc gia Tây Âu thưở ấy,[34] và chiến thắng rực chói của quân Anh trong trận này - đỉnh cao chói lọi của cung thủ trong chiến trận[22] - cũng khiến cho phe thân Anh của Quận công xứ Burgundy chiếm ưu thế trong chính quyền phong kiến Pháp.[1] Trong khi người đương thời coi đại thắng là nhờ Thiên Chúa đã quan phòng cho Henry V và cả nước Anh,[19][29] sau chiến thắng nghìn thu này ông thừa thắng kéo rốc đại binh cùng với đống chiến lợi phẩm vào vùng Calais, xong rồi ca khúc khải hoàn trở về kinh thành Luân Đôn trong niềm hân hoan của thần dân, và nhanh chóng trở nên một nhân vật huyền thoại trong lịch sử.[1][2][14][23] Bề tôi cũng kính nể và tin cẩn tuyệt đối vào vị vua chiến thắng.[29] Sau đại thắng, không những được nhân dân Anh mến mộ mà ông còn trở nên một Bá vương của châu Âu hồi ấy, với sức mạnh ở Pháp không kém ở Anh.[30][32] Triều đình Pháp sau thảm họa này - một trong những đại thảm bại của Pháp trong mối thù truyền kiến với Anh[44] - chỉ còn có thể kỳ vọng vào một "Phép lạ" để giành lại đất nước.[15] Bên cạnh nỗi khổ đau của người Pháp chiến bại, người Anh nhiệt liệt hân hoan, và Triều đình càng thêm ủng hộ Henry V đánh Pháp sau đại thắng này - một thắng lợi vẻ vang đã cho họ thấy rõ tầm quan trọng cao của chiến dịch phạt Pháp.[27][35] Với giá trị to lớn về chiến lược và tinh thần, chiến công lớn của ông tại Agincourt phá Pháp đã góp phần củng cố quyền lực cho nhà Lancaster.[45][46] Trận chiến này cũng trở thành tâm điểm trong vở kịch nổi tiếng Henry V của William Shakespeare. Dẫu có là hư cấu, Shakespeare đã ca ngợi chiến thắng vẻ vang ấy,[47] khắc họa hình ảnh của ông vua dũng lược và nêu ra tầm quan trọng của tình đoàn kết giữa nhà vua và ba quân đối với toàn thắng này.[14]

Chiến dịch[sửa | sửa mã nguồn]

Tại nước Anh, Quốc vương Henry V lên nối đại thống vào năm 1413, mở ra một bước ngoặt cho cuộc Chiến tranh Trăm Năm[48]. Ông đã phát động chiến dịch phạt Pháp sau nhiều nỗ lực thương lượng không thành với người Pháp. Ông đòi hỏi danh hiệu vua Pháp thông qua thân thế của ông cố mình là Edward III, mặc dù thực tế thì các vị vua Anh sẽ sẵn sàng từ bỏ lời đòi hỏi này nếu người Pháp chấp nhận chủ quyền Anh ở Aquitaine và một số vùng khác thuộc Pháo (nội dung Hòa ước Bretigny).[49] Lúc đầu, Henry V triệu tập một hội đồng vào mùa xuân năm 1414 để thảo luận về việc gây chiến với Pháp, nhưng các quý tộc muốn ông thương lượng thêm và giảm bớt các yêu cầu. Trong các cuộc thương lượng sau đó, Henry bảo sẽ từ bỏ lời đòi hỏi ngôi vua Pháp nếu phía Pháp trả 1.6 triệu cua-ron từ vấn đề tiền chuộc của vua John II (bị bắt giữ trong trận Poitiers thưở năm 1356), và phải thừa nhận chủ quyền Anh ở các vùng Normandy, Touraine, Anjou, Brittany, Flanders, và Aquitaine (các lãnh thổ từ tận thời Henry II hơn 200 năm về trước). Henry sẽ cưới công chúa Catherine của Charles VI và nhận 2 triệu cua-ron của hồi môn. Người Pháp chỉ chấp nhận ở mức hôn nhân với Catherine, của hồi môn 600.000 cua-ron, và một vùng Aquitaine được mở rộng thêm. Cuộc thương lượng đi vào bế tắc và người Anh cho rằng phía Pháp không tôn trọng các điều khoản họ đưa ra, cũng như là xúc phạm đến vua Henry V.[50] Tháng 12 năm 1414, quốc hội Anh được thuyết phục để cho Henry V "khoản tiền trợ cấp gấp đôi", một loại thuế gấp hai lần bình thường, để ông có thể đòi hỏi lại quyền thừa kề từ nước Pháp. Vào ngày 19 tháng 4 năm 1415, Henry lại đề nghị hội đồng cho phép chiến tranh với Pháp, và lần này được chấp thuận.[51]

Như thế là vị tân vương đã tiếp tục cuộc Chiến tranh Trăm Năm mà nhà vua Edward III phát động từ hồi năm 1337, với mong muốn khôi phục thế thắng cho Anh Quốc[14][22]. Và quả thật, triều đại ông gắn chặt với niềm huy hoàng của nước Anh thời buổi ấy,[30] khi nước Pháp đang lâm vào khủng hoảng tài chính và hỗn độn thậm tệ.[33] Đoàn quân của vua Henry V tới miền bắc nước Pháp vào ngày 13 tháng 8 năm 1415 và vây hãm cảng Harfleur với một quân đội khoảng từ 1 vạn[34] cho đến 12 nghìn người. Đương thời, người Pháp thường coi nguyên nhân của cuộc chiến là do sự hung bạo của quân Anh, và các nhà chép sử nước Pháp cũng lên án Henry V như họ đã làm với Edward III. Nhưng thực chất không phải là như vậy. Thực sự là vua Henry V có tham vọng và khát khao thắng lợi ở Pháp, nhưng ông chưa hề lập kế hoạch đánh một trận như Agincourt. Ông chẳng qua là muốn mở chiến dịch theo hai đường thủy bộ, nhằm tái gầy dựng lực lượng thủy binh Anh. Vả lại, cuộc chiến chinh cũng kho6g phải là vô căn cứ do thủy quân Pháp đã vài lần cướp phá bờ biển Anh Quốc trước đó.[22] Cuộc vây hãm kéo dài lâu hơn dự kiến, và nơi đây chỉ đầu hàng vào ngày 22 tháng 9. Quân Anh đóng tại đây cho tới ngày 8 tháng 10. Thời gian có thể tiến hành các hoạt động quân sự đã hết (sắp tới mùa đông), và quân Anh cũng đã chịu khá nhiều thương vong vì dịch bệnh. Thế nhưng thay vì rút quân thẳng về Anh và chấp nhận việc chỉ thu được duy nhất một thành phố trong đợt ra quân lần này, Henry V quyết định hành quân (với khoảng 9 nghìn binh sĩ) xuyên qua vùng Normandy để tới lãnh địa của Anh tại miền bắc Pháp là Calais. Mục đích của cuộc hành quân là để chứng tỏ sự hiện diện của mình ngay trước mặt kẻ thù, và khẳng định rằng lời đòi hỏi ngôi vua của ông không hề mơ hồ và không hề chỉ mang tính lịch sử (hiểu là: một vài vua Anh trước Henry V cũng đều tuyên bố quyền thừa kế ngôi vua Pháp, nhưng đó chỉ là những đòi hỏi hữu danh vô thực dựa vào thân thế lịch sử của họ, còn Henry muốn chứng tỏ là ông đủ khả năng để thực sự làm chuyện đó).[52] Ông cũng muốn dùng cuộc tiến quân như một lời khiêu chiến với vị Thái tử (dauphin) của Pháp, người đã không trả lời khi Henry V thách thức ông ta tại Harfleur.[53]

Nhà vua nước Anh đã trục xuất hết dân chúng ở Harfleur, và ông đưa người Anh vào đó sinh sống.[1] Trong lúc quân Anh vây hãm, người Pháp đã tập hợp được một đội quân ở Rouen. Đó không hoàn toàn là một quân đội kiểu phong kiến, mà là một quân đội được trả lương theo kiểu tương tự người Anh. Phía Pháp hy vọng sẽ tuyển mộ được 9.000 quân, nhưng họ không kịp tới cứu Harfleur. Trong quá trình chinh chiến, Henry V cũng đốt phá các nông trang ở Pháp, bởi lẽ ông cho rằng chiến tranh mà không có khói lửa thì cũng chẳng khác gì thức ăn thiếu gia vị.[1] Sau khi ông tiến quân về phía bắc, quân Pháp cũng di chuyển để phong tỏa họ dọc sông Somme. Henry buộc phải di chuyển về phía nam, xa khỏi Calais, để tìm một chỗ cạn. Ông cuối cùng cũng vượt qua được sông Somme tại nam Péronne, ở Béthencourt và Voyennes,[54][55] và tiếp tục hành quân lên phía bắc. Không có sông bảo vệ, người Pháp e ngại việc tiến hành giao chiến.

