Trận Großbeeren

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trận Großbeeren
Một phần của cuộc Chiến tranh Liên minh thứ sáu
Knotel-Battle of Grossbeeren.jpg
Do mưa gió làm vô hiệu hóa súng hỏa mai, bộ binh Sachsen (trái) phải dựa vào báng súng và lưỡi lê để phòng ngự khu đất nhà thờ tại Großbeeren trước một đợt công kích của quân đội Phổ.
.
Thời gian 23 tháng 8 năm 1813 [1]
Địa điểm Großbeeren, hướng Nam Berlin[2]
Kết quả Quân Liên minh[3] giành thắng lợi quyết định,[4] quân đội Pháp triệt thoái.[5]
Tham chiến
Pháp Đế chế Pháp
Sachsen Vương quốc Sachsen
Vương quốc Phổ Vương quốc Phổ
Thụy Điển Thụy Điển
Đế quốc Nga
Chỉ huy
Pháp Nicolas Oudinot[6] Vương quốc Phổ Friedrich Wilhelm von Bülow[5]
Vương quốc Phổ Bogislav Friedrich von Tauentzien[7]
Thụy Điển Thái tử Karl Johan [2]
Lực lượng
70.000 quân và 216 hỏa pháo [8] 98.000 quân Phổ [8]
Tổn thất
20 sĩ quan và 1.918 binh lính thương vong (các Sư đoàn Sachsen), 1.138 quân thương vong (Sư đoàn Pháp),[9] 13 hỏa pháo [8] 159 quân tử trận, 662 quân bị thương, 228 quân mất tích và 6 hỏa pháo bị phá hủy [9]
.

Trận Großbeeren, còn viết là Trận Groß Beeren,[10] là một trận đánh trong cuộc Chiến tranh Giải phóng Đức - một phần của những cuộc chiến tranh của Napoléon, diễn ra vào ngày 23 tháng 8 năm 1813 tại Trung Âu.[2] Trong trận đánh này, quân đội Phổ do các tướng Friedrich Wilhelm Freiherr von BülowBogislav Friedrich Emanuel von Tauentzien chỉ huy[10] với sự phối hợp hạn chế của quân đội Thụy Điển do cựu Thống chế PhápJean Baptiste Bernadotte và quân đội Đế quốc Nga đã giành thắng lợi quyết định trước quân đội Đế chế Pháp do Thống chế Nicolas Oudinot chỉ huy, buộc Oudinot phải rút quân.[4][5][7][11] Không những là trận đánh lớn đầu tiên của chiến dịch Leipzig, trận chiến tại Großbeeren là chiến thắng đầu tiên của người Phổ kể từ sau năm 1806.[8] Thắng lợi chủ yếu của quân đội Phổ ở Großbeeren, cùng với các thắng lợi khác của họ tại trận Dennewitz, trận sông Katzbach, trận Hagelbergtrận Kulm đã gỡ gạc cho thất bại của Liên minh thứ sáu trong trận Dresden và củng cố yêu cầu bình đẳng của Vương quốc Phổ với Đế quốc Áo.[6]

Oudinot - Tư lệnh Binh đoàn Berlin của Pháp - đã được lệnh nhanh chóng tiến chiếm kinh thành Berlin của Phổ.[8] Trong đoàn quân của ông có Quân đoàn VII gồm thâu binh lính người xứ Sachsen.[9] Hoàng đế PhápNapoléon Bonaparte khi ấy tỏ ra khinh suất đối phương, và đội quân của Oudinot không có đủ thực lực để chiến đấu. Đối diện của họ là 98.000 quân Phổ đang phòng vệ ở quê hương của mình. Oudinot cũng có quan điểm như Hoàng đế của ông, đồng thời khả năng thu thập tin tức yếu kém đã khiến cho họ lao mình vào các lực lượng Phổ vào buổi sáng ngày 23 tháng 8 năm 1813 và một trận hỗn chiến đã bùng nổ giữa hai phía. Mưa lớn đã gây thêm náo loạn và khiến cho quân đội hai bên khó bắn, không lâu sau người Phổ phát động chiến dịch tấn công với từng đợt tập kích trực diện về phía quân Pháp.[8] Hai phe dựa vào lưỡi lê và báng súng để đánh giáp lá cà với nhau và quân Pháp dần dần thất thế.[1] Một số khẩu đại bác 12 pao của quân Nga đã tham gia chiến đấu cùng quân Phổ trong cuộc chiến.[9] Trận chiến đã chấm dứt sau khi đội hình hàng dọc cuối cùng của quân Pháp giao tranh với lực lượng Khinh kỵ binh Cận vệ của quân Phổ trong một cuộc hỗn chiến giữa hai đội kỵ binh vào ban đêm,[8] với thất bại của quân đội Pháp.[1] Một khẩu đội pháo do ngựa kéo của quân Thụy Điển cũng xuất hiện trong chiến trường giữa đêm khuya và không có đóng góp gì đáng kể.[9]

