Trận Soor (1745)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trận chiến Soor (Sohr)
Một phần của cuộc Chiến tranh Schlesien lần thứ hai[1]Chiến tranh Kế vị Áo
Friedrich & Karl.jpg
Chân dung Friedrich II và Karl.
.
Thời gian 30 tháng 9 năm 1745
Địa điểm Khu vực Soor, Böhmen, nay thuộc Cộng hòa Séc
Kết quả Thắng lợi quyết định của Quân đội Phổ, giúp Friedrich Đại đế trực tiếp định đoạt cho chiến dịch và góp phần củng cố quyền kiểm soát tỉnh Schliesen cho Vương quốc Phổ.[1][2]
Tham chiến
 Phổ Cờ của Đế quốc La Mã Thần thánh Đế quốc Áo[3]
 Tuyển hầu quốc Sachsen
Chỉ huy
Cờ của Vương quốc Phổ Friedrich II (Đại đế) Cờ của Quân chủ Habsburg Vương công Karl Alexander xứ Lothringen
Lực lượng
18.000[4]–22.500 quân[5]
Theo đây: 22.500 quân Phổ (16.700 Bộ binh và 5.800 Kỵ binh) [6]
Khoảng 39.000[4]–41.000[7] quân
Theo đây: 40.200 quân Áo và Sachsen (23.500 Bộ binh, 12.700 Kỵ binh và 4.000 quân không chính quy) [6]
Tổn thất
Nguồn 1: 3.700 quân tử trận và bị thương, 300 quân bị bắt
Nguồn 2: 3.911 quân thương vong (trong số đó 856 quân tử trận) [8]
Nguồn 3: 900 quân tử trận, 2.700 quân bị thương [4]
Nguồn 4: Dưới 4.000 quân thương vong, trong số đó 850 quân tử trận [9]
Thêm: Trong số các Sĩ quan Phổ trận vong có Vương công Albrecht xứ Brunswick, em trai của Hoàng hậu nước Phổ [6]
Nguồn 1: 4.500 quân tử trận và bị thương, 3.000 quân bị bắt
Nguồn 2: 7.444 quân tử trận, bị thương và bị bắt [8]
Nguồn 3: 7.000 quân thương vong, trong số đó hơn 3.000 quân bị bắt, 22 hỏa pháo bị bỏ rơi[4]
Nguồn 5: Hơn 8.000 quân thương vong [10]
.

Trận Soor[Ghi chú 1], còn gọi là Trận chiến Sohr,[4] là một trận đánh trong cuộc Chiến tranh Kế vị Áo cùng với cuộc Chiến tranh Schliesen lần thứ hai, bùng nổ vào ngày 30 tháng 9 năm 1745.[1][10] Trong trận chiến này, lực lượng Quân đội Phổ do nhà vua Friedrich II (tức Friedrich Đại đế) đích thân thống lĩnh lại thêm một lần nữa đánh thắng Quân đội Đế quốc Áo và Quân đội Sachsen do Vương công Karl Alexander xứ Lothringen chỉ huy.[8][11][12] Chiến thắng vẻ vang của quân Phổ trong trận Soor được xem là một trận đánh thể hiện rõ ràng nhất lợi thế của một đoàn quân được trang bị và huấn luyện bài bản trong cuộc chiến tranh này, và được chính Friedrich II xem là trận đánh khốc liệt nhất trong bốn trận đánh của họ khi ấy.[13][14] Theo nhà sử học quân sự Jeremy Black, chiến thuật "đánh xiên" của Friedrich Đại đế đã mang lại chiến thắng cho ông trong trận đánh tại Soor, dù đây cũng có thể được xem là vận động bọc sườn.[11][15] Những thắng lợi quyết định và chấn vang của ông như trận chiến này cũng như trận đánh Hohenfriedberg trước đó đã góp phần cứu nguy cho ông khỏi tình thế bất lợi[16][17], đánh gục nước Áo thêm một lần nữa và khiến cho năm 1745 trở thành một năm tồi tệ cho nền quân sự của Áo[18][19], đồng thời cũng dẫn đến sự chấm dứt của cuộc Chiến tranh Schliesen lần thứ hai vào tháng 12 năm 1745, khẳng định quyền kiểm soát của ông đối với tỉnh Schliesen.[1][20] Ngoài ra, những chiến thắng rực rỡ[21] này cũng góp phần mở ra thời kỳ mà uy thế của Quân đội Phổ vượt trội Quân đội Áo.[22]

