Trận Königgrätz

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trận chiến Königgrätz (Sadová)
Một phần của cuộc Chiến tranh Áo-Phổ
The Battle of Königgrätz.jpg
Trận chiến Königgrätz, ngày 3 tháng 7 năm 1866, do Christian Sell thực hiện. Tờ in thạch bản, 1866.
.
Thời gian 3 tháng 7 năm 1866
Địa điểm Sadová, Böhmen, nay thuộc Cộng hòa Séc
Kết quả Thắng lợi quyết định của Quân đội Phổ,[1][2][3][4][5], dẫn đến sự chấm dứt của cuộc Chiến tranh Áo-Phổ[6]. Quân đội Áo gần như là bị triệt tiêu và thoái lui.[7][8]
Thay đổi lãnh thổ Nước Phổ giành được quyền bá chủ không thể chối cãi trong nền chính trị Đức[9]. Dẫn đến sự phân chia vùng Đức giữa Phổ và Áo.[10]
Tham chiến
Cờ của Vương quốc Phổ Vương quốc Phổ Cờ của Đế quốc Áo (1804–1867) Đế quốc Áo
Cờ của Sachsen Vương quốc Sachsen
Chỉ huy
Cờ của Vương quốc Phổ Wilhelm I (hiện diện)[11]
Cờ của Vương quốc Phổ Helmuth von Moltke[12]
Cờ của Vương quốc Phổ Hoàng thân Friedrich Karl[13]
Cờ của Vương quốc Phổ Thái tử Friedrich Wilhelm[13]
Cờ của Vương quốc Phổ Herwarth von Bittenfeld[14][15]
Cờ của Đế quốc Áo (1804–1867) Ludwig von Benedek[14][16]
Lực lượng
220.000–280.000 quân Phổ [17][18][19][20]
600–900 hỏa pháo [17][18][21]
206.000 [22]–215.000 quân[21] (ngang ngửa với quân số quân đội Phổ[12]) :

672–770 hỏa pháo [18][20]

Tổn thất
Theo Gordon A. Craig: 359 Sĩ quan, 8.975 binh lính và 909 ngựa chiến (trong số đó 99 Sĩ quan và 1.830 binh lính tử trận, 260 Sĩ quan và 6.688 binh lính bị thương và 276 binh lính mất tích) [18][23]
Theo Spencer Tuker: Xấp xỉ 9.000 quân thương vong (31.900 quân tử trận, 6.800 quân bị thương, 275 quân mất tích) [22]
Theo Bộ Tổng tham mưu Áo:

Áo: 1.313 Sĩ quan, 41.499 binh lính và 6.010 ngựa chiến (trong số đó 330 Sĩ quan và 5.328 binh lính tử trận, 431 Sĩ quan và 7.143 binh lính bị thương, 43 Sĩ quan và 7.367 binh lính mất tích, và 509 Sĩ quan cùng với 21.661 binh lính bị bắt làm tù binh [23] Sachsen: Tổng cộng: 55 Sĩ quan và 1.446 binh lính (trong số đó 15 Sĩ quan và 120 binh lính tử trận, 40 Sĩ quan và 900 binh lính bị thương, và 426 binh lính mất tích) [23]
Theo Spencer Tucker: Xấp xỉ 44.000–44.100 quân thương vong (5.735 quân tử trận, 8.440 quân bị thương, khoảng 22.000 quân bị bắt), 116 hỏa pháo Áo bị mất [22][24]

.