Ngày hôm sau, quân đội của Oudinot tiếp tục triệt thoái.[1] Ông trở nên được biết đến nhiều nhất vì cuộc bại trận tại Großbeeren.[12] Phía Phổ đã đối xử rất khắc nghiệt với các tù binh Sachsen trong trận đánh này.[9] Tuy không có quy mô lớn nhưng trận chiến Großbeeren đã gây hậu quả nghiêm trọng cho quân đội Pháp:[1] Quân đoàn VII phải bỏ ra vài ngày để chỉnh đốn quân ngũ, và thất bại của họ đã khiến cho Oudinot phải rút toàn bộ Binh đoàn Berlin về Wittenberg.[9] Ngoài ra, thất bại của quân Pháp trong trận Großbeeren cũng buộc Thống chế Louis Nicolas Davout của Quân đoàn XIII của Pháp phải chấm dứt chiến dịch tấn công Berlin của mình và rút quân về Hamburg. Là một đòn giáng vào chiến lược của Pháp, trận thắng này cũng được xem là mốc định hình cho lực lượng quân đội mới của Phổ,[9][13] đồng thời là chiến thắng đầu tiên của Liên minh thứ sáu trước các thuộc cấp của Napoléon I trong năm 1813.[14] Sau đó, Bülow đã bẻ gãy cuộc tấn công Berlin của quân Pháp dưới quyền Thống chế Michel Ney trong trận Dennewitz, và thắng lợi này cùng với chiến thắng Großbeeren và chiến thắng Luckau hồi tháng 6 của ông đã giải nguy cho Berlin.[15][16][17][18][19]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Peter Hofschr?er, Leipzig 1813: The Battle of the Nations, các trang 39-44.
  2. ^ a ă â Spencer C. Tucker, A Global Chronology of Conflict: From the Ancient World to the Modern Middle East: From the Ancient World to the Modern Middle East, trang 1099
  3. ^ Wars of Liberation, German Part
  4. ^ a ă Tony Jacques, Dictionary of Wars, trang 661
  5. ^ a ă â Tony Jaques, Dictionary of Battles and Sieges: F-O, trang 432
  6. ^ a ă Christopher M. Clark, Iron Kingdom: The Rise And Downfall of Prussia, 1600-1947, các trang 367-371.
  7. ^ a ă The Projection and Limitations of Imperial Powers, 1618-1850, các trang 128-132.
  8. ^ a ă â b c d đ Battle of Grossbeeren, 23 August 1813
  9. ^ a ă â b c d đ e Michael V. Leggiere, Napoleon and Berlin: The Franco-Prussian War in North Germany, 1813, các trang 160-176.
  10. ^ a ă Alan Sked, Radetzky: Imperial Victor and Military Genius, trang 258
  11. ^ J. Thomas, Universal Pronouncing Dictionary Of Biography And Mythology Part One, trang 336
  12. ^ Peter Hofschr?er, Leipzig 1813: The Battle of the Nations, trang 13
  13. ^ Michael V. Leggiere, Napoleon and Berlin: The Franco-Prussian War in North Germany, 1813, trang 135
  14. ^ Gregory Fremont-Barnes, The Napoleonic Wars: The Fall of the French Empire, 1813-1815, trang 12
  15. ^ Jean Helen Quataert, Staging Philanthropy: Patriotic Women and the National Imagination in Dynastic Germany, 1813-1916, trang 59
  16. ^ Stanley Sandler, Ground Warfare: An International Encyclopedia, Tập 1, trang 102
  17. ^ Peter Hofschroer, Prussian Light Infantry 1792-1815, trang 18
  18. ^ Christophe Koch, Maximillian Samson Friedrich Schoell, The revolutions of Europe: being an historical view of the European nations from the subversion of the Roman empire in the west to the abdication of Napoleon, trang 224
  19. ^ "Encyclopaedia Americana"

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tọa độ: 52°21′00″B 13°18′00″Đ / 52,35000001°B 13,30000001°Đ / 52.35000001; 13.30000001