Sau khi đại phá quân Áo dưới quyền Karl trong trận Hohenfriedberg vào tháng 6 năm 1745, Friedrich Đại đế thân chinh dẫn quân vào xứ Böhmen theo kế hoạch ban đầu của ông.[2] Tình hình chiến sự ở đây trở nên bế tắc[4], khiến Quốc vương phải tổ chức triệt binh về tỉnh Schliesen. Do do sự bất cẩn của ông, quân đội ông bị rơi vào bẫy của đối phương ở Soor sau một cuộc hành quân về đêm của Karl, mà có nhẽ ông không còn đường nào chạy thoát.[23] Quân Áo chiếm lợi thế lớn về quân số, theo kiểu 2 chọi 1.[4][24] Tuy nhiên, Quốc vương đã hay được tin dữ[25] và tập hợp được quân lực[23] dưới hỏa lực khốc liệt của quân Áo, gây ngạc nhiên[26] và hoảng hốt cho đối phương.[4] Sự điềm tĩnh được ghi nhận là đáng ngạc nhiên của ông cùng với lòng dũng cảm và tinh thần kỷ cương cũng như sức chiến đấu mãnh liệt đến cấp độ Trung đoàn[26][27] của tam quân (với sự góp mặt của cả lực lượng Bộ binh lẫn Kỵ binh[25]) đã chuyển một thất bại chắc chắn thành một chiến thắng lẫy lừng của họ.[24][28] Sau cuộc hội chiến khốc liệt[13][27], một nỗ lực cuối cùng của Quân đội Áo nhằm xoay chuyển thế trận đã bị Quân đội Phổ đánh tan tành.[2] Quân Áo thất trận,[9] lâm vào hỗn loạn và phải tháo chạy về phía Tây Nam[4][29] lúc giữa ngày với thiệt hại gấp đôi quân Phổ, dù Friedrich Đại đế cũng phải chịu mất nhiều vật quý của ông như một chú chó mà ông yêu mến.[2][23] Trận thắng của Quân đội Phổ ở Soor là một trận chiến đắt gía cho cả hai phe, xét về tỷ lệ quân số tham chiến.[9] Dù ban đầu là một đòn giáng vào vinh quang cá nhân của vị vua nước Phổ do ông để quân tướng sa vào bẫy của đối phương,[23] chính cơn nguy khốn này đã khiến cho thiên tài quân sự của ông được thổ lộ và chiến thắng Soor đã tạo nên niềm tin vào một Friedrich Đại đế bất khả chiến bại – sự cương quyết của ông được xem là một nguyên nhân chiến thắng[24][28][30], trong khi Karl đau khổ do bị thảm bại.[31] Cuộc xoay chuyển thế trận của ông trong trận thắng vang dội tại Soor được xem là bạo dạn và khéo léo.[26] Dù sức chiến đấu tuyệt đối của quân sĩ dưới quyền ông cũng được xem là đã giúp cho ông thoát khỏi hiểm nguy và làm nên chiến thắng này[32][33] và chiến thắng Soor chưa thể khuất phục người Áo trong thời điểm này[9], khắp thế giới càng thêm ngưỡng mộ ông vì sự anh dũng của ông trong trận thắng ấy.[34]