Trận Königgrätz, còn gọi là Trận Sadová[25] hoặc là Trận Sadowa[26], là trận đánh lớn diễn ra giữa Quân đội Phổ dưới sự thống lĩnh của Tướng Helmuth von Moltke[27][28] với Quân đội Đế quốc Áo và Quân đội Sachsen dưới sự chỉ huy của Tướng Ludwig von Benedeck[27] vào ngày 3 tháng 7 năm 1866, trong cuộc Chiến tranh Áo-Phổ (tức là cuộc Chiến tranh Bảy tuần).[4][8] Được xem là một trong những trận chiến vĩ đại trong thế kỷ 19, trận chiến này cho thấy các Binh đoàn Phổ chuyển động mau lẹ và hợp vây quân Áo, rồi cuối cùng kết thúc với chiến thắng của lực lượng Quân đội Phổ – được cho là một thắng lợi quyết định trong suốt chiều dài lịch sử thế giới[29].[30] Trận chiến đẫm máu[29] tại Königgrätz cũng là một bước ngoặt trong lịch sử,[7][31] cũng như là một trận đánh lớn nhất của các lực lượng quân đội trong thế giới phương Tây trước khi cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, với tầm vóc to lớn hơn cả trận Leipzig hồi năm 1813[32].[12][33] Không những quyết định đến kết cục của cuộc Chiến tranh Áo-Phổ, chiến thắng lẫy lừng của quân Phổ trong trận đánh ngắn gọn tại Königgrätz đã thu hút và gây cho cả châu Âu phải choáng váng[12][34][35], và được xem là một trận đánh hủy diệt kinh điển và bất hủ của Moltke cùng với đại thắng của ông tại Sedan sau này.[36][37] Đồng thời, chiến thắng tại Königgrätz còn được xem một trong những chiến công huy hoàng trong lịch sử quân sự Phổ, cũng như là một tuyệt tác của nhà chỉ huy quân sự Phổ tài năng này và sự lập kế hoạch.[38][39][40] Chiến thắng đỉnh điểm này đã khẳng định niềm tin của ông vào sức mạnh của quân lực Phổ.[41][42] Nhà soạn nhạc quân sự Phổ là Johann Gottfried Piefke đã sáng tác bản “Hành khúc Königgrätz” nổi tiếng sau đại thắng này.[43][44]

Trận chiến khơi nguồn từ một cố gắng của người Phổ dưới quyền Tướng Moltke nhằm hợp vây đối phương bằng ba Binh đoàn hùng mạnh, khác với phong cách của chiến tranh nửa đầu thế kỷ 19.[30] Tuy nhiên, quân Phổ đã thất bại do hai Binh đoàn của họ (bao gồm Binh đoàn thứ nhất dưới quyền Hoàng thân Friedrich Karl và Binh đoàn thứ hai dưới quyền Thái tử Friedrich Wilhelm[8]) không thể hội quân với nhau và một Binh đoàn thứ ba lại không thể tiến quân, những mệnh lệnh giành cho họ đã không có hiệu lực. Cho đến đầu buổi chiều ngày 3 tháng 7 năm 1866, mọi lực lượng trừ bị của quân Phổ đều đã được tung ra chiến trường trong khi lực lượng Kỵ binh Áo vẫn chưa hề nhập trận[30]. Dù yếu thế, Binh đoàn thứ nhất của Phổ vẫn cầm cự được trong cả ngày. Nhưng cuối cùng, thế trận đã xoay chuyển bằng một tình huống choáng ngợp : Binh đoàn thứ hai của quân Phổ đã kéo đến và tiến công bọc sườn, đánh tan tành quân cánh phải Áo.[2][12][45] Binh đoàn thứ ba cuối cùng cũng kéo tới ứng chiến.[46] Trong khi ấy, lực lượng Pháo binh trừ bị của Trung đoàn Vệ binh Phổ đã băm nát trung quân Áo. Và, lực lượng Bộ binh của Moltke đã tận dụng triệt để hỏa lực vượt trội của họ để hạ gục từng lớp quân Áo, gây thiệt hại nặng nề cho đối phương, mãi đến khi Benedeck xuống lệnh rút quân, dưới sự yểm trợ của Pháo binh. Vả lại, thời tiết ẩm ướt khiến cho quân Phổ không thể tận diệt toàn bộ đạo quân Áo. Như vậy là kế hoạch của Moltke đã phần nào thất bại, song trận đánh Königgrätz vẫn là một chiến thắng toàn diện[32][47][48] và lẫy lừng của ông.[8][13] Trong trận đánh này, tổn thất của quân Áo lớn hơn quân đội quốc gia[49] Phổ – vốn được đào luyện tốt hơn[50] – gấp 6 lần, và tàn binh bại tướng Áo đã tháo chạy trong hỗn loạn.[7][51] Sĩ khí của Quân đội Áo bị suy sụp.[45] Ngoài ra, chiến thắng quyết định độc nhất này đã xác nhận rõ ràng phần thắng trong cuộc Chiến tranh Áo-Phổ sẽ thuộc về người Phổ,[52][53][54] và lăng nhục Hoàng đế Franz Joseph I cũng như nước Áo của ông.[55][56] Bộ Tổng Tham mưu Phổ do Moltke lãnh đạo đã làm nên chiến thắng quyết định[57][58] này qua việc lập kế hoạch chu đáo trước chiến tranh, áp dụng kỹ nghệ dùng xe lửa trong chiến tranh và hoạt động tham mưu hữu hiệu cũng như khéo động binh[59][60][61] Họ đã nhanh chóng khôi phục sau những sai lầm trong buổi sáng và giành được thắng lợi.[62]