Ban đầu một nhà chép sử Pháp phải kinh hồn trước quân số của ông[22], nhưng sau vài tuần chinh chiến, nhà vua Henry V chỉ còn có ít nhất là 3 nghìn binh sĩ[34]. Quân Pháp theo sát quân Anh trong lúc kêu gọi thêm nhiều quý tộc từ các vùng tới giúp sức. Ngày 24 tháng 10, hai đội quân đã giáp mặt nhưng quân Pháp không đánh vì muốn chờ thêm nhiều quân hơn. Hai đội quân nghỉ đêm trên đất trống và người Pháp đưa ra thêm nhiều lời thương lượng để trì hoãn, nhưng Henry quyết định tiến lên và bắt đầu một cuộc chiến mà ông có lẽ cũng không mong muốn hoặc muốn đánh theo kiểu phòng ngự (như kiểu trận Crécy). Lúc đó quân Anh có rất ít thực phẩm, vừa phải di chuyển 260 dặm trong 2 tuần rưỡi, đang bị nạn kiết lỵ, và phải đối mặt với nhiều quân Pháp được trang bị tốt hơn. Thế nhưng lúc này quân Pháp đã chặn đường về Calais để trú thân của quân Anh, và trì hoãn thêm trận chiến sẽ chỉ làm quân Anh suy yếu thêm và tạo điều kiện cho thêm nhiều toán quân Pháp tới tham chiến.[56]

Lực lượng hai bên[sửa | sửa mã nguồn]

Quân đội Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Để huy động lực lượng cho chiến dịch Agincourt, Henry V đã dựa vào hệ thống "khế ước", đây là một tài liệu liệt kê tên của các hiệp sĩ và binh sĩ. Khế ước đã thay thế phương pháp huy động quân đội qua nghĩa vụ phong kiến trước đó trong thời trị vì của Edward III. Nghĩa vụ Phong kiến chỉ giới hạn trong 40 ngày trong một năm, nó không tương xứng với một chiến dịch chiến đấu ở Pháp.[57] Vì vậy, để huy động quân đội một cách có hiệu quả, nhà vua thường phải làm việc với các nhà thầu của mình. Thường thì các chư hầu phong kiến​​của nhà vua là các lãnh chúa, hiệp sĩ và hộ sỹ, nhưng họ phục vụ để nhận được chi trả bằng tiền. Vì vậy, người anh em trai của nhà vua, Humphrey, Công tước xứ Gloucester, đã ký hợp đồng để huy động 200 tay thương (gồm các kị sỹ và các tùy tùng của họ) để tạo thành một đội quân của chính ông ta – đội quân này gồm sáu hiệp sĩ, 193 hộ sỹ và 600 cung thủ đi ngựa. Đến ngày giao tranh tại Agincourt, sự khắc nghiệt của chiến dịch đã họ xuy giảm xuống còn 162 tay thương, 406 cung thủ cưỡi ngựa. Một hộ sỹ ở cấp trung bình, chẳng hạn như Thomas Chaucer cung cấp 14 tay thương, 62 cung kị và 60 cung bộ. Ở cấp thấp nhất, Lewis Robbesard, một hộ sỹ, mang theo đoàn tùy tùng nhỏ của mình chỉ gồm ba cung thủ đi bộ.Đoàn tùy tùng, nghĩa là những người luôn đi theo chủ nhân của họ, đây là nền tảng cơ bản để xây dựng một đội quân theo tiếng Anh là "host".[58] Liên kết giữa các lãnh chúa có nghĩa là có ít người hơn được chỉ huy một cách hiệu quả từ vị chỉ huy phong kiến ​​cấp trên. Quân đội Anh được tổ chức thành đội hình 3 đạo rõ ràng trong cả hành quân và chiến đấu: đó là đạo tiên phong, trung tâm và hậu đội. Trong trận chiến, binh sỹ chiến đấu dưới ngọn cờ của chúa tể của họ, đến lượt những người này lại chiến đấu theo hiệu lệnh của vị chỉ huy của trận chiến. Trong kiểu tổ chức như thế này thì việc chỉ huy và kiểm soát là rất yếu kém. Không có hệ thống thống nhất để đưa ra các mệnh lệnh bằng miệng. Các mệnh lệnh để di chuyển được chuyển tới bởi những tiếng la hét của các sỹ quan và thúc đẩy các hàng quân tiến theo hướng mà họ mong muốn. Điều này có nghĩa rằng sự cơ động của quân bộ trên chiến trường rất chậm chạp và mang đầy tính thận trọng, trong trường hợp các hàng ngũ bộ binh bị trở nên nhầm lẫn thì Henry V đã làm một vài điều để chứng tỏ khả năng nhận thức tình hình nhạy bén của ông tại Agincourt.[59]

Quân đội Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù họ sử dụng một hệ thống tương tự như lettres de retenue để nâng cao và duy trì quân đội, chế độ quân chủ Pháp đã không tiến xa theo kiểu tổ chức bằng hợp đồng quân sự như người Anh.[60] Người Pháp có xu hướng chiến đấu trong lãnh thổ của mình, và thường thiên về phòng thủ, do đó, không phải là cần phải phát triển loại cơ chế này. Phục vụ phong kiến và arrière ban (nghĩa đen lệnh gọi quân dự bị),[61] một bổn phận chung đối với tất cả các thần dân. Vào đầu thế kỷ 15 nhìn chung thì việc làm nghĩa vụ thường được thay thế bằng một khoản thanh toán tiền mặt, hoặc bằng việc cung cấp cho các đội quân đồn trú tại các thị trấn. Rõ ràng là Paris đã đưa ra đề nghị cung cấp 6.000 lính bắn nỏ và lính mang khiên cho chiến dịch 1415, mặc dù nó đã bị từ chối bởi các chỉ huy người Pháp – những con số rất lớn những chủ đất phong kiến và chư hầu của họ vốn đã kéo đến Rouen được coi là quá đủ cho trận chiến. Trong thực tế, việc tập hợp một đội quân quá lớn là một vấn đề gây nhức đầu một cách đáng kể về hậu cần cho người Pháp. Những đại úy có kinh nghiệm như Thống chế Boucicault muốn có một đội quân nhỏ thôi nhưng được trang bị tốt và có kỷ luật tốt. Mặc dù vậy vẫn có nhiều nghìn lính bộ binh được tập hợp từ các địa phương đã kéo đến tập trung tại Ruisseauville – ngay phía bắc của Agincourt,[62] mặc dù họ đã không tham gia tí nào vào trận chiến.Cấu trúc chỉ huy quân đội của người Pháp được cho là tương tự như của người Anh. Trong thực tế, như chúng ta sẽ thấy nó bị phá vỡ hoàn toàn, mặc dù không phải là do thiếu các kế hoạch chiến đấu mà là do chọn những phương án cực kỳ bất hợp lý.

Bố trí đội hình[sửa | sửa mã nguồn]

Sơ đồ trận Agincourt

Trận chiến diễn ra trên một dải đất hẹp trống trải giữa rừng Tramecourt và Agincourt (gần làng Azincourt ngày nay). Quân Pháp đóng ở phía bắc để chặn đường tiến về Calais của quân Anh.

Bố trí của quân Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Rừng cây rậm rạp khiến cho vua nhà Henry V và đoàn quân của ông phải dừng bước, ngoài ra một số lính canh cũng báo cho vua biết về một "lũ giặc" đông đúc ở phía trước.[36][63] Quân Anh xưng tội trước khi tiến hành trận đánh, như phong tục lâu nay của họ.[64] Có một ít người lính thì nghỉ ngơi, trong khi đại đa số quân sĩ Anh khẩn cầu Thiên Chúa.[36] Bản thân nhà vua cũng rất mực mộ đạo, và ông để tóc ngắn. Ông bỏ ra hàng tiếng đồng hồ để cầu nguyện và coi Thánh George - một vị Thánh giỏi đánh trận, là tấm gương sáng cho mình noi theo. Các chiến sĩ Anh cũng đeo "Hồng Thập tự" của Thánh George, như một biểu hiện của tinh thần ái quốc Anh ít nhất là kể từ sau cuộc Thập tự chinh lần thứ nhất vào năm 1099.[14] Không một người lính Anh nào nghĩ chuyện đầu hàng với chả thoái binh.[23] Lo lắng việc quân địch có thể đột kích bất ngờ, và muốn quân lính thật tập trung, ông truyền lệnh cho họ phải hoàn toàn im lặng trong đêm trước trận chiến, ai bất tuân sẽ bị hình phạt là cắt một tai. Ông cũng bảo với binh sĩ rằng mình thà chết trên chiến trường còn hơn là bị bắt sống và đòi tiền chuộc, kích động lòng quả cảm của toàn quân.[36][65] Ông thân hành tới từng trại lính một, quân lính nồng nhiệt đáp lễ nhà vua. Đương khi ấy, ông nghe một số quý tộc than rằng giá như những người còn đang ở quê hương tới đây ở hỗ trợ họ, ông phán quyết:[36]

Không đâu, hỡi quan tướng, Trẫm không thể nào kiếm thêm người ở đây, và nếu như Chúa Trời bằng lòng ban lại thắng lợi cho chúng ta, quân số của chúng ta thì nhỏ bé hơn mà vinh quang của chúng ta thì to tát hơn.

—Henry V

Trước các dũng binh Anh Quốc, ông nói tiếp: "Và, nếu chúng ta thua trận, chúng ta sẽ khó mất nước hơn. Nhưng chúng ta quyết không thể nào thất bại; các Khanh hãy chiến đấu chừng nào có thể, và đến tối nay cái thanh danh của đám giặc hùng hổ kia sẽ hoàn toàn chết trụi".[23] Sớm ngày 25 tháng 10 năm 1415, theo như đại thi hào Shakespeare thì Quốc vương Henry V đọc bài diễn văn, qua đó nêu lên tình đoàn kết trong chiến đấu giữa các chiến sĩ, tuy nhiên điều này chắc hẳn là không có thật. Chỉ biết rằng, rạng sáng ngày hôm ấy, ông làm một chuyện hết sức là nổi bật. Ông khoác lên bộ chiến bào của ông một chiếc vương bào, trong đó có in hình ba con báo - vốn dĩ không chỉ là một biểu tượng của nước Anh mà còn là huy hiệu của các vị vua nước Pháp. Hành động này đã lôi cuốn mãnh liệt những người lính Anh đang sắp phải đương đầu với kẻ cường địch.[14] Ông cũng dàn quân (1.500 bộ binh và 7.000 cung thủ) trên 750 yard đất trong dải đất hẹp. Quân Anh được chia thành ba phân đội, quân tiên phong do Công tước xứ York (tức Edward) chỉ huy, lực lượng chính do Henry chỉ huy và hậu quân do tướng Camoys chỉ huy. Một hiệp sĩ thân tín và nhiều kinh nghiệm là Thomas Erpingham giữ nhiệm vụ sắp xếp cung thủ.[66] Quân Anh bố trí như thường lệ là cung thủ ở hai bên cánh, các hiệp sĩ và bộ binh ở giữa. Có thể cũng có thêm vài cung thủ được xếp vào giữa. Lực lượng Bộ binh Anh mặc giáp và được xếp đứng cạnh nhau theo bốn lớp. Cung thủ Anh ở hai cánh cắm thêm cọc gỗ để cản trở kỵ binh địch. Chiến thuật này có lẽ học từ quân Thổ Ottoman trong trận Nikopolis năm 1396.[Ghi chú 1] Ông cũng động viên toàn quân, nhấn mạnh vào sự đúng đắn trong mục tiêu của ông, và nhắc lại những thắng lợi ngày xưa mà các vua Anh đã giành được trước người Pháp. Các nguồn sử từ Burgundy cho rằng ông đã kết thúc bài hiệu triệu bằng việc bảo với binh lình của mình rằng quân Pháp đã khoe khoang là sẽ cắt hai ngón trong bàn tay phải của các xạ thủ Anh, để họ không bao giờ có thể bắn cung nữa (không rõ chuyện này có đúng không, vì rằng thời đó nếu binh sĩ bị bắt giữ mà không đáng giá tiền chuộc thì thường bị giết luôn).[67] Quân Anh vốn nắm giữa bãi chiến địa lấm bùn và hẹp hòi - một điều có lợi rất lớn cho Henry V: đương nhiên là ông bị áp đảo về mặt quân số, nhưng ông không thể nào bị đánh tạt sườn.[14]