Đại thắng tại Soor đã góp phần mang lại ngoại hiệu "Đại đế" cho ông.[35] Trong khi vặn dây cót cho thanh danh của Friedrich Đại đế trở nên huy hoàng đến mức không thể chối cãi[30][36] và rạng rỡ khắp châu Âu với tư cách là một nhà cầm quân tài năng, cuộc bại trận của người Áo tại Soor cũng góp phần dẫn đến những nỗ lực canh tân đầu tiên của Triều đình nhà Habsburg.[37][38] Thực chất, trận chiến tại Soor cũng là một trong số ít những trận đánh mà người Áo chủ động tấn công trong giai đoạn 1740 - 1763.[39] Với thắng lợi toàn diện tại Soor, nhà vua nước Phổ đã có thể trực tiếp định đoạt cho chiến dịch và ông triệt binh về tỉnh Schliesen,[2] trước khi một vị lão thần của ông lại giành chiến thắng trong trận Kesselsdorf vào tháng 12 năm 1745 và chiến tranh kết thúc với phần thắng thuộc về người Phổ - khi ấy Friedrich Đại đế với những thắng lợi như trận Hohenfriedberg và trận Soor đã trở nên nổi bật với tư cách là một vị Quốc vương kiêm Tổng tư lệnh quân đội.[20][40][41] Như thế, nhờ những thắng lợi vang dội của ông mà trận Soor là một thí dụ, vị vua nước Phổ đã đập tan nát hy vọng chiếm lại tỉnh Schliesen của người Áo.[42] Cũng phải nói, trong cả ba chiến thắng của Quân đội Phổ tại Hohenfriedberg, Soor và Kesselsdorf, lực lượng Kỵ binh Phổ vốn đã tái tổ chức đều đóng vai trò quan trọng cho người Phổ bảo đảm thắng lợi của mình;[24][43][44] và, vốn đã được lực lượng này định đoạt, đại thắng của người Phổ tại Soor được xem là một trong những trận chiến kinh điển của Kỵ binh thời thế kỷ 18.[23][45] Ngoài ra, theo nhận định của chính Friedrich Đại đế thì quân Phổ thắng trận ở Soor là nhờ có địa hình thuận lợi.[46] Thế nhưng, hai chiến thắng quyết định[47][48] tại Soor và Kesselsdorf cũng được xem là thành quả của những đợt công kích trực diện của lực lượng Bộ binh Phổ, mặc dù mục tiêu của họ là quân Bộ binh và Pháo binh đông mạnh - điều này khiến Friedrich Đại đế đánh giá rất cao quân Bộ binh của ông.[6][49]

Bối cảnh lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1740, Quốc vương Friedrich II của Phổ (tức Friedrich Đại đế) đã phát binh chinh phạt tỉnh Schlesien của Đế quốc Áo Habsburg, và giành chiến thắng trong các trận đánh tại MollwitzChotusitz trong cuộc Chiến tranh Schlesien lần thứ nhất (1740 - 1742). Vào năm 1744, ông lại khơi mào Chiến tranh Schlesien lần thứ hai, và sau khi cuộc viễn chinh vào xứ Böhmen thất bại, nhà vua thân hành kéo đại binh về tỉnh Schlesien và sau khi đánh lừa được đối phương,[6] ông cùng với đoàn quân hùng mạnh của mình đại phá liên quân Áo - Sachsen do Vương công Karl Alexander xứ Lothringen tại trận Hohenfriedberg vào ngày 4 tháng 6 năm 1745.[8][17] Mang ý nghĩa biểu tượng,[6] chiến thắng lẫy lừng này đã quét sạch quân Áo ra khỏi tỉnh Schlesien và khôi phục những hy vọng thắng lợi cho nước Phổ. Tuy nhiên, người Phổ vẫn chưa thể tái lập nền hòa bình. Quân đội Áo đã không bị tiêu diệt: họ trốn chạy vào Böhmen và bố phòng vững chắc ở đó.[28] Trong khi ấy, theo kế hoạch mà ông đã vạch ra từ trước trận chiến ở Hohenfriedberg, Friedrich Đại đế quyết định thân chinh truy đuổi quân Áo tới xứ Böhmen để triệt tiêu nguồn tiếp tế của họ càng nhiều càng tốt, và theo đó ngăn ngừa đối phương trú đông ở gần bên Schlesien thêm một lần nữa.[2] Như vậy, cuộc viễn chinh của ông vào Böhmen không hẳn là để cướp phá.[33] Và thế là, trong vòng ba tháng từ giữ tháng 7 cho đến giữa tháng 9 năm 1745, người Phổ đã tiến hành một vận động rất chậm theo chiều kim đồng hồ trong nội địa Böhmen.[8]