Trong khi cuộc đại chiến ở Königgrätz có sự tham chiến của tổng cộng nửa triệu binh sĩ, 1/4 trong số họ đều tử trận hoặc bị thương – đây là dấu hiệu chứng tỏ tính quyết liệt của chiến tranh hiện đại.[63] Thêm nữa, không chỉ khẳng định bản lĩnh thiên tài chiến lược của Tướng Moltke, toàn thắng[64] của người Phổ tại Königgrätz đã chứng nhận sức mạnh khủng khiếp của súng trường Dreyse tối tân của họ, với tốc độ bắn vượt xa súng trường của người Áo,[65][66][67][68] đồng thời cũng cho thấy sự vượt trội của khả năng tổ chức cao[12][69][70], đường lối chiến lược, chiến dịch, chiến thuật của người Phổ trước người Áo.[32] Sau cuộc đại bại này, quân Áo thậm chí không còn có một Tiểu đoàn nào có thể chiến đấu hiệu quả trên bãi chiến trường.[13] Trong khi phải rút chạy về đế đô Viên, quân Áo không còn khả năng kháng cự thêm nữa.[71] Con đường đã rộng mở cho Quân đội Phổ kéo tới Viên, và xem ra nước Áo dưới triều đại nhà Habsburg sẽ hoàn toàn bị diệt vong. Song, Thủ tướng Bismarck đã khuyên giải nhà vua nước Phổ chấm dứt cuộc tiến công và khai mạc các cuộc đàm phán với Áo, còn chính quyền Viên cũng không còn cách nào khác ngoài giảng hòa sau thảm họa.[24][72][73] Vào ngày 3 tháng 8 năm 1866, Hiệp định Praha được ký kết theo đó Liên bang Bắc Đức được hình thành trong đó có Vương quốc Phổ và các quốc gia Đức mà không hề có Áo.[47][74][75] Đồng thời, chiến thắng chớp nhoáng theo kiểu Blitzkrieg tại Königgrätz[66][76] – có thể được xem là trận đánh quyết định nhất trong thời kỳ cận đại[42] - đã chứng nhận quyền bá chủ của nước Phổ dưới sự lãnh đạo của Bismarck tại Trung Âu và kết liễu sự bá quyền của nước Áo tại Đức[62][77] Đại thắng tại Königgrätz cũng khiến cho ông được xem là một vị anh hùng dân tộc của người Đức, và khơi gợi chủ nghĩa dân tộc Đức.[78][79][80] Trong khi đó, thảm họa Königgrätz của Áo còn là một thất bại nặng nề đối với chính sách của Pháp khi ấy.[31][64][81][82]

Mục lục

Bối cảnh lịch sử[sửa]

Vào tháng 9 năm 1862, Otto von Bismarck trở thành Thủ tướng của Vương quốc Phổ. Ông chủ trương đối đầu với người Áo và cổ vũ cho Bộ trưởng Bộ Chiến tranh Albrecht von Roon và Tổng tham mưu trưởng Helmuth von Moltke Lớn tăng cường lực lượng Quân đội Phổ – vốn đã thể hiện rõ rệt khuyết điểm của mình khi tổng động viên chống lại Pháp vào năm 1859. Vào năm 1864,[22] được sự đồng thuận của người Áo,[65] Quân đội Phổ sau khi được canh tân đã chiến đấu với hiệu quả cao trong cuộc Chiến tranh Schleswig lần thứ hai giữa Liên minh các quốc gia ĐứcĐan Mạch – một cuộc chiến do chính Bismarck khơi mào. Cuộc chiến tranh này đã chấm dứt với chiến thắng của người Đức buộc Đan Mạch phải nhượng cho họ hai Công quốc SchleswigHolstein.[22]

Bismarck, (trái), cùng với Roon (giữa) và Moltke Lớn (phải). Ba nhà lãnh đạo nước Phổ trong thập niên 1860.