Như một chiến binh thời Trung Cổ, ông tiến lên phía trước ba quân mà không hề thúc ngựa, để nêu cho sĩ tốt biết ý muốn của ông là đánh một trận ngay trên bộ.[14]

Bố trí của quân Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Trong lúc ấy, quân Pháp rất tự tin là mình sẽ đại thắng quân Anh, và rất háo hức xung trận. Quân Pháp cho rằng họ sẽ thắng, không chỉ là vì quân của họ mạnh hơn, sung sức hơn và trang bị tốt hơn, mà còn là vì rất nhiều kỵ sĩ quý tộc cho rằng mình có thể đánh bại dễ dàng các cung thủ Anh, những người mà họ xem như là không có ý nghĩa quan trọng trên chiến trường. Sử gia Edmond de Dyntner viết là "mười quý tộc Pháp chống lại một người Anh", tức bỏ qua hoàn toàn số lượng cung thủ.[68] Giới quý tộc Pháp mở tiệc linh đình, giở trò giễu cợt quân lực Anh và còn cá cược nhau xem ai sẽ là người bắt sống được vị Quốc vương nước Anh.[14]

Đoàn hùng binh Pháp tại Agincourt, chủ yếu là nhờ vào chi phí của các lãnh chúa phái Armagnac, là hậu quả của sự thất bại của các cải cách dưới triều vua Charles V, qua đó Quân đội Pháp ít ỏi nhưng tinh nhuệ hơn.[69] Quân Pháp xếp theo ba hàng (hiểu là cả một phân đội chứ không phải là một hàng ngang duy nhất). Hàng đầu do Nguyên soái D'Albret, Thống chế Boucicault, và các Công tước xứ Orléans và Bourbon chỉ huy, với một số kỵ binh bên cánh do Bá tước xứ Vendôme và Clignet de Brebant chỉ huy. Hàng thứ hai nằm dưới quyền Công tước xứ Bar và Alençon, cùng Bá tước xứ Nevers. Hàng thứ ba do các Bá tước xứ Dammartin và Fauconberg chỉ huy.[70] Sử gia Burgundy là Jehan de Waurin viết rằng quân Pháp có 8.000 binh sĩ, 4.000 lính bắn cung và 1.500 lính bắn nỏ ở tiền quân. Hàng thứ hai có số lượng tương tự, còn hàng cuối cùng gồm tất cả phần còn lại.[71] Nguồn khác nói có 4.800 quân ở hàng đầu, 3.000 quân ở hàng thứ hai, với thêm hai cánh khoảng 600 kỵ binh, nhưng không nói tới hàng thứ ba.[72]

Có khoảng 8.000 quân Thiết kỵ của Pháp xuống ngựa để chiến đấu, và cần phải tiếp cận quân Anh để đánh cận chiến. Nếu họ tiếp cận được thì sẽ áp đảo quân Bộ binh Anh với tỉ lệ có thể lên tới 5 trên 1, và cung thủ Anh cũng không thể bắn gần được vì sẽ dễ trúng phải chính quân mình. Nhiều người trong quân Pháp (cả quý tộc và binh sĩ) có cha ông từng bị sỉ nhục trong những trận đại bại ở CrécyPoitiers nên họ rất quyết tâm báo thù. Nhiều nguồn sử Pháp nhấn mạnh rằng các quý tộc Pháp quá hăng hái trong việc đánh bại người Anh (và đòi tiền chuộc từ tù binh) đến mức khăng khăng đòi lên hàng đầu, bất chấp ý kiến của các tướng lĩnh và các hiệp sĩ nhiều kinh nghiệm.[73]

Có vẻ như có nhiều ngàn quân Pháp ở hậu quân, bao gồm cả những người hầu và người bình dân mà phía Pháp không muốn, hoặc không thể bố trí vào hàng ngũ. De Waurin cho rằng tổng số quân Pháp là 50.000 người. Ông cũng nói rằng người Pháp có nhiều lính bắn nỏ và bắn cung nhưng lại không cho họ bắn vì không đủ chỗ đứng trên địa hình chật hẹp này (để dành chỗ cho các kỵ sĩ và bộ binh).[74] Lực lượng hậu quân này không tham gia gì nhiều vào trận đánh, các nguồn sử của Anh và Pháp đều đồng ý rằng họ đã tháo chạy hết sau khi thấy quá nhiều quý tộc Pháp bị giết và bắt sống.

Địa hình[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến trường của trận đánh này vẫn còn đang được tranh cãi rằng liệu nó có phải nhân tố quan trọng nhất quyết định đến kết quả trận đánh hay không. Địa hình vùng đất vừa mới bị cày xới và được viền bởi rừng là có lợi cho quân Anh vì nó hẹp và có lớp bùn dày mà các hiệp sĩ Pháp buộc phải đi bộ qua.[75]

Loạt chương trình Battlefield Detectives của kênh History Channel đã có một số ý kiến về sự nhỏ hẹp của địa hình. Bộ binh Anh đứng sát với nhau, trong khi quân Pháp chia thành ba lớp theo chiều dọc và không thể đưa tất cả binh lực vào tham chiến cùng một lúc, cũng như là không thể bọc sườn quân Anh.[76] Khi những đợt quân của hàng đầu gục ngã cũng làm đường tiến lên của người Pháp thậm chí còn tắc nghẽn hơn, có một số phải đi bộ để vượt qua những người đã ngã xuống. Các nguồn sử miêu tả cuộc chiến cũng nói là quân Pháp đã tràn lên quá đông tới nỗi tự làm vướng chân tay mình trong một địa hình nhỏ hẹp như vậy.[77]

Việc trận chiến diễn ra trên một địa hình bùn lầy đã khiến quân Pháp vô cùng mệt mỏi khi phải lội qua bùn trong khi vẫn mang giáp trụ nặng. Quân Pháp được miêu tả là bị ngập bùn tới đầu gối, còn sử gia Barker cho rằng một số thậm chí là bị ngập tới mũ.[78] Sự mệt mỏi và sự giới hạn vận động của họ đã khiến họ dễ dàng trở thành mục tiêu cho cung thủ Anh, hoặc thất bại trong những trận đánh cận chiến với bộ binh Anh.

Chiến trường Agincourt ngày nay, nay thuộc vùng Nord-Pas-de-Calais, tỉnh Pas-de-Calais, Cộng hòa Pháp
Ảnh:Troyeseffigy

Chiến đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Những chuyển động mở đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Buổi sáng trước trận Agincourt, tranh của John Gilbert

Vào sáng 25 tháng 10, quân Pháp vẫn đang chờ thêm nhiều binh sĩ tới. Công tước xứ Brabant (khoảng 2.000 quân),[79] Công tước xứ Anjou (khoảng 600 quân),[79] và Công tước xứ Brittany (khoảng 6.000 quân)[80] đều đang trên đường tới. Điều này làm quân Pháp không biết có nên tiến lên chưa. Trong vòng ba giờ đầu chưa có chiến đấu gì, cả hai đội quân chỉ dàn trận chờ đợi nhau.[81] Người Pháp đã chặn đường lui của Henry nên chẳng lấy gì làm vội. Họ còn cho rằng quân Anh sẽ tự bỏ chạy khi thấy phải chiến đấu với quá nhiều vương hầu Pháp.[82]

Quân của Henry V thì trái lại đang mệt, vì vậy mà ông quyết định phải chủ động hơn. Henry V đánh liều cho quân đội bỏ vị trí định trước và di chuyển tới phía trước.[83] Việc này đòi hỏi phải nhổ những cây cọc mà họ đã cắm sẵn để bảo vệ các cung thủ và đưa tới vị trí mới (cọc là một cải tiến của quân Anh, ta đều nhớ là trong trận Crécy thì cung thủ của họ chỉ được bảo vệ bởi các chướng ngại vật tự nhiên). Thực chất, sự bày binh bố trận của vị vua nước Anh cũng chính là dựa vào hai trận thắng lừng vang tại Crécy và Poitiers khi trước.[1] Nếu quân Pháp tấn công vào thời điểm đang di chuyển cọc thì rất có thể quân Anh sẽ bị đánh bại. Mặc dù vậy thì quân Pháp đã không đánh giá đúng tình hình này và bỏ qua cơ hội. Họ chỉ có "chết đứng như Từ Hải" chứ không hề gây phiền toái gì cho các chiến sĩ Anh đang tiến bước.[34] Như vậy là vua Henry V đã đạt được thắng lợi ban đầu cho cuộc vận động của quân đội ông.[1]

Quân Pháp lúc đầu định để cung thủ ở phía trước các binh sĩ, nhưng rồi cuối cùng họ lại xếp họ xuống phía sau. Lực lượng lính bắn cung và nỏ này hầu như không tham gia gì nhiều, cùng lắm chỉ là một đợt tên mở màn. Kỵ binh Pháp có thể hủy diệt hàng ngũ quân Anh nếu tấn công trong lúc họ đang di chuyển cọc, nhưng thực tế là họ chỉ xông lên sau loạt tên đầu tiên của quân Anh. Không rõ đó là vì người Pháp chờ đợi quân Anh sẽ lao lên tấn công (và bị bất ngờ khi quân Anh bắn tên từ vị trí phòng thủ mới, ở gần họ hơn)[Ghi chú 2] hay đơn giản là vì kỵ binh Pháp không phản ứng kịp với tình hình. Các sử gia Pháp cho rằng đợt tấn công đầu tiên của kỵ binh Pháp là không đủ quân số, một số người đang đi sưởi ấm và một số đang cho ngựa ăn.[84] Dù sao đi nữa thì cung thủ Anh cũng đã cắm xong cọc và là những người mở màn trận đánh. Thực chất, quân Pháp rất khiếp sợ binh chủng này của quân Anh. Thời bấy giờ, cung thủ Anh là lực lượng cung thủ nhà nghề và tinh nhuệ nhất trên toàn cõi châu Âu, được trả thù lao đúng đắn,[14] không rõ có phải do Thiên Chúa quan phòng cho Henry V hay không mà các cung thủ đã thể hiện sức mạnh khủng khiếp trong trận này.[35]