Trong lần tiến quân đầu tiên, nhà vua Friedrich Đại đế không hề vấp phải sự kháng trả nào và ông đã băng qua vùng thôn dã có chút gỗ và tròn trịa ở mạn Đông sông Elbe để quan sát các cứ điểm của quân Liên minh Áo - Sachsen. Theo nhà sử học quân sự người AnhChristopher Duffy, các căn cứ này kéo dài từ phía sau sông Adler đến thị trấn rộng lớn như không được bố phòng là Königrätz.[8] Còn theo nhà sử học nghệ thuật người ĐứcFranz Theodor Kugler, Karl đã thiết lập cứ điểm kiên cố Königingrätz.[2] Theo Duffy, một khi lực lượng Kỵ binh Phổ đã quân hành xuyên suốt những bãi cỏ đồng ruộng về phía Bắc sông Adler, Friedrich Đại đế chuyển đại quân của mình về phía Tây, và vào ngày 20 tháng 7 năm 1744, ông và binh tướng vượt qua hạ lưu sông Elbe bằng bốn cây cầu. Sau khi qua đến tận bên bờ kia, ông ngồi gọn lỏn trên cao nguyên thấp Chlum (sau là bãi chiến trường nơi quân Áo thất trận vào năm 1866 trong cuộc Chiến tranh Áo-Phổ), rồi vào ngày 24 tháng 8 năm đó ông rút quân ngược qua một quãng đường ngắn ngủi mà đến một bản doanh rộng lớn nằm kề bên dòng sông chảy từ Semonitz tới Jaromiersch.[8] Theo Kugler, cứ điểm của Quốc vương tại cả Chlumetz và Jaromiersch cũng kiên cố không kém cứ điểm của Vương công Karl. Tại Böhmen, không còn có gì khác ngoài những hình thức chiến tranh tầm thường giữa các lực lượng ngầm của hai phía, và một vài cuộc tiến công nhỏ nhoi nhằm vào các đoàn hộ vệ đã khiến cho mặt trận được "vui nhộn" hơn trong tình cảnh bế tắc và buồn tẻ của chiến sự.[2]

Quốc vương Friedrich II của Phổ (Friedrich Đại đế), nhờ có những trận thắng tại Soor, Hennersdorf và Kesselsdorf, đã củng cố quyền kiểm soát tỉnh Schlesien của ông.[50] Ông đã tạo nên được tiếng thơm lừng lẫy với tư cách là một nhà chỉ huy quân sự, truyền cảm đến cả Hoàng đế Pháp Napoléon về sau này.[51]

Đôi khi các binh sĩ có được cơ hội để bộc lộ bản tính khôi hài và độc đáo của mình, hoặc có thể, lòng dũng cảm của họ sẽ được thể hiện. Có thể kể đến, một lần, đạo quân Phổ đóng cứ tại Schmerschütz, dùng một mưu mẹo chiến tranh (ruse de guerre) đáng phục để đánh lừa lực lượng Pandour của Áo, để "xử đẹp" quân Pandour vì "tội" không ngừng tấn công các chiến hào. Một số người lính phóng lựu Phổ chế tạo một hình nhân bằng gỗ và cho hình nhân này mặc quân phục theo kiểu quân đội họ, và đặt nó ở một vị trí mà một đội quân cảnh từ "xa tít mù khơi" thường hay chiếm giữ. Sau đó, họ ẩn nấp vào một bụi cây và buộc những sợi dây thừng nhỏ và chân tay của người lính bằng gỗ kia rồi kéo dây cho nó cử động. Từ đằng xa, lính Pandour xác nhận sự vui tươi của người "lính gác" đó, và liền bắn "anh ta" cho đến khi người Phổ hất ngã "anh ta", và ồ ạt kéo tới để cướp bóc những thứ vật mà người "tử sĩ" đó dùng lúc "sinh thời". Thế nhưng, những người lính Phổ nấp sau bụi cây bất ngờ bắn tới tấp vào đội quân Pandour kia, trong khi những binh sĩ Pandour còn lại thì chạy bán sống bán chết, gây hoảng loạn cho các đồng đội của họ đến mức mà trong một khoảng thời gian nào đó có nhẽ họ sẽ không còn dám tấn công nữa. Ngoài ra trong thời gian này cũng có nhiều minh chứng cho lòng can trường. Do đó, một số Sĩ quan thuộc một Chi đội Áo, sau khi giao tranh với một Quân đoàn Phổ, đã nói với các Sĩ quan chỉ huy Quân đoàn kia:[2]

"Thưa các Ngài, thật vui thú khi phải chiến đấu với các Ngài; chúng ta luôn có thể học hỏi cái gì đó từ các Ngài".