Trong các năm 18651865, Bismarck chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh mới, lần này là chống lại Đế quốc Áo.[22] Ông mong muốn loại bỏ hoàn toàn nước Áo ra khỏi gia đình các dân tộc Đức, và mở ra một thời kỳ mới cho người tộc Teuton[83] Một nguyên nhân khiến cho cuộc chiến tranh này sẽ diễn ra là do người Phổ nuôi chí phục thù sự lăng nhục của người Áo đối với họ trong Hiệp định Olmütz hồi năm 1850 làm tiêu tan hy vọng thống nhất nước Đức.[84] Trước hết, ông đảm bảo sự trung lập của Đế quốc NgaPháp. Người Nga, vốn đang tranh giành quyền lợi với Áo tại vùng Balkan, cũng bất mãn với vai trò của Áo trong cuộc Chiến tranh Krym. Đồng thời, giới lãnh đạo Nga cũng biết ơn Bismarck vì đã niêm phong biên giới của Phổ với Ba Lan trong cuộc khởi nghĩa của nhân dân Ba Lan vào năm 1863 chống lại ách thống trị của người Nga – điều này khiến cho Nga dễ dàng dập tắt cuộc khởi nghĩa. Vào tháng 10 năm 1865, Bismarck tiếp kiến Hoàng đế PhápNapoléon III tại Biarritz và hứa hẹn sẽ nhượng bộ vùng ven sông Rhine cho Pháp, đổi lại Pháp phải giữ thái độ trung lập. Napoléon III tỏ ra thèm muốn chiến tranh đến mức mà ông nỗ lực biến Vương quốc Ý thành một đồng minh của Vương quốc Phổ, cũng đồng thời cho nước Áo biết rằng ông đang cố gắng bằng mọi giá để mà giữ vững sự trung lập của Ý. Chính quyền Ý khi ấy thì mong muốn chiếm được Venezia.[22]

Sau khi đã cô lập nước Áo, Bismarck bắt đầu phát động cuộc chiến tranh, yêu cấu xóa bỏ Liên minh Đức. Vào ngày 14 tháng 6 năm 1866, trước tình hình nóng bỏng, các quốc gia trực thuộc Liên bang Bắc Đức đồng ý đã liên minh với Áo và khai chiến với Phổ[22][65]. Đồng thời, Quân đội Ý cũng tấn công vùng Venetia thuộc Áo.[47] Vào ngày 18 tháng 6 năm 1866 vua nước Phổ là Wilhelm I đã hiệu triệu nhân dân Phổ giương cao khí giới[11]. Vào ngày 21 tháng 6 năm ấy, nước Áo đã tổng động viên quân đội và sau 20 ngày thì nước Phổ theo gót Áo.[33] Như vậy là, một cuộc xung đột đã bùng nổ giữa các quốc gia tại Đức (chủ yếu là HanoverSachsen) và Đế quốc Áo với Vương quốc Phổ và Ý.[22][70] Chỉ có một số nước nhỏ ở miền Bắc Đức là đứng về phía Phổ.[3] Bismarck quyết định sẽ tiến hành một cuộc chiến tranh nhanh gọn. Và thực ra, đây là một cuộc Chiến tranh Chớp nhoáng (Blitzkrieg) trong thế kỷ 19, chỉ kéo dài trong vòng bảy tuần.[22] Đây là lý do khiến cho cuộc Chiến tranh Áo-Phổ này còn được biết đến với cái tên là Chiến tranh Bảy tuần.[84] Các lực lượng bị phân rã của Liên minh Đức không thể nào tập trung, khiến cho hai nước Áo và Phổ trở thành hai phe tham chiến chính yếu của cuộc chiến. Người Phổ cũng cải tiến hệ thống đường sắt của họ với hiệu quả rất lớn để mà vận chuyển cả binh sĩ lẫn lương thực. Ngược lại, người Áo đã bỏ dỡ mọi cơ hội cho mình.[22]