Kỵ binh Pháp tấn công[sửa | sửa mã nguồn]

Sau loạt tên mở màn của quân Anh, lực lượng Kỵ binh Pháp mặc dù chưa đủ lực lượng và sắp xếp còn lộn xộn nhưng vẫn xung phong tấn công các cung thủ. Và đó là một thảm cảnh cho họ khi các kỵ sĩ không thể bọc sườn các cung thủ Anh (do địa hình), và cũng không thể xông qua hàng rào cọc đang che chở các cung thủ. John Keegan nói là tác dụng chính của các cung thủ cung dài là ở chỗ họ bắn trúng lưng và bên sườn ngựa, làm chúng lồng lên.[85] Trong trường hợp, hai cuộc tấn công này không gây đủ sức ép mãnh liệt. Người ta nghi ngờ liệu Kỵ binh Pháp có thể tăng được tốc độ lên nhiều hơn qua những thửa ruộng mới được cày cấy gần đó với lượng nước mưa thấm xuống đất. St Remy đã thu thập được rằng mặt đất đã trơn trượt như thế nào-có thể ông đã thu thập được từ các ghi chép của cuộc tấn công của William Saseuse. Ông được mô tả như một hiệp sĩ dũng cảm, người khuyến khích người của mình phi ngựa lao thẳng về phía những cọc nhọn của các cung thủ. Mặt đất rất mềm làm cho những chiếc cọc ghỗ đổ xuống, cho phép lực lượng tấn công có thể rút lui với sự mất mát chỉ với ba kị sỹ. Nhưng rõ ràng không phải tất cả các cọc ghỗ đã đổ xuống hoặc người Pháp đã phá vỡ xuyên qua các cung thủ. Các cọc ghỗ được dựng làm hàng rào phòng thủ đã được mô tả là vô hiệu hóa sức tấn công của một cuộc tấn công cực kỳ nặng nhọc. Nguyên soái d'Albert làm thế nào đây nữa cũng không thể ngăn ngừa nổi các quý tộc phong kiến Pháp ào lên tiến công để mà chuốc lấy quả đắng.[1] Cung dài trở thành khẩu "súng máy" của lực lượng Quân đội Anh thời phong kiến, với tầm bắn hết sức là chính xác, trong khi lại không đắt đỏ gì mà khiến cho người chủ nhân của nó vượt xa các Hiệp sĩ địch trên tử địa.[31] Việc kỵ binh tiến lên và rồi thoái lui càng làm lớp bùn bị khuấy động lên.

Kỵ binh Pháp bị hoảng loạn và những con ngựa không thể kiểm soát nổi của họ lúc này đã chạy đi đâu? Trên một chiến trường mở họ có thể chạy xung quanh hai bên sườn của các lực lượng của chính họ. Một số trong thực tế đã có thể hướng vào các khu rừng ở hai bên của chiến trường. Phần còn lại tự xô đẩy họ một cách dữ dội vào đạo quân đầu tiên của người Pháp lúc này đang. Một sử gia khác, Richemont Herald, người phục vụ cho Công tước Richeont, một người có tham gia vào trận chiến, đã đổ lỗi cho sự thất bại của toàn bộ trận chiến là do lực lượng kỵ binh bị đánh bại này gây ra. Đó là bởi vì họ đã có một linh cảm về sự hèn nhát của những người ở xứ Lombard và Gascons, ông quả quyết rằng họ đã làm như vậy. Định kiến của sử gia này ​​là không chính đáng, nhưng phân tích của ông là chính xác và được chia sẻ bởi tất cả các nhà văn khác đã từng có mặt, hoặc chỉ nghe báo cáo về trận chiến. Khi bị đánh bại các kỵ binh lao trở lại, họ xông vào đội hình của quân Pháp và làm cho nó gần như hoàn toàn rơi vào tình trạng xáo trộn. Bức hình của John Keegan về một cuộc hoảng loạn của các chú ngựa của cảnh sát trong đám đông, đã tạo ra một loại hiệu lực gợn són, như những người này lại bị đánh ngã bởi một số người khác. Sự gián đoạn này bị lặp đi lặp lại hàng trăm lần và lại bị phóng đại bởi sự lặp lại của nó. Juliet Barker trích một tài liệu đương thời rằng khi thoái lui hỗn loạn, ngựa của các kỵ binh Pháp đã tự làm rồi bộ binh của mình đang trên đường xông lên, khiến họ bị phân tán và giẫm đạp.[86] Sau những ngày mưa, trận mưa tên của quân Anh ở Agincourt đã phủ đầy bãi chiến trường với những cái thây tử sĩ và chiến mã Pháp, trong khi cả họ chả thể làm nên nổi một tiến nào cả.[34]

Đợt tấn công chính của quân Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà vua Henry V trên chiến trường, tranh của John Gilbert

Nguyên soái Charles d'Albret thân chinh dẫn đầu đợt tấn công chính đầu tiên, bao gồm các kỵ binh đã xuống ngựa đánh bộ. Các tài liệu phía Pháp mô tả trong đợt này họ có 5.000 quân và hơn quân Bộ binh Anh với tỉ lệ 3 chọi 1, nhưng phải vượt qua đám bùn lầy dưới trận mưa tên. Áo giáp của quân Pháp giúp họ có thể vượt qua 300 yard để tiến tới chỗ quân Anh, nhưng họ phải hạ thấp miếng che và nghiêng đầu để tránh bị bắn vào mặt (chỗ mắt và lỗ thông khí là yếu điểm của áo giáp), qua đó gặp vấn đề về hơi thở và tầm nhìn. Và họ phải lội qua vài trăm yard bùn lầy với chiếc áo giáp nặng 50-60 pao.[87] Trận địa thì chật hẹp, thế mà tử thi quân Pháp đã chất đầy lại càng thêm chất đống trong cơn mưa tên của cung thủ Anh.[34]

Các cung thủ Anh vẫn cứ hủy diệt quân Pháp thật mạnh mẽ như nhiều lần trước. Họ không hề có chút ơn huệ gì với quân thù, do trước đây, khi một lần quân Pháp đánh bại quân Anh, 300 cung thủ Anh đã bị địch treo cổ[14]. Một lần nữa, sau hai trận đại thắng tại Crécy và Poitiers, cung dài đóng vai trò quyết định cho niềm vinh hiển của nền quân sự nước Anh.[1] Bộ binh Pháp cuối cùng cũng đã vượt qua trận mưa tên dữ dội mà Mortimer cho là lên tới 1.000 mũi tên mỗi giây,[88][89] tiếp cận với quân Anh và đã đẩy lui được họ, trong khi cung thủ Anh vẫn tiếp tục bắn cho tới khi hết tên và bỏ cung lao vào cận chiến. Mặc dù vậy thì trên đường đi quân Pháp đã bị va đập với quá nhiều tên, lội bùn với giáp quá nặng, phải hứng chịu cái nóng và sự thiếu ôxy trong bộ giáp, và có số lượng quá đông nên tự làm vướng nhau. Chính vì vậy mà họ khổ sở đến mức "hầu như không nhấc nổi vũ khí" khi bắt đầu giao chiến với quân Anh.[38][90] Quân sĩ hai bên phải bò lên xác tử sĩ của đợt giao chiến trước mà giáp chiến với nhau.[91]

Khi cung thủ Anh chuyển sang dùng rìu, kiếm và các loại vũ khí khác để tấn công quân Pháp đã mệt mỏi và lộn xộn, người Pháp đã không chống trả được những chiến binh Anh không mặc giáp (nhờ vậy ít bị bùn gây trở ngại hơn) mà vẫn tấn công mãnh liệt. Binh lính Pháp ngã gục và không đứng dậy nổi. Hàng ngũ thứ nhất của quân Pháp nhanh chóng vỡ tan[1]. Khi trận cận chiến đang diễn ra thì đợt tấn công thứ hai của quân Pháp cũng tới, nhưng vì địa hình quá chật hẹp nên có đông người hơn cũng không tràn lên được cùng một lúc. Nhiều ngàn quân Pháp bị bắt giữ và giết. Cuộc chiến kéo dài khoảng ba giờ, cuối cùng các chỉ huy của Pháp ở cả hai đợt tấn công đều bị bắt giết. Gesta Henrici mô tả về ba đống xác chết lớn xếp xung quanh ba cờ hiệu của Anh.[92] Theo các nguồn sử đương thời, vua Henry V có trực tiếp tham gia trận cận chiến. Trong lúc này, ông đã thể hiện đúng như trong vở kịch của Shakespeare, là một vị vua giỏi đánh trận và dũng cảm. Trong phần lớn trận kịch chiến, theo sau ông có một đội Cận Vệ, nhưng họ cũng chẳng ngăn ngừa được ông xông pha vào giữa trận. Ông tiên phong trước mắt ba quân, phi ngựa thẳng vào nơi chiến sự đang diễn ra nóng bỏng nhất, đánh bại Bá tước d'Alencon của Pháp và tiêu diệt 18 Hiệp sĩ Pháp.[14][36] Khi hay tin em trai nhỏ nhất của mình là Humphrey, Công tước Gloucester, đã bị thương, Henry V đã chiến đấu ngay trên hàng đầu để bảo vệ em mình cho đến khi Humphrey được đưa đi an toàn. Ông bị trúng một búa vào đầu làm văng mất một mảnh nón giáp trụ.[93] Thế nhưng, ông và các binh sĩ Anh vẫn vững chãi.[14] Các cung thủ Anh xung phong về phía trước, mặc sức mà giết địch. Có những người lính đâm xuyên qua những chỗ hổng của binh giáp của quân Pháp trong trận chiến.[1] Trong trận giáp binh, không những mặc sức chém giết quân Pháp mà các chiến binh Anh còn bắt sống được vô số tù binh.[35] Sau khi bị thảm sát dữ dội,[16] đại quân Pháp đã tan vỡ khi màn đêm buông xuống, đúng như lời phán của Henry V.[23] Đó là thắng lợi bước đầu,[33] đã ghi dấu thế thượng phong nghiêng hẳn về nhà Plantagenet trong cuộc chiến.[24]

