Trận Mars-la-Tour

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trận Mars-La-Tour
Một phần của cuộc Chiến tranh Pháp-Đức
Johann Emil Hünten Heinrich XVII Prinz Reuß bei Mars-la-Tour 1870.jpg
Quân kỵ binh Phổ xung kích vào trận địa bộ binh Pháp, tranh vẽ của Emil Hünten.
.
Thời gian 16 tháng 8 năm 1870
Địa điểm Mars-la-Tour, Pháp
Kết quả Về chiến thuật: bất phân thắng bại
Về chiến lược: quân đội Phổ giành chiến thắng (chặn được đường rút của Tập đoàn quân Rhine về Verdun) [1][2]
Tham chiến
Vương quốc Phổ Phổ Pháp Pháp
Chỉ huy
Vương quốc Phổ Friedrich Karl
Vương quốc Phổ Constantin von Alvensleben
Vương quốc Phổ Konstantin von Voigts-Rhetz
Pháp François Achille Bazaine
Lực lượng
66.000 quân[3] 120.000[3]–135.000 quân[4]
Tổn thất
711 sĩ quan và 15.079 binh lính tử trận, bị thương và mất tích[3] 879 sĩ quan và 16.128 binh lính tử trận, bị thương và mất tích[3]
.

Trận Mars-la-Tour, còn được gọi là Trận Vionville, Trận Vionville–Mars-la-Tour hay trận Rezonville theo tên các ngôi làng nằm trên đường Metz-Verdun[4], là một trận đánh khốc liệt trong cuộc Chiến tranh Pháp-Đức, diễn ra gần thị trấn Mars-la-Tour trên mạn đông bắc nước Pháp vào ngày 16 tháng 8 năm 1870. Tại đây hai quân đoàn Phổ thuộc Tập đoàn quân số 2 dưới quyền Thân vương Friedrich Karl đã chạm trán phải toàn bộ 5 quân đoàn của Tập đoàn quân Rhine (Pháp) do Thống chế François A. Bazaine chỉ huy và cuối cùng buộc quân Pháp phải rút trở lại hướng Metz với thiệt hại nặng nề cho cả hai phe.[2][5]

Sau những thất bại mở màn của quân đội Pháp đầu tháng 8 năm 1870, cánh quân Bazaine phải rút về tập trung ở Metz, sau đó rút về thành cổ Verdun và đến Châlons-sur-Marne để hội quân với Thống chế MacMahon. Phải sau một tuần lễ trì trệ, Bazaine mới bắt đầu hành quân khỏi Metz vào ngày 14 tháng 8. Hôm sau, Tổng tham mưu trưởng Helmuth von Moltke điều Tập đoàn quân số 2 Phổ vượt sông Moselle nhằm cắt đường rút của Bazaine lên mạn bắc. Tưởng rằng quân tiền vệ Pháp đã gần đến sông Meuse, Friedrich Karl huy động bộ phận chủ lực của mình "truy kích" theo hướng tây, ngoại trừ Quân đoàn III dưới quyền Trung tướng Constantin von Alvensleben và Quân đoàn X dưới quyền Thượng tướng Bộ binh Konstantin von Voigts-Rhetz tiến lên phía bắc. Ngày 16 tháng 8, Alvensleben đã tiếp cận chủ lực quân Pháp và, do tin những gì mình thấy là cánh quân đoạn hậu của lực lượng Pháp đang triệt thoái, ông lập tức xua quân tấn công. Dù chiếm được Vionville và Flavigny, quân Phổ sớm bị chặn đứng và Alvensleben nhận ra rằng mình đã đối mặt với toàn bộ quân chủ lực Pháp.[5] Tuy vậy Bazaine và tướng sĩ dưới quyền không hề chớp lấy thời cơ để tập trung quân phản công xóa sổ Quân đoàn III Phổ.[2]