Song, đã có những dự đoán rộng rãi là người Áo sẽ giành chiến thắng trong cuộc chiến tranh này.[85] Là một cựu chiến binh trong giai đoạn cuối của những cuộc chiến tranh của Napoléon, Quốc vương Wilhelm I đã giao phần lớn quyền điều khiển chiến dịch cho Tổng tham mưu trưởng của ông là Moltke, nguyên là Tham mưu trưởng của con trai nhà vua là Thái tử Friedrich Wilhelm.[60] Ở miền Bắc Đức, chỉ hai tuần sau khi tuyên bố chiến tranh, Binh đoàn Phía Tây của quân Phổ dưới quyền Tướng Eduard Vogel von Falkenstein đã đánh thắng quân Hanover trong trận Langensalza và chấm dứt mọi hiểm nguy đến từ hướng đó. Sau đó, ông chuyển quân về hướng Nam, nhưng Moltke vốn dĩ đã quyết định tình hình.[22] Bởi vì, trong khi Quân đội Phổ hãy còn giao chiến với các quân đội các nước miền Nam Đức,[11] vị Tổng tham mưu trưởng đã triển khai ba Binh đoàn (với khoảng 30 vạn quân sĩ[58]) tiến đánh người Áo dọc theo 250 dặm Anh (miles) ở biên cương. Ông lập kế hoạch cho cả ba Binh đoàn đều xuất hành theo ba trục song song về hướng Nam và tiến vào Böhmen. Vùng Böhmen trở thành chiến trường chính yếu của cuộc chiến tranh.[22][31]

Ở phía Tây, Binh đoàn sông Elbe (còn gọi là Binh đoàn thứ ba[69]) dưới sự chỉ huy của Tướng Karl Herwarth von Bittenfeld được lệnh tiến quân qua miền Trung Sachsen. Binh đoàn thứ nhất dưới quyền Hoàng thân Friedrich Karl sẽ khởi hành từ Görlitz tại miền Đông Sachsen, trong khi đó ở hướng Đông Binh đoàn thứ hai của Phổ dưới quyền Thái tử Friedrich Wilhelm sẽ thẳng tiến vào vùng Böhmen. Moltke dự kiến sẽ tập kết ba Binh đoàn này ở gần Gitschin (Jiçin) trước khi kéo rốc tới Ölmütz (Olomouc), nơi mà những thông tin tình báo đã cho biết người Áo dự định tập trung binh lực của mình. Cuộc tiến quân của người Phổ đã gặt hái thành công ban đầu : họ đánh thắng quân đội Áo và Sachsen trong các trận đánh tại trận Münchengrätz vào ngày 28 tháng 6Gitschin vào ngày 29 tháng 6 năm 1866,[22][86] hạ thấp tinh thần của toàn bộ Quân đội Áo và đánh gục ý chí chiến thắng của người chỉ huy quân Áo.[46][87] Cho đến cuối tháng 6, thiệt hại của quân Áo đã lên tới 3 vạn người.[69] Ngược lại, tinh thần Quân đội Phổ đã tăng vọt sau một loạt chiến thắng của mình trong chiến cuộc.[88]

Tình hình hai phe trước trận chiến[sửa]

Tuy nhiên, Tư lệnh Binh đoàn phương Bắc của Áo là Tướng Ludwig von Benedeck chuyển động chậm rãi, và trước tình hình đó, Tướng Moltke – người đã liên lạc với ba vị tướng thuộc cấp của ông bằng điện báo và giám sát các cuộc điều binh tại kinh đô Berlin trước khi thân hành đến mặt trận vào cuối tháng 6 năm 1866 – xuống lệnh cho Binh đoàn sông Elbe xoay chuyển về hướng Tây nhằm tiến công và góp phần tạo nên một cuộc hợp vây từ hai phía. Hai đoàn quân có quân số ngang ngửa nhau. Theo học giả Hoa KỳSpencer Tucker, Moltke thống lĩnh khoảng 221 nghìn quân cùng với 702 khẩu pháo, trong khi Benedeck chỉ huy 206 nghìn quân (trong đó có 184 nghìn quân Áo và 22 nghìn quân Sachsen) cùng với 650 khẩu pháo. Cuốn Encyclopedia of Modern War của tác giả Roger Parkinson cũng cho biết Moltke đã dẫn đầu 22 vạn quân chống lại 19 vạn quân Áo và 25 nghìn quân Sachsen.[8][22] Còn theo tác giả Bayard Taylor trong cuốn History of Germany thì tổng binh lực của phía Phổ là 26 vạn người kèm theo 790 khẩu pháo, trong khi phía Áo có quân số tương đương.[19] Nhà sử học quân sự người ÚcJohn Laffin cho biết, quân đội của Benedeck gồm thâu 215.000 người Áo, Sachsen và Hungary[89]. Quân đội Phổ có lợi thế lớn về hỏa lực của Bộ binh. Họ sử dụng súng trường nạp hậu hiệu Dreyse với tầm bắn xa và độ chính xác cao hơn hẳn súng hỏa mai Lorenz của Quân đội Áo.[22] Nhìn chung, lực lượng Bộ binh Phổ chiếm giữ ưu thế về cả khí giới lẫn chiến thuật so với Bộ binh đối phương, mặc dù người Áo có Kỵ binh và Pháo binh hùng mạnh hơn Phổ.[8]