Quân sĩ Phổ hồi đáp cũng tế nhị không kém, theo đó người Áo là thầy của họ và sở dĩ người Áo đã học hỏi được cách thức phòng thủ kiên cường là do họ thường hay tiến công mãnh liệt.[2] Duffy cho biết, lúc nào Karl cũng giữ một khoảng cách không nhỏ đối với người Phổ.[8]

Những bất trắc cho Friedrich Đại đế[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy nhiên, tình hình của quân Phổ dần dần trở nên bất lợi.[8] Nhà vua Friedrich Đại đế lại không có hệ thống tình báo chính xác trong cuộc chinh chiến này[13]. Giờ đây, ông cần phải hành động thận trọng hơn, và phải dự phòng chặt chẽ hơn trước những đợt tiến công không thể báo trước, do ông đã làm quân lực của ông bị suy giảm đáng kể bằng việc đem vài Chi đội đi chinh chiến ở nơi khác.[2] Cụ thể, quân Croatia và quân Khinh Kỵ binh Áo luôn luôn vây hãm doanh trại của Quân đội Phổ, như đường tiếp tế với Schlesien chỉ có thể được những Chi đội hùng mạnh phòng vệ.[8] Ngay sau khi Quân đội Phổ rời khỏi vùng Hạ Schliesen, quân Hungary bắt đầu ào ạ tràn vào vùng này mà không vấp phải sự kháng cự nào. Mãi cho đến khi Friedrich Đại đế nhận được hung tin: pháo đài Kosel đã thất thủ do sự "mưu phản" của một trong Sĩ quan của đồn binh tại đây, ông mới phái quân đến đấy và quân Phổ nhanh chóng chiếm lại Kosel, đồng thời quét sạch địch thủ ra khỏi tỉnh Schlesien. Chưa hết, Quốc vương còn phải tăng viện một Quân đoàn thứ hai cho đạo quân Phổ dưới quyền Vương công Leopold I xứ Anhalt-Dessau đang đóng cứ tại Halle, để đủ sức chống lại mọi cuộc tấn công mà quân Sachsen có thể phát động. Lúc này, bang Sachsen đã một lần nữa chuẩn bị cho chiến tranh, và trước mắt là mối đe dọa lớn nhất đối với Friedrich Đại đế. Vận động này khiến cho đại bộ phận quân Sachsen - hiện thời đang phụng sự cho quân Áo tại Böhmen - phải rút chạy.[2] Trong khi ấy, tại Böhmen trong một đêm, một nhóm "du kích" (thực chất chính là quân Croatia và Khinh kỵ binh Áo) gồm có 60 lính xâm nhập vùng ngoại ô Jaromiersch và còn tiến đánh ngôi nhà của viên Công sứ Vương quốc Pháp là Hầu tước Valori. Họ nhầm lẫn người thư ký của vị sứ thần này chính là ông vua Phổ vĩ đại, và Valori vẫn ở trong căn phòng của mình mà không được canh gác gì cả.[8]

Friedrich lấy cuộc phiêu lưu nhỏ nhoi này làm cười, nhưng kỳ thực là ô nhục khi để một chi đội địch tiếp cận được trung quân. Khái quát hóa về cách bảo quản của người Phổ, chúng ta có thể nói rằng không có quân đội nào được canh giữ khá là tồi tệ như vậy. Họ quá lo sợ người của họ đào ngũ cho nên họ cả gan không bố trí quân cảnh trên bất ky một quãng đường nào tại nơi này. Không hề có một cái trạm nào cách đại quân hơn 100 bước chân, và họ không hề cho người đi thám sát giữa một tiền đồn và một cái khác.

—Valori, 1820, I, các trang 244—245[8]

Nữ hoàng Maria Theresia của Áo là kình địch của nhà vua Friedrich II nước Phổ trong một thời gian lâu dài. Mối thù của họ đã bao trùm sự tiến triển của lịch sử châu Âu.[52]