Trong suốt trận kịch chiến, binh sĩ cả hai phe đều chiến đấu dũng mãnh.[34] Một nhà bình luận miêu tả thảm cảnh nơi chiến địa như "một đống, một gò, một chồng xác bại binh". Nhiều thương binh kêu khóc như điên trên trận tiền đẫm máu. Mà những cái xác ấy đều chủ yếu là tử thi quân Pháp. Một điều đáng bất ngờ, "hầu như toàn thể quý tộc đều là binh sĩ Pháp", và đều bị hạ sát.[14][19] Có người bảo rằng, đống xác lính Pháp trong trận thua to tại Agincourt còn cao hơn cả một cái đầu người.[34]

Quân Pháp tấn công xe chở hàng của Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Thắng lợi duy nhất của người Pháp là một cuộc tấn công vào các xe chở hàng của Anh - vốn không được phòng vệ[14]. Một hiệp sĩ địa phương của Pháp tên Ysembart d'Azincourt đã chỉ huy một nhóm nhỏ tới đột kích, và họ đã cướp được một số báu vật cá nhân của Henry, bao gồm cả một vương miện.[94] Các nguồn sử không thống nhất về việc đây là cuộc tấn công có chủ định của quân Pháp hay chỉ là cướp bóc đơn thuần. Một vài tài liệu cho rằng cuộc đột kích này diễn ra lúc gần cuối trận chiến và làm quân Anh tưởng là họ bị bọc hậu. Barker thì nghiêng về giả thuyết rằng nó diễn ra vào đầu trận chiến.[95]

Henry V ra lệnh giết các tù binh[sửa | sửa mã nguồn]

Cho dù vụ cướp xe diễn ra vào lúc nào đi nữa, có một thời điểm sau thắng lợi của quân Anh mà Henry nhận được cảnh báo rằng quân Pháp đang tập hợp lại để tấn công tiếp. Gesta Henrici mô tả nó diễn ra sau cuộc tàn sát các binh sĩ Pháp trên chiến trường, và khi quân Anh đang mệt mỏi thì quan sát thấy hậu quân của Pháp (với số lượng lớn và sung sức).[92] Cuộc tàn sát này là do 200 cung thủ Anh thực hiện.[35] Tương tự, Le Fevre and Waurin cho rằng đã có các dấu hiệu của hậu quân Pháp tập hợp lại và tràn lên có hàng ngũ, điều này làm quân Anh lo rằng họ vẫn bị nguy hiểm.[96] Thực ra, theo một cuốn sách, tuy người Anh cho rằng đây là mối đe dọa tiềm ẩn nhưng đoàn quân Pháp này vẫn chẳng dám làm gì các dũng sĩ Anh kia, mà cũng đang dần dần triệt binh qua đống gỗ Tramecourt.[31] Một cuốn sách khác của tác giả Spencer Tucker thì cho biết cuộc tiến công của hậu binh Pháp chỉ là một đợt tập kích nhỏ nhoi từ lâu đài Agincourt, do vài binh sĩ Pháp và có nhẽ là 600 tá điền Pháp tiến hành. Các chiến binh Anh nhanh chóng đập tan nát cuộc tiến công yếu ớt này.[1]

Dù cho giả thuyết lý giải nào thực sự đúng đi nữa thì Henry cũng đã ra lệnh giết khoảng vài ngàn tù binh Pháp và chỉ tha cho những người có đẳng cấp cao nhất. Ông sợ rằng họ sẽ lấy được vũ khí để quay lại chiến trường, và đánh bại quân Anh đã kiệt sức. Mặc dù tàn nhẫn, đây có thể xem là một hành động hợp lý[34], với lý lẽ chính đáng nếu xét tới tình hình trận chiến lúc đó. Có lẽ đáng ngạc nhiên là các sử gia Pháp cũng không chỉ trích Henry vì điều này.[97] Trong cơn tàn sát kinh hoàng này, một số Hiệp sĩ Anh không giết mà cứu thoát các tù binh của mình.[31] Họ cho rằng việc giết hại tù binh là trái ngược với tinh thần quân tử của người Hiệp sĩ Tây Âu thời phong kiến, nhất là khi quân Pháp thực sự không dám ồ ạt tấn công thêm một lần nữa.[14][63] Qủa thật, với vụ tàn sát sau đại thắng tại trận Agincourt ấy, vua Henry V đã phá bỏ cái "võ sĩ đạo" của con người dưới chế độ phong kiến.[39] Hành động của ông đã đánh dấu sự kết thúc của trận chiến, với việc hậu quân Pháp nản chí và rút lui[63] khi thấy có quá nhiều quý tộc bị bắt giữ và giết chết.

Người ta nói rằng số binh lính Pháp chết trong vụ thảm sát này còn nhiều hơn cả số lượng quân Pháp bị tiêu diệt trong trận chiến.[31] Henry V trong niềm vui thắng lợi cũng triệu quân hầu của nhà vua Pháp là Mountjoy, và phải Mountjoy rằng chiến thắng trong trận qua thuộc về ai ? "Thuộc về Người, kính bẩm Chúa thượng" - Mountjoy đáp trả. Ông liền hỏi tiếp: "Thế lâu đài mà Ta thấy ở đằng kia có tên là gì nhỉ" Mountjoy lại nói: "Đó chính là lâu đài Agincourt". Vua phán: "Vậy thì, hãy để cho trận chiến này được biết đến như là trận Agincourt."[36] Tin đại thắng được lan truyền đến đô thành Luân Đôn vào ngày 29 tháng 10 năm 1415.[29] Sau chiến thắng rực chói, với lợi thế rõ rệt, vua Henry V tiếp tục cất quân đi đánh vùng Calais, và tóm gọn được nhiều tù binh Pháp, trước khi ông ca khúc khải hoàn kéo đại binh về nước Anh.[1][29] Bên cạnh các chiến binh Anh là hàng đống chiến lợi phẩm.[23]

Kết cục của trận chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Trên trận địa lấm bùn ở Agincourt vào ngày 25 tháng 10 năm 1415,...., Henry V tỏ ra rất quả cảm và may mắn - đó không phải là một sự kết hợp tệ hại.

—Tác giả Joseph Cummins, trong cuốn History's Greatest Hits [14]

Đại thắng tại trận Agincourt - là một biểu hiện của binh thế nước Anh và cũng nằm trong số những trận đánh vinh quang nhất của cung thủ thời Trung Cổ[14][22] - cho thấy cung dài đóng vai trò hệ trọng cho các cuộc chinh chiến của Nhà nước phong kiến Anh từ thế kỷ thứ XIII cho tới thế kỷ thứ XVI. Không những đóng góp lớn cho trận thắng ở Agincourt nói riêng và các chiến thắng khác của quân lực Anh trong cuộc Chiến tranh Trăm Năm nói chung, cung dài khiến nước Anh vươn lên thành liệt cường quân sự hùng hậu nhất của châu Âu trong đêm trường Trung Cổ, vượt hẳn nước Pháp, và qua đó chiến công ở Agincourt trở thành đại thắng cuối cùng của quân Anh dùng cung dài trên đất Pháp.[17][31] Thực chất, nhiều người cho rằng sau năm 1415, cái ngày vĩ đại nhất của cung dài đã mãi mãi đi vào quá khứ.[22] Bản thân nhà vua Henry V cũng phải rất ấn tượng với chiến tích của các cung thủ Anh ở trận này - là minh chứng cho sự chuẩn mực của các chiến thuật của Anh thưở ấy, và cũng là dấu ấn cho sự bất khả chiến bại của các cung thủ Anh thời phong kiến.[4][37][38] Ngoài cung thủ, thắng lợi vang dội này cũng được xem là nhờ có quân Bộ binh Anh.[43] Do không có nguồn sử đáng tin cậy nên không biết chính xác số thương vong của hai bên là bao nhiêu. Tuy nhiên chắc chắn là dù quân Anh bị áp đảo về số lương nhưng thương vong của họ ít hơn hẳn quân Pháp, sau cuộc chiến đấu cam go mà thắng lợi oanh liệt của các dũng binh Anh[36]. Nguồn từ Pháp cho rằng có 4.000 đến 10.000 quân Pháp tử trận, cùng 1.600 quân Anh. Tỉ lệ thấp nhất mà họ đưa ra là quân Pháp tử trận nhiều hơn quân Anh sáu lần. Nguồn từ Anh nói có khoảng từ 1.500 đến 11.000 quân Pháp tử trận, còn số chết của quân Anh không quá 100 chiến sĩ.[98] Theo sách Western Civilization: Alternate Volume: Since 1300 của tác giả Jackson J. Spielvogel, 6 nghìn quân Pháp trận vong trong thảm họa này, trong đó có cả 1.500 quý tộc tử trận trong đợt giáp chiến lấm bùn.[10] Theo cuốn World Military Leaders của Mark Grossman, số tử trận chiếm nhiều nhất trong tổn thất của quân Pháp.[4]