Bản đồ lịch sử của chiến dịch Königgrätz.

Thời cơ ngàn năm có một đã đến với Benedeck khi các Binh đoàn Phổ phân rã. Chẳng qua là Moltke đã xuống lệnh cho Binh đoàn sông Elbe quay ngoắt lại, và một lỗ hổng rộng lớn cũng đồng thời xuất hiện giữa Binh đoàn thứ nhất và Binh đoàn thứ hai.[22] Tuy nhiên, Benedeck đã không thể tận dụng thời cơ của mình – người Áo đã dành 3 ngày để chuẩn bị cho trận chiến, khắc hẳn với ý tưởng của Moltke là tập trung[8] toàn bộ binh lực trong trận chiến, chứ không phải là trước trận. Vì đã lập hệ thống phòng ngự kể từ khi triệt thoái về ấn náu dưới những cỗ pháo của thị trấn pháo đài Königgrätz vào ngày 29 tháng 6 năm 1866, Benedeck không thể triển khai quân đội của mình nhanh chóng trong khi ba đạo quân trực thuộc nhỏ hơn của Phổ đã xuất hành. Bị buộc phải chiến đấu để cố thủ, tướng Áo đóng đại quân hướng về phía Tây dọc theo một mặt trận trải dài 10 dặm Anh từ Josephstadtz về hướng Nam tới Königgrätz và ở trên ngôi làng Sadowa.[22][89] Tin tức về việc Binh đoàn phương Bắc của Benedeck tập kết dọc theo vùng hạ lưu sông Elbe về hướng Bắc Königgrätz đã đến tai Tướng Moltke vào ngày 2 tháng 7 năm 1866. Quân đội của Benedeck đã nằm trong tầm tay đánh được của Binh đoàn sông Elbe dưới quyền tướng Bittenfeld và Binh đoàn thứ nhất dưới quyền Hoàng thân Friedrich Karl của Phổ.[24] Cùng ngày hôm ấy, vua Wilhelm I của Phổ thiết lập Tổng hành dinh tại Gitschin và được bộ tham mưu cùng với quân đội chào đón nồng nhiệt.[11]

Chú thích[sửa]