Quân kỵ binh hai bên đều mở những đợt xung phong dữ dội trong cả ngày hôm ấy và trận đánh đã trở thành một ngày vinh quang đối với kỵ binh Phổ. Buổi chiều, Voigts-Rhetz đưa Quân đoàn X vào tăng viện cho Alvensleben. Bộ Tư lệnh Sư đoàn 19 (Quân đoàn X) hạ lệnh tấn công cái mà họ tưởng là sườn nhưng thật ra là chính diện quân Pháp. Sư đoàn Grenier của Pháp đã bẻ gãy được cuộc tiến công này, nhưng phản công thất bại. Trong khoảng thời gian tới, pháo binh Phổ hình thành một trận tuyến dày đặc và thổi bay mọi đợt phản kích đơn lẻ của quân Pháp. Giao tranh tiếp diễn đến tối cho đến khi cả hai phe hầu như cạn sạch đạn dược. Mặc dù kết quả chiến thuật của trận chiến là bất phân thắng bại, quân Phổ đã cắt được con đường đến Verdun buộc Bazaine phải rút quân trở lại hướng đông.[2][6]

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 6 tháng 8 năm 1870, trong khi Tập đoàn quân số 3 Đức do Thái tử Friedrich Wilhelm chỉ huy đè bẹp Quân đoàn I Pháp dưới quyền Thống chế Mac-MahonFrœschwiller-Wœrth về hướng nam, các thành phần thuộc Tập đoàn quân số 1 và 2 Đức đánh thắng Quân đoàn II Pháp do Frossard chỉ huy ở Spicheren-Forbach trên mạn bắc. Hai thất bại mở màn này đã giáng một đòn nặng nề vào tinh thần chiến đấu của Tập đoàn quân Rhine do Hoàng đế Napoléon III trực tiếp chỉ huy và dẫn đến sự chia cắt hai bộ phận quân Pháp. Trước tình hình đó, vào ngày 7 tháng 8 năm 1870, Napoléon sai 3 quân đoàn I, V, VII rút về Châlons-sur-Marne để thành lập một tập đoàn quân mới do MacMahon trực tiếp chỉ huy, trong khi 5 quân đoàn chủ lực Tập đoàn quân Rhine gồm 5 quân đoàn tập kết tại Metz, trước khi rút về thành cổ Verdun trên sông Meuse và đến Châlons để hội quân với MacMahon. 5 ngày sau, Napoléon trao quyền tổng chỉ huy Tập đoàn quân Rhine cho Thống chế Bazaine, nguyên Tư lệnh Quân đoàn III.[7][8] Sau một tuần lễ thụ động, Bazaine bắt đầu rút quân qua sông Moselle để rời Metz đến Verdun vào ngày 14 tháng 8.[4]

Friedrich Karl qua nét vẽ của Emil Hünten, tranh sơn dầu trên vải bạt (1870).

Sau khi nhận định lại tình hình từ hai trận Frœschwiller vàSpicheren, Bộ Tổng Chỉ huy quân đội Phổ-Đức – đứng đầu là Thượng tướng Bộ binh Helmuth von Moltke – đã đề ra các kế hoạch quy định Tập đoàn quân số 3 sẽ tiếp tục truy đuổi cánh quân MacMahon và Tập đoàn quân số 1 do Thượng tướng Bộ binh Karl Friedrich von Steinmetz chỉ huy sẽ giữ chân Bazaine tại khu vực Metz, trong khi Tập đoàn quân số 2 do Thân vương Friedrich Karl chỉ huy sẽ lấy Tập đoàn quân số 1 làm trục xoay để tiến vào giữa hai tập đoàn quân Đức và vượt sông Moselle gần Pont-à-Mousson về phía nam Metz nhằm cô lập hoàn toàn Bazaine khỏi MacMahon trên mạn bắc. Buổi chiều ngày 14 tháng 8, Tập đoàn quân số 1 đã tiếp cận các lực lượng Pháp đóng giữ trên khu vực cao phía đông Metz. Quan sát thấy quân Pháp đang rút lui, hai quân đoàn I và VII của Phổ đã quyết định tấn công nhằm trì hoãn đối phương bằng mọi giá và giúp Tập đoàn quân số 2 tạo thế hợp vây theo dự kiến của Molke.[4][9][10] Quyết định này dẫn đến trận Borny-Colombey, nơi hai bên đánh bất phân thắng bại nhưng cuộc triệt thoái của Bazaine đã bị trì hoãn đáng kể. Hôm sau, Moltke ban đầu chưa cho phép Tập đoàn quân số 2 vượt sông Moselle để đề phòng quân Pháp phản công Tập đoàn quân số 1. Sau khi nắm được tiến độ triệt thoái lề mề của quân Pháp, vua Phổ là Wilhelm I sai Moltke điều Tập đoàn quân số 2 vượt sông Moselle rồi tiến về phía tây và cấp tốc lên phía bắc để khóa chặt con đường Metz-Verdun. Trên tinh thần "Sứ mệnh lệnh", Moltke giao cho Friedrich Karl toàn bộ quyền chỉ đạo hoạt động này.[2][4][8]