Barker cho rằng có ít nhất 112 quân Anh đã tử trận, nhưng không tính tới số bị thương.[99] Một ước tính được dùng rộng rãi đã tính rằng tổn thất của quân Anh là 450, ít hơn nhiều so với vài ngàn của Pháp. Sử dụng các con số ước tính thấp nhất của Pháp thì tỉ lệ tổn thất của Pháp so với Anh có thể lên tới 9 trên 1, hoặc 10 trên 1 nếu xét cả những tù nhân. Trong số những người Pháp bị giết có ba công tước, ít nhất tám bá tước, một tử tước và một tổng Giám mục, cùng nhiều nhà quý tộc và cả Nguyên soái.[100] Juliet Barker nói rằng những mất mát này đã làm tầng lớp lãnh đạo của Pháp ở Artois, Ponthieu, Normandy, và Picardy thiệt hại đáng kể.[101] Một cuốn sách kể rằng có bảy vương hầu Pháp bị tiêu diệt trong đại thảm họa này.[17][23] Số lượng tù binh người Pháp bị bắt giữ khoảng từ 700 đến 2.200 và đều là các quý tộc, trong số đó có cả Thống chế Boucicault nổi tiếng là một anh hùng hào hiệp của nước Pháp.[19][102] Sau khi bị giải về Anh Quốc, Boucicault qua đời vào năm 1421.[4] Điều này thể hiện sự vỡ mộng hoàn toàn của tinh thần Hiệp sĩ hào hoa ở nước Pháp thưở ấy.[34] Theo tác giả Henry White trong một cuốn sử nước Anh, quân Anh quá lắm là thiệt hại 1.600 binh sĩ.[23] Trong mất mát của Quân đội Anh chỉ có hai nhà quý tộc là Edward, Quận công xứ York và Michael, Bá tước xứ Suffolk.[19] Thực chất, York không bị địch giết mà ông chết do ngã ngựa trong trận giáp binh[35]. Một số lượng chiến sĩ đánh bộ cùng khoảng vài trăm cung thủ Anh đã hy sinh trong trận đánh vang danh này.[19] Tổn thất của họ thì nhỏ tẹo, mà chiến thắng của họ thì lại to tát.[30] Nếu như trận thắng lớn của quân Anh ở Crécy (1346) đã đánh mốc suy yếu của tầng lớp Hiệp sĩ thời phong kiến, thì đại thắng ở trận Agincourt đã đặt tầng lớp này đến bước đường cùng.[34] Trận Agincourt cũng được xem là một trong những cuộc giáp chiến "một chiều" nhất trong lịch sử nhân loại, với mấy lần tấn công của quân Pháp liên tiếp bị đập tan mà quân Anh chỉ chịu tổn hại nhẹ nhàng.[15]

Và, kể từ sau chiến bại thảm hại của quân Pháp - được coi là một thắng lợi của tinh thần kỷ cương và tài năng của người Anh trước lòng dũng cảm mà vô phép của người Pháp,[15] các Hiệp sĩ sẽ không bao giờ đóng vai trò chủ đạo trong quân đội các quốc gia Tây Âu nữa.[34] Địa hình được xem là nhân tố quyết định dẫn đến chiến thắng to tát của lực lượng Quân đội Anh trong trận chiến này. Bãi chiến địa của trận này rất hẹp hòi, toàn là đất mới cày, lại bị bao phủ bởi rừng rú rậm rạp, do đó thuận lợi cho các chiến binh Anh.[31] Ngoài ra, yếu tố quan trọng đối với cho chiến thắng chính là nỗ lực chuẩn bị chu đáo và rất đáng nể của Quốc vương Henry V trước khi ông mang quân đi đánh nước Pháp.[19] Dẫu cho trước đó cung thủ Anh đã hủy diệt tầng lớp quý tộc Pháp trong trận Crécy, quân Pháp vẫn không biết rút ra bài học nào mà vẫn cố tình tung Hiệp sĩ vào trận này - mang lại chiến thắng trứ danh cho đoàn quân của Henry V hạ nốc ao quân Kỵ binh Pháp.[28][34] Bản thân Hiệp sĩ Pháp tỏ ra rất kém kỷ cương, tạo điều kiện cho quân Anh thắng lớn.[38] Nguyên soái D'Albret và Thống chế Boucicaut tuy không muốn giáp mặt với đại quân Anh, nhưng những người lính Pháp háo thắng đã không them nghe theo họ và chuốc lấy đại thảm bại.[29] Và, việc ông ban lệnh cho các cung thủ Anh cắm cọc cũng cho thấy đầu óc sáng tạo của ông trong trận này, đem lại cho ông niềm vinh quang chiến thắng.[14] Và, cho dầu vở kịch Henry V của Shakespeare có nhiều tình tiết hư cấu, nó đã nêu lên được một nhân tố quan trọng cho đại thắng: đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà vua và toàn quân, đó là tài nghệ của ông trong việc khơi dậy chí khí quyết đấu của các binh sĩ.[14] Có người cho rằng vua Henry V thực sự giống với danh tướng Oliver Cromwell hơn là vị vua-anh hùng trong vở Henry V của Shakespeare, do ông đã coi quân tướng của ông là "những chiến binh của Thiên Chúa".[16] Đối với người Anh, một "Phép lạ" mà Thiên Chúa ban cho họ trong trận đánh cũng chính là tổn thất vô cùng ít ỏi của họ.[35]

Độc giả của Henry V (vở kịch của Shakespeare) không thể bị đổ lỗi vì đã nhìn nhận rằng chiến thắng tại Agincourt đã khiến cho Henry thâu tóm được cả Vương quốc Pháp. Trên thực tế, trận Agincourt không hề là một kiểu chinh phạt gì cả. Tuy nhiên, nó khiến cho các cuộc chinh phạt về sau được thuận lợi hơn.

—Peter Saccio[35]

Nhưng mà, do ông có ít quân hơn nhiều mà lại đại phá được quân thù, trận thắng to tại Agincourt đã khiến cho người đương thời rất bất ngờ. Họ nghĩ rằng ông đã thuận theo ý Đức Thiên Chúa, do đó Người đã ban cho ông thắng lợi vang dội này (Giám mục Beaufort ở Anh Quốc coi đại thắng này là "ân điển" kế tiếp của Chúa Trời cho người Anh sau các trận Sluys, Crécy và Poitiers[29]).[19] Mặc dù trận Agincourt là một chiến thắng quân sự lớn, có ý nghĩa quyết định và hoàn mỹ đối với quân Anh, những ảnh hưởng của nó khá phức tạp. Nó không dẫn tới những cuộc chinh phạt ngay lập tức sau đó của người Anh. Henry V trở về nước Anh vào ngày 16 tháng 11 với vinh quang,[12][103] và trong mắt các thần dân và các nước châu Âu ngoại trừ Pháp, ông được xem là một anh hùng được Chúa ban ơn. Thần dân chốn kinh kỳ Luân Đôn đã tổ chức lễ ăn mừng chiến thắng của Quốc vương, trong đó họ ví von ông như những vị anh hùng trong Kinh Thánh.[2] Chiến thắng - là tuyệt đỉnh của cuộc chinh chiến trên đất Pháp của ông[19] - cũng giúp ông nhận được sự ủng hộ của triều đình để tiếp tục chiến tranh với Pháp.[104] Triều đình cũng trợ cấp lông cừu dùng cả đời cho vua - lần duy nhất trong lịch sử kể từ sau đời vua Richard II hồi năm 1398 và chứng tỏ niềm tin tuyệt đối của đình thần vào thành công của vua.[29] Chiến thắng vĩ đại này, cùng với các trận thắng to tại CrécyPoitiers hồi thế kỷ trước, đã gia tăng uy thế của các vị vua nước Anh trong cuộc Chiến tranh Trăm Năm, và được coi là thắng lợi lớn nhất của dân tộc Anh trước ngoại bang cho đến trận phá hạm đội Tây Ban Nha.[25][40] Thậm chí, không những gắn liền với đội cung thủ hơn cả mà trận Agincourt cũng nổi tiếng hơn hai thắng lợi kia trong nền quân sử nước Anh.[22] Nhà nước phong kiến Anh với chiến thắng này đã đóng góp thêm một trang sử vàng son cho nền lịch sử quân sự thế giới như một trong những chiến thắng uy chấn nhất mà sử sách đã ghi lại từ cổ chí kim.[31][35] Henry V với đại thắng ở trận Agincourt đã đi vào lịch sử nước Anh như một trong những vị vua - chiến binh vĩ đại nhất thời kỳ Trung Cổ, đã hoàn toàn "giết tươi cái vinh hiển của Hiệp sĩ Pháp".[3][31] Sau chiến thắng vĩ đại ấy, có vẻ như ông đã trở thành một vị vua bất khả chiến bại.[28] Thực ra, toàn thắng này chính là chiến công đầu tiên của ông vua cầm binh ấy[18]. Một thị dân Paris nặc danh phải ghi nhận: "Từ khi Thiên Chúa sinh ra đến nay, chưa từng một người nào, dù có là người Saracen hay bất kỳ ai khác, đã tàn phá nước Pháp đến mức độ này".[42] Trong khi người Pháp thì đau khổ, người Anh hân hoan với chiến thắng, và Triều đình Anh đã khích lệ nhà vua Henry V tiếp tục tiến công nước Pháp.[35] Với một nước Anh đang sẵn sàng tiếp tục đánh Pháp để mà phát huy thắng lợi, ông trở thành một vị anh hùng dân tộc.[63] Không những được nhân dân Anh kính yếu, ông trở thành một Bá vương của châu Âu[30] và liền ký kết ngay một Liên minh với Hoàng đế La Mã Thần thánhSigismund.[4] Trên đà thắng lợi, thế lực của ông tại Pháp không hề thua kém tại Anh.[32] Sau trận chiến, hòa ước giữa hai phái Armagnac và Burgundy trong triều đình Pháp đã bị phá vỡ. Phái Armagnac chính là những người chủ đạo bên phía Pháp trong trận Agincourt, qua đó họ phải gánh chịu nhiều tổn thất về nhân lực và uy tín sau thất bại này, thậm chí được coi là kẻ thất bại nặng nhất trong thảm hoạ ấy. Vị Quận công xứ Burgundy nhờ đó gia tăng uy thế đáng kể, và phái Burgundy nhân cơ hội đánh chiếm kinh đô Paris.[1][37][105] Triều đình Pháp sau thảm hoạ Agincourt chỉ còn có thể trông chờ vào một "Phép lạ" để mà khôi phục giang sơn.[15] Sự bất hòa ở Pháp giúp Henry V có 18 tháng chuẩn bị cho các chiến dịch tiếp theo. Sau đại thắng ở Agincourt,[16] mất thêm vài năm nữa nhưng rồi ông đã đạt được những gì mình đề ra. Trong thời gian đó, ông đã chinh phạt được vùng Normandie, mà thực chất chính chiến thắng trong trận Agincourt đã tạo tiền đề về tài chính và lòng yêu nước cho thắng lợi này[31][35]. Qua đó, đại thắng tại Agincourt được xem là khởi điểm cho sự thống trị của Quân đội Anh trên đất Pháp trong vòng 30 năm tới[4]. Ngoài ra, chiến công lớn của Henry V phá Pháp ở đây, với giá trị to lớn về tinh thần và chiến lược, đã tạo điều kiện cho quyền uy của nhà Lancaster được củng cố.[45][46] Những chiến thắng khi ấy của ông - kế tiếp đại thắng Agincourt[32] - đã đưa tới Hiệp ước Troyes. Theo hiệp ước này, Henry V sẽ cưới con gái của vua Charles VI của Pháp là Catherine, và rồi đứa con sinh ra từ cuộc hôn nhân này sẽ cai trị cả nước Anh và Pháp. Sau đó, Henry chính thức tiến vào Paris và Hiệp ước này được phê chuẩn bởi Hội nghị ba đẳng cấp của Pháp. Đó là đỉnh cao của người Anh trong Chiến tranh Trăm Năm. Chỉ sau một chiến dịch nhanh gọn, Henry V đã đạt được mục tiêu của ông.[2] Không may, đúng lúc ấy ông bệnh mất vào năm 1422 - bảy tuần trước khi Charles VI qua đời.[14] Có một sự thật là, ông không hoàn toàn tham mê cái ngôi vua nước Pháp. Vào năm 1418, ông đã có ý định chấm dứt kế hoạch này.[22]