  1. ^ William Simpson, Martin Desmond Jones, Europe, 1783-1914, trang 170
  2. ^ a b Erich Eyck, Bismarck and the German Empire, trang 128
  3. ^ a b Raffael Scheck, Germany, 1871-1945: A Concise History, trang 19
  4. ^ a b Tony Jaques, Dictionary of Battles and Sieges: F-O, trang 540
  5. ^ Stig Förster, On the Road to Total War: The American Civil War and the German Wars of Unification, 1861-1871, trang 55
  6. ^ Keir Alexander Lieber, War And the Engineers: The Primacy of Politics Over Technology, trang 75
  7. ^ a b c Geoffrey Wawro, The Franco-Prussian War: The German Conquest of France in 1870-1871, trang 16
  8. ^ a b c d e f g Roger Parkinson. The Encyclopedia of Modern War, trang 145
  9. ^ Robert Edward Norton, Secret Germany: Stefan George and His Circle, trang 16
  10. ^ Matthew S. Seligmann, Roderick R. McLean, Gerrmany from Reich to Republic, 1871-1918: Politics, Hierarchy and Elites, trang 4
  11. ^ a b c d "History of the German People from the Earliest Times to the Accession of Emperor William II ..."
  12. ^ a b c d e f Robert Cowley, Geoffrey Parker, The Reader's Companion to Military History, các trang 245-246.
  13. ^ a b c d Christopher M. Clark, Iron Kingdom: The Rise And Downfall of Prussia, 1600-1947, các trang 541-542.
  14. ^ a b Perrett, Bryan (1992). The Battle Book. London, England: Arms and Armour Press. tr. 237. ISBN 1-85409-328-2. 
  15. ^ Gustave Louis Maurice Strauss, Men who have made the new German empire: a series of biographical sketches, trang 148
  16. ^ Elizabeth Peake, History of the German emperors and their contemporaries, trang 560
  17. ^ a b William Young, German Diplomatic Relations 1871-1945: The Wilhelmstrasse and the Formulation of Foreign Policy, trang 38
  18. ^ a b c d e f Micheal Clodfelter, Warfare and armed conflicts: a statistical reference to casualty and other figures, 1500-2000, các trang 206-207.
  19. ^ a b History of Germany by Bayard Taylor
  20. ^ a b Walter Yust, Encyclopaedia Britannica: a new survey of universal knowledge, trang 387
  21. ^ a b Alfred Vagts, A history of militarism: civilian and military, trang 202
  22. ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s Spencer C. Tucker, Battles That Changed History: An Encyclopedia of World Conflict, các trang 351-353.
  23. ^ a b c Gordon Alexander Craig, The Battle of Königgrätz: Prussia's Victory Over Austria, 1866, trang 166
  24. ^ a b c Spencer Tucker, A global chronology of conflict: from the ancient world to the modern Middle East, Tập 2, trang 1435
  25. ^ Alan John Percivale Taylor, A. J. P. Taylor, The Course of German History: A Survey of the Development of German History Since 1815, trang 12
  26. ^ Jean Bérenger, A History of the Habsburg Empire: 1700-1918, các trang 203-204.
  27. ^ a b David John Cawdell Irving, Hitler's war, Tập 2, trang 754
  28. ^ Peter Hast Vigor, Soviet blitzkrieg theory, trang 39
  29. ^ a b Robert A. Kann, A History of the Habsburg Empire, 1526-1918, trang 275
  30. ^ a b c Robert Cowley, Geoffrey Parker, The Reader's Companion to Military History, trang 387
  31. ^ a b c Marshall Dill, Germany: A Modern History, các trang 137-138.
  32. ^ a b c Geoffrey Wawro, Warfare and Society in Europe, 1792-1914, trang 89
  33. ^ a b John Gooch, Armies in Europe, các trang 91-93.
  34. ^ Alfred Sidney Johnson, Clarence A. Bickford, William W. Hudson, Nathan Haskell Dole, The Cyclopedic review of current history, Tập 1, trang 331
  35. ^ A. Hamish Ion, Keith Neilson, Elite Military Formations in War and Peace, trang 24
  36. ^ Virginia Military Institute, American Military Institute, George C. Marshall Foundation, Society for Military History (U.S.), The Journal of military history, Tập 60, trang 476
  37. ^ Michael Detlef Krause, R. Cody Phillips, Historical Perspectives of the Operational Art, trang 113
  38. ^ Robert Michael Citino, Blitzkrieg to Desert Storm: the evolution of operational warfa re, trang 15
  39. ^ Christopher M. Clark, Iron Kingdom: The Rise And Downfall of Prussia, 1600-1947, trang XVIII
  40. ^ Brison Dowling Gooch, Europe in the nineteenth century: a history, trang 419
  41. ^ Trevor Nevitt Dupuy, A genius for war: the German army and general staff, 1807-1945, các trang 84-89.
  42. ^ a b Williamson Murray, Richard Hart Sinnreich, James Lacey, Jim Lacey, The Shaping of Grand Strategy: Policy, Diplomacy, and War, trang 37