Cả Moltke và Friedrich Karl đều không được thông tin chính xác về tình hình quân Pháp. Quân kỵ binh tuần tiễu của lữ đoàn Redern đã thông báo với Bộ Chỉ huy Tập đoàn quân số 2 về sự hiện diện của sư đoàn kỵ binh Forton (Pháp) tại Vionville, nhưng không thể xác định đây là quân tiền vệ, hậu vệ hay lực lượng yểm trợ sườn của Bazaine. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Tập đoàn quân số 2 đặt giả định rằng quân tiền vệ của Bazaine đã gần đến sông Meuse và một đợt tấn công chóng vánh theo hướng bắc có lẽ sẽ đánh trúng sườn của các đội hình quân Pháp đang hành quân. Theo các mệnh lệnh của mình vào đêm ngày 15 tháng 8, Friedrich Karl huy động quân chủ lực Tập đoàn quân số 2 gồm các Quân đoàn Vệ binh, XII, IV, và IX, sau khi vượt sông Moselle, tiếp tục "truy kích" Bazaine về sông Meuse (thay vì đánh lên mạn bắc theo ý định thực tế của Moltke), trong khi Quân đoàn III di chuyển lên phía bắc theo hướng Vionville và Quân đoàn X di chuyển về phía tây bắc theo hướng Fresnes-en-Woëvre.[3][5] Trong ngày hôm ấy, sau khi đánh nhiều trận lẻ tẻ với quân kỵ binh Phổ, sư đoàn kỵ binh Forton đã rút về Vionville mà không hề thăm dò thực lực đối phương.[2]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ David J. A. Stone, First Reich: inside the German army during the war with France 1870-71, trang 102
  2. ^ a ă â b c d Geoffrey Wawro, The Franco-Prussian War: The German Conquest of France in 1870-1871, các trang 152-160.
  3. ^ a ă â b c Vionville. In: Meyers Konversations-Lexikon. 4. Auflage. Band 16, Bibliographisches Institut, Leipzig 1885–1892, S. 221.
  4. ^ a ă â b c Stephen Badsey, The Franco-Prussian War 1870-1871, các trang 41-42.
  5. ^ a ă â Michael Howard, The Franco-Prussian War: The German Invasion of France 1870–1871, trang 144-159.
  6. ^ Cem Duru, Comics Army German Empire, trang 17
  7. ^ David J. A. Stone, First Reich: inside the German army during the war with France 1870-71, trang 308
  8. ^ a ă Philipp Elliot-Wright, Gravelotte-St-Privat 1870: End of the Second Empire, Osprey Publishing, 18-06-2013. ISBN 1472804430.
  9. ^ "The three Germany's; glimpses into their history"
  10. ^ Stephen Bungay, The Art of Action: How Leaders Close the Gaps between Plans, Actions, and Results, trang 67

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Tọa độ: 49°06′11″B 5°52′21″Đ / 49,103095°B 5,872536°Đ / 49.103095; 5.872536

_