Và, nếu như đương thời thắng lợi vẻ vang của ông trong trận Agincourt cho người Anh thấy tầm quan trọng cao của chiến dịch phạt Pháp,[27] thì trong suốt chiều dài lịch sử nước Anh, chiến thắng rực rỡ này của ông luôn là biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng,[22] đề tài để chính quyền Anh thôi thúc các chiến sĩ chiến đấu chống kẻ thù xâm lược, như trong trận thủy chiến đập tan nát cuộc xâm phạm của hạm đội Tây Ban Nha vào năm 1588 và trận không chiến đánh bại Không quân Đức trên bầu trời nước Anh vào năm 1940[14]. Cũng như chiến thắng tại Crécy và trận diệt thủy quân Tây Ban Nha nêu trên, trận thắng ở Agincourt góp phần không nhỏ cho niềm tự hào dân tộc Anh.[21] Đó được coi là một chiến thắng mỹ mãn đặc trưng theo kiểu Anh, qua việc nhà vua "lấy ít thắng nhiều".[41] Thậm chí, chiến công này còn được xem là một trận "lấy ít thắng nhiều" hiển hách nhất trong lịch sử Anh, trong khi là một trong những đại thảm họa của Pháp trong mối thù truyền kiếp với Anh.[42][44] Trong tập 2 của bộ England: A Historical Poem (1834 - 1835), nhà thơ Anh là John Walker Ord đã ca ngợi Arthur Wellesley, Công tước thứ nhất của Wellington - người hùng nước Anh khi đó - vì đã củng cố vinh quang quân sự của người Anh vốn mở đầu với các trận Crécy và Agincourt trên đất Pháp.[106] Và, các nhà sử học vẫn không ngừng khảo cứu về trận thắng quan trọng trong lịch sử nước Anh nói riêng và trong lịch sử châu Âu nói chung này.[4]

Trận chiến trong văn hóa đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Đại thắng huy hoàng của vua Henry V - "nhà chinh phạt tại Agincourt" nổi danh[26][27] - trong trận Agincourt đã trở nên bất hủ trong văn học - lịch sử nước Anh.[20] Ông đã đi vào lịch sử ngay từ sau chiến thắng, với rất nhiều cuốn biên niên sử thời Trung Cổ phải ghi lại thắng lợi này.[14] Ngay sau chiến thắng của người Anh, đã có nhiều bài ca dân gian ra đời dựa trên trận chiến, nổi tiếng nhất là "Khúc ca khải hoàn Agincourt" vào đầu thế kỷ 15.[107] Ngoài ra cũng có nhiều ballad về trận chiến, ví dụ như bài King Henry Fifth's Conquest of France.[108]

Sự miêu tả trận chiến trong văn hóa đại chúng mà được biết đến nhiều nhất là vở kịch Henry V của Shakespeare vào năm 1599, trong đó tập trung vào những áp lực của một vị vua trên ngôi báu.[109] Đối với đại thi hào Shakespeare, quân Anh giành chiến thắng lẫy lừng ở trận Agincourt là nhờ Thiên Chúa quan phòng cho cuộc chiến đấu vì đại nghĩa của nhà vua Henry V, và ông đã coi nhà vua và đoàn binh thắng trận ở Agincourt là biểu hiện của tinh thần chiến đấu của người Anh.[14][31] Qua tác phẩm này, Shakespeare bằng ngòi bút xuất sắc của ông đã khắc họa hình ảnh một Đức Vua Henry V anh hùng, mẫu mực, đức độ, mang lại đại thắng cho toàn quân, và những tình tiết nhưng lời diễn văn hùng hồn của nhà vua trước ba quân khi chuẩn bị đánh trận Agincourt - do Shakespeare hư cấu nên - đã khiến Henry V trở thành một nhân vật huyền thoại trong những trang sử nước Anh.[14][47] Bài hiệu triệu của Henry V trước trận đánh trong vở kịch ấy được xem là một trong những bài diễn văn hào hùng nhất trong các tác phẩm của Shakespeare, và nhà phê bình David Margolies miêu tả rằng nó đã "nêu cao danh dự, niềm huy hoàng quân sự, lòng ái quốc và tinh thần hy sinh", và trở thành một trong những mô tả đầu tiên của nền văn học Anh về vai trò của tình đồng đội chặt chẽ trong chiến thắng.[110] Shakespeare cũng tôn vinh lòng trung dũng của hai nhà quý tộc phong kiến Anh đã hy sinh trong trận chiến.[35] Vở kịch được ba lần chuyển thể thành phim, bởi Ngài Laurence Olivier vào năm 1944, bởi Kenneth Branagh vào năm 1989, và bởi Peter Babakitis vào năm 2004. Henry V trở thành một vị anh hùng trong mắt các độc giả của vở kịch này,[14] trong khi tài năng của Olivier đã lôi cuốn biết bao nhiêu là khán giả cho nền điện ảnh nước Anh.[22] Nhưng phiên bản của Branagh khắc họa trận đánh hiện thực và lâu dài hơn Kenneth, dựa theo sử liệu và hình ảnh từ cuộc Chiến tranh Việt NamChiến tranh Falkland.[111]

Sau khi cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ, tương truyền rằng trong trận Mons vào năm 1914, một đội thần binh bao gồm các cung thủ Anh trong trận Agincourt năm xưa đã hỗ trợ và tăng cường nhuệ khí của các chiến sĩ Anh.[112] Sau khi kháng trả mãnh liệt những đợt công kích đoàn quân Đức hùng mạnh, những người lính Anh đã triệt thoái ra khỏi chiến địa, và Thánh George dường như đã ra lệnh cho đội thần binh này yểm trợ đường rút của quân Anh, hoặc là tạo nên một đám mây bí ẩn che mắt quân Đức, khiến cho quân Anh triệt binh an toàn.[113] Từ đó sinh ra câu chuyện về "Đội thiên binh ở Mons", về "chiến tích" của những cung thủ Anh 499 năm sau khi họ đập tan nát đoàn hùng binh Pháp ở trận Agincourt. Cũng theo truyền miệng, nhiều tử thi quân Đức ở trận Mons - vốn cách không xa Agincourt - bị phát hiện là đã trúng tên. Tuy nhiên, những truyền tụng như vậy không hề có tính xác thực cao.[13] Thực chất, có nhẽ một phần do sức hút của Shakespeare mà người Anh thường hay nhắc đến trận Agincourt này và liên tưởng thắng lợi này tới các cuộc chiến đấu của Lực lượng Viễn chinh Anh trước những đợt càn của quân Đức.[114]

Dấu hiệu giơ hai ngón tay thành hình chữ V cũng được một số người cho rằng bắt nguồn từ trận Agincourt.[115] Tục truyền rằng, quân Pháp hăm dọa sẽ cắt ngón tay bất kỳ một cung thủ Anh nào mà họ bắt được để cho họ không thể nào mà bắn cúng được nữa, và thế là các cung thủ Anh dơ hai ngón tay ra nhằm kích động quân thù, thể hiện sức chiến đấu của họ không thể bị mờ phai. Không rõ chuyện ấy có thực không, nhưng về sau Thủ tướng AnhWinston Churchill rất nổi tiếng với dấu hiệu này trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai.[14]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Sách[sửa | sửa mã nguồn]

Bài báo[sửa | sửa mã nguồn]