  43. ^ 07 Königgrätz Marsch
  44. ^ Martin Pütz (biên tập), Language Choices: Conditions, Constraints, and Consequences, trang 168
  45. ^ a b Larry H. Addington, The Patterns of War Since the Eighteenth Century, trang 97
  46. ^ a b Andrew Roberts (ed), Great Commanders of the Modern World: 1866-1975
  47. ^ a b c David G. Chandler, A Traveller's Guide to the Battlefields of Europe: Central and Eastern Europe, các trang 22-24.
  48. ^ Franz Hubmann, Andrew Wheatcroft, The Habsburg Empire: The World of the Austro-Hungarian Monarchy in Original Photographs, 1840-1916, trang 14
  49. ^ Larry H. Addington, The Patterns of War Since the Eighteenth Century, trang 94
  50. ^ Hagen Schulze, Deborah Lucas Schneider, Germany: A New History, trang 166
  51. ^ Lonnie Johnson, Introducing Austria: a guide of sorts, trang 36
  52. ^ Ian Westwell, Warfare in the 19th Century, trang 25
  53. ^ Spencer Tucker, Handbook of 19th century naval warfare, trang 133
  54. ^ Paul M. Kennedy, The rise and fall of the great powers: economic change and military conflict from 1500 to 2000, trang 260
  55. ^ David Raab, Battle of the Piave: Death of the Austro-Hungarian Army, 1918, trang 5
  56. ^ Encyclopaedia Britannica Volume 1, trang 478
  57. ^ George O. Kent, Bismarck and His Times, trang 60
  58. ^ a b Walter Phelps Hall, William Stearns Davis, The course of Europe since Waterloo, trang VII
  59. ^ Isabel V. Hull, Absolute Destruction: Military Culture And the Practices of War in Imperial Germany, trang 111
  60. ^ a b Archer Jones, The Art of War in the Western World, trang 397
  61. ^ Geoffrey Bruun, Nineteenth-Century European Civilization, 1815-1914, trang 102.
  62. ^ a b Stanley Sandler, Ground Warfare: An International Encyclopedia, Tập 1, trang 471
  63. ^ Edmund Clingan, An Introduction to Modern Western Civilization, trang 133
  64. ^ a b William Leonard Langer, An encyclopedia of world history: ancient, medieval and modern, chronologically arranged, trang 731
  65. ^ a b c Joseph Howard Tyson, Hitler's Mentor: Dietrich Eckart, His Life, Times, & Milieu, trang 62
  66. ^ a b Siegfried Herrmann, Time and history, trang 13
  67. ^ Michael I. Handel, War, Strategy, and Intelligence, các trang 57, 91.
  68. ^ Veit Valentin, The German people: their history and civilization from the Holy Roman empire to the third reich, trang 468
  69. ^ a b c "The German empire, 1867-1914, and the unity movement"
  70. ^ a b Albert Seaton, Michael Youens, The Army of the German Empire, 1870-1888, trnag 11
  71. ^ John Stone, Military Strategy: The Politics and Technique of War, trang 45
  72. ^ Geoffrey Parker, The Cambridge History Of Warfare, các trang 241-243.
  73. ^ Richard Little, Michael Smith, Perspectives On World Politics, trang 97
  74. ^ Stanley Sandler, Ground Warfare: An International Encyclopedia, Tập 1, trang 320
  75. ^ Steven Beller, Francis Joseph, trang 91
  76. ^ Norman Davies, Europe: A History, trang 826
  77. ^ George V. Strong, Seedtime for Fascism: The Disintegration of Austrian Political Culture, 1867-1918, trang 33
  78. ^ Jack Holland, John Gawthrop, The Rough Guide to Berlin, trang 324
  79. ^ Bruce D. Porter, War and the Rise of the State, trang 209
  80. ^ Day Otis Kellogg, Thomas Spencer Baynes, William Robertson Smith, The Encyclopædia Britannica: A-ZYM, trang 503
  81. ^ David A. Welch, Justice and the Genesis of War, trang 245
  82. ^ Yves Charbit, Economic, Social and Demographic Thought in the XIXth Century: The Population Debate from Malthus to Marx, trang 79
  83. ^ ARCHIBALD FORBES, G. A. HENTY, MAJOR ARTHUR GRIFFITHS, Battles of the nineteenth century.
  84. ^ a b Radhey Shyam Chaurasia, History of Europe, các trang 265-274.
  85. ^ Mary Fulbrook, A Concise History of Germany, trang 127
  86. ^ "Dictionary of battles from the earliest date to the present time"
  87. ^ Gordon Alexander Craig, The Battle of Königgrätz: Prussia's Victory Over Austria, 1866, trang 79
  88. ^ MacGregor Knox, Williamson Murray, The Dynamics of Military Revolution, 1300-2050, các trang 109-110.
  89. ^ a b John Laffin, Jackboot : a history of the German soldier 1713-1945, trang 76

Đọc thêm[sửa]

Tọa độ: 50°13′B 15°50′Đ / 50,21°B 15,83°Đ / 50.21; 15.83

Liên kết ngoài[sửa]