Tuy gây bất lợi cho Quân đội Sachsen, trước tiên Friedrich Đại đế không tiến hành những biện pháp mạnh bạo đối với người Sachsen, với mong muốn có thể dàn xếp mọi chuyện một cách hợp lẽ. Do sự thay đổi chính phủ, Triều đình Anh Quốc chủ trương sắp đặt hòa bình. Và, vào ngày 22 tháng 9 năm 1745 một Thỏa ước được ký kết giữa Vương quốc Phổ và Vương quốc Anh tại xứ Hanover, theo đó vua nước Anh công nhận quyền kiểm soát tỉnh Schlesien của Friedrich Đại đế, và đồng thời hứa hẹn (nếu có thể) sẽ lôi kéo cả nước Áo lẫn Sachsen vào vòng đàm phán, nếu như vua nước Phổ hứa hẹn sẽ công nhận Franz Stephan, chồng của Nữ hoàng Maria Theresia của Áo, là Hoàng đế La Mã Thần thánh dân tộc Đức.[2] Nhưng thực chất, vị thế chính trị của Maria Theresia tại Đức đang rất tuyệt: dù không có sự ủng hộ của xứ Brandenburg dưới quyền Friedrich II, bà vẫn có thể tôn chồng mình lên làm Đức hoàng.[28] Vào ngày 30 tháng 9 năm 1745, Franz lên ngôi Hoàng đế Franz I tại Frankfurt, khi ấy không ai thèm đếm xỉa tới những phản kháng của Đại sứ Phổ. Tuy nhiên, ám khí của Maria Theresia - chìm đắm trong niềm tự hào về tổ tiên cũng như những ký ức lẫy lừng về các bậc tiên đế - nhất nhất không chịu quy theo một sự thỏa hiệp nào.[2] Bất chấp thảm bại tại Hohenfriedberg, bà vẫn rắp tâm chiến đấu.[28] Bà cho rằng, việc đàm phán với Friedrich II - một "tiểu vương" mà bà gán cho cái nhãn là "phản loạn", làm mất sỉ diện của bà, và công khai tuyên bố rằng bà sẵn sàng hy sinh áo quần của mình hơn là Schlesien. Tương tự, xứ Sachsen cũng có chút ít thiện chí với việc tái lập hòa bình. Quốc vương August III của Ba Lan, đồng thời là Tuyển hầu tước Sachsen, quyết tâm đem lại cho gia đình ông quyền thừa kế ngai vàng Ba Lan, và nghĩ rằng sự gia tăng thế lực của ông cũng như sự sáp nhập các lãnh thổ Sachsen với Ba Lan, thông qua một vài tỉnh của Phổ, là rất quan trọng để cho ông đạt được mục tiêu.[2]

Nhà vua Friedrich Đại đế cũng không dám tiến công cứ điểm kiên cố của quân đội Karl[28]. Về phần mình, Karl đã có thêm quân tiếp viện và một số tướng lĩnh hỗ trợ ông trong việc vạch ra các kế hoạch. Quân Áo kỳ thực là đã cố gắng thực hiện một số biện pháp tàn bạo hiếm thấy để tấn công quân Phổ, nhưng lòng dũng cảm của quân tướng Phổ đã làm tiêu tan điều ấy. Ngoài ra, doanh trại của nhà vua nước Phổ cũng rất vững mạnh nên Karl không thể tiến công và giành thắng lợi được. Thấy vậy, ông bèn chủ trương quan sát doanh trại của vua Phổ từ trại quân của ông trên đỉnh một ngọn đồi, và sai một vài viên tướng đi thám thính.[2] Theo lời kể của Friedrich Đại đế:[8]

Ta cắm trại trên ngọn đồi, và ngày nào Ta cũng có thể nhìn thấy đám tướng địch tới thám sát cứ điểm của Ta. Chúng quan sát người Phổ bằng những chiếc kính thiên văn khổng lồ, và cùng nhắc suy xét thận trọng – anh có thể nghĩ bọn chúng là những nhà thiên văn học.

—Friedrich Đại đế (trong Oeuvres, III, trang 131)

Sau đó, những vị tướng lĩnh ấy cũng chỉ ra về và hy vọng sẽ "tùy cơ ứng biến" trong tương lai[2]. Trong buổi sáng đầy sương mù ngày 18 tháng 9 năm 1745, Quân đội Phổ vượt lại qua bờ trái sông Elbe tại Jaromiersch và tiếp tục cuộc hành binh về phía Bắc của mình.[8] Kugler cho biết, Friedrich Đại đế tiếp tục cuộc hành quân về hướng Bắc của mình là để cắt hết lương thảo của quân