Khác[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bennett, Matthew (1994). "The Development of Battle Tactics in the Hundred Years War". In Curry, Anne; Hughes, Michael L. Arms, armies, and fortifications in the Hundred Years War. Woodbridge, England: Boydell Press. các trang 7; 15–16. ISBN 0-85115-365-8. "...cuộc giao tranh Nikopolis là rất quan trọng... tầm quan trọng của trận chiến này có tác động đến chiến thắng của người Anh tại Agincourt... có vẻ như có khả năng rằng vua Henry đã nghe nói người ta nói về sự thành công của loại vũ khí này tại Nikopolis hai thập kỷ trước đó... Làm thế nào Henry tìm hiểu được nó? Không có điều gì đáng nghi ngờ khi nó được lưu truyền bằng lời nói, nhưng nó cũng được 'xuất bản' trong một cuốn sách vào năm 1411, chỉ bốn năm trước khi trận đánh tại Agincourt diễn ra..."
  2. ^ Hiểu là: từ vị trí dàn quân đầu tiên thì cung thủ Anh không thể bắn tới quân Pháp, vì vậy mà người Pháp có lẽ đinh ninh rằng cung thủ Anh sẽ phải bỏ các công sự phòng ngự và lao lên tấn công mà không có che chắn để bắn trúng, nhưng quân Anh đã di chuyển tới vị trí mới và cắm xong cọc mà quân Pháp vẫn chưa hay biết. Ở vị trí này họ vừa bắn được gần hơn và vẫn có cọc bảo vệ.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p Spencer Tucker, Battles That Changed History: An Encyclopedia of World Conflict, các trang 142-145.
  2. ^ a ă â b c Philip Wilkinson, The British Monarchy for Dummies, các trang 137-138.
  3. ^ a ă â Viscount Cranborne, Historical Sketches and Reviews: First Series. Reprinted from the "St. James's Medley.", trang 381
  4. ^ a ă â b c d đ e ê g h Mark Grossman, World Military Leaders, trang 151
  5. ^ Barker (2005) tr. 227
  6. ^ Curry (2006) tr. 187
  7. ^ a ă Barker (2005) tr. 320
  8. ^ Curry (2006) tr.187
  9. ^ Agincourt aftermath
  10. ^ a ă â Jackson J. Spielvogel, Western Civilization: Alternate Volume: Since 1300
  11. ^ de Monstrelet, Enguerrand; Johnes, Thomas (trans) (1810). "The French and English meet in battle on the plains of Azincourt". The Chronicles of Enguerrand de Monstrelet (1853 ed.). London: Henry Bohn. p. 340.
  12. ^ a ă â David Charles Greenwood, History of England, trang 56
  13. ^ a ă G. J. Meyer, A world undone: the story of the Great War, 1914 to 1918, trang 140
  14. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư v x y Joseph Cummins, History's Greatest Hits
  15. ^ a ă â b c d đ Stephen Wesley Richey, Joan of Arc: the warrior saint, trang 22
  16. ^ a ă â b c Kurt von S. Kynell, Saxon and medieval antecedents of the English common law, trang 170
  17. ^ a ă â b Larry H. Addington, The patterns of war through the eighteenth century, trang 72
  18. ^ a ă Guillaume-Emmanuel-Joseph Guilhem de Clermont-Lodève Sainte-Croix (baron de), History of the rise and progress of the naval power of England: interspersed with various important notices relative the the French marine..., trang 51
  19. ^ a ă â b c d đ e ê g h Juliet Barker, Agincourt: Henry V and the Battle That Made England, các trang X-XI.
  20. ^ a ă Thomas Percy, Reliques of ancient English poetry: consisting of old heroic ballads, songs, and other pieces of our earlier poets; together with some few of later date, Tập 2, trang 26
  21. ^ a ă Viscount Garnet Wolseley Wolseley, James A. Rawley, The American Civil War: an English view, trang 222
  22. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l Jim Bradbury, The medieval archer, các trang 116-117.
  23. ^ a ă â b c d đ e ê Henry White, History of Great Britain and Ireland, các trang 182-183.
  24. ^ a ă Régine Pernoud, Marie-Véronique Clin, Jeremy duQuesnay Adams, Joan of Arc: Her Story, trang 61
  25. ^ a ă Shakespeare and Biography
  26. ^ a ă Henry White, History of Great Britain and Ireland, trang 187
  27. ^ a ă â b Colin Pendrill, The Wars of the Roses and Henry VII: England 1459-C. 1513, trang 59
  28. ^ a ă â b Brenda Williams, Brian Williams, Kings & Queens, trang 38
  29. ^ a ă â b c d đ e ê Maurice Hugh Keen, England in the later Middle Ages: a political history, các trang 285-286.
  30. ^ a ă â b c d George McKinnon Wrong, The British nation: a history, các trang 207-208.
  31. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n William Shakespeare, Henry V: the graphic novel: plain text version, các trang 137-139.
  32. ^ a ă â b A. Harding, An epitome of universal history, trang 186
  33. ^ a ă â Arthur Pryor Watts, A history of western civilization... , trang 524
  34. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o Paul K. Davis, 100 decisive battles: from ancient times to the present, các trang 158-159.
  35. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô Peter Saccio, Shakespeare's English kings: history, chronicle, and drama
  36. ^ a ă â b c d đ e ê g Arthur Bailey Thompson, The Victoria history of England: from the landing of Julius Caesar, B.C. 54, to the marriage of H.R.H. Albert Edward, Prince of Wales, A.D. 1863, trang 190
  37. ^ a ă â b A Short History of France, trang 42
  38. ^ a ă â b c d Donald J. Hanle, Terrorism: the newest face of warfare, trang 74
  39. ^ a ă â Jim Bradbury, The medieval archer, các trang 2-3.
  40. ^ a ă Anthony Tuck, Crown and nobility: England 1272-1461, trang XV
  41. ^ a ă Keith Robbins, Great Britain: identities, institutions, and the idea of Britishness, trang 35
  42. ^ a ă â James Redmond, Themes In Drama, Tập 8, trang 68
  43. ^ a ă Jeffery L. Irvin (Jr),The University of Toledo, Paradigm and Praxis: Seventeenth-century Mercantilism and the Age of Liberalism, trang 83
  44. ^ a ă Henry Morton Stanley, Dorothy Stanley, The Autobiography of Sir Henry Morton Stanley, G.c.b, trang 532
  45. ^ a ă Christopher Haigh, The Cambridge Historical Encyclopedia of Great Britain and Ireland, trang 121
  46. ^ a ă Christopher Haigh, The Cambridge Historical Encyclopedia of Great Britain and Ireland, trang 135
  47. ^ a ă Gwilym Dodd, Douglas Biggs, Henry IV: the establishment of the regime, 1399-1406, trang 55
  48. ^ Anthony Tuck, Crown and nobility: England 1272-1461, trang 215
  49. ^ Barker (2005) tr. 13.
  50. ^ Barker (2005) các trang 67–69.
  51. ^ Barker (2005) các trang 107, 114.
  52. ^ Hibbert (1971) tr. 67
  53. ^ Barker (2005) tr. 219
  54. ^ Wylie, James Hamilton; Waugh, William Templeton (1914). The Reign of Henry the Fifth. Cambridge: The University Press. p. 118
  55. ^ Seward, Desmond (1999). The Hundred Years War: The English in France 1337–1453. Penguin. tr. 162
  56. ^ Mortimer, 2009, các trang 436-437
  57. ^ Curry, Anne (2000). The Battle of Agincourt: Sources and Interpretations. Boydell Press. tr. 65. ISBN 9780851158020. 
  58. ^ Curry, Anne (2000). The Battle of Agincourt: Sources and Interpretations. Boydell Press. tr. 66. ISBN 9780851158020. 
  59. ^ Curry, Anne (2000). The Battle of Agincourt: Sources and Interpretations. Boydell Press. tr. 68. ISBN 9780851158020. 
  60. ^ Curry, Anne (2000). The Battle of Agincourt: Sources and Interpretations. Boydell Press. tr. 458. ISBN 9780851158020. 
  61. ^ Dictionnaire de l'Académie française. Verlags-Comptoirs. 1851. tr. 131. 
  62. ^ Curry, Anne (2000). The Battle of Agincourt: Sources and Interpretations. Boydell Press. tr. 115. ISBN 9780851158020. 
  63. ^ a ă â b John A. Wagner, Encyclopedia of the Hundred Years War, các trang 1-3.
  64. ^ Curry, 2006, tr. 166
  65. ^ Barker, 2005, các trang 267-268
  66. ^ Barker 2005, tr. 271,290
  67. ^ Barker, 2005, các trang 283-284
  68. ^ Mortimer(2009) tr. 422
  69. ^ John A. Wagner, Encyclopedia of the Hundred Years War, trang 25
  70. ^ Barker 2005, các trang 276–8
  71. ^ http://www.deremilitari.org/RESOURCES/SOURCES/agincourt.htm
  72. ^ Quoted in Curry (2000), tr. 181.
  73. ^ Rogers, Clifford J. (2008). "The Battle of Agincourt". In Villalon, L. J. Andrew; Kagay, Donald J. The Hundred Years War. 2. Boston, MA: Brill. các trang 107
  74. ^ Quoted in Curry (2000), tr. 159
  75. ^ Wason, David (2004). Battlefield Detectives. London: Carlton Books. tr. 74
  76. ^ http://web.archive.org/web/20050405065203/http://www.crowddynamics.com/Battlefield+Detectives/Agincourt.htm
  77. ^ Quoted in Curry, 2000, tr. 107.
  78. ^ Barker (2005), tr. 300
  79. ^ a ă Mortimer, 2009, tr. 449
  80. ^ Mortimer, 2009, tr. 416
  81. ^ Barker (2005) tr. 287
  82. ^ Barker (2005) tr. 288
  83. ^ Mortimer (2009) các trang 436-437
  84. ^ Barker, (2005) tr. 291.
  85. ^ Keegan (1976), các trang 92-6
  86. ^ Barker (2005), tr. 293
  87. ^ Barker (2005) các trang 297–298.
  88. ^ Mortimer, 2009, tr. 440
  89. ^ Vua Henry V mang tới 130.000 bao tên từ nước Anh, nghĩa là khoảng 3 triệu mũi tên, Mortimer, 2009, p.216
  90. ^ Curry (2000) tr. 159
  91. ^ John A. Wagner, Encyclopedia of the Hundred Years War, trang 44
  92. ^ a ă Curry (2000) tr. 37
  93. ^ Mortimer (2009) tr. 443
  94. ^ Curry (2005), các trang 207–9
  95. ^ Barker (2005), tr. 308
  96. ^ Curry (2000) tr. 163
  97. ^ Barker (2005) các trang 302–305.
  98. ^ Curry, 2000, tr. 12
  99. ^ Barker, 2005, tr. 320
  100. ^ Barker (2005), các trang 321,323
  101. ^ Barker (2005), các trang 322–3
  102. ^ Barker (2005) các trang 337, 367, 368.
  103. ^ Mortimer (2009) các trang 475, 479
  104. ^ Mortimer (2009), các trang 547–8
  105. ^ Barker (2005), tr. 354
  106. ^ Inga Bryden, Reinventing King Arthur: The Arthurian Legends In Victorian Culture, trang 79
  107. ^ Curry (2000), các trang 280-283
  108. ^ Woolf, tr. 323.
  109. ^ Paul A. Cantor (2006). Trong Murley and Sutton. Shakespeare's Henry V: From the Medieval to the Modern World,. tr. 15. 
  110. ^ <Margolies, tr. 149; Adam, tr. 31.
  111. ^ Hatchuel, tr. 195.
  112. ^ Anne Curry, The battle of Agincourt: sources and interpretations, trang 8
  113. ^ Spencer Tucker, Priscilla Mary Roberts, World War I: A Student Encyclopedia, trang 127. ABC-CLIO, 25-10-2005. ISBN 1-85109-879-8.
  114. ^ Adams, tr. 183.
  115. ^ Glyn Harper Just the Answer Alumni Magazine [Massey University] November 2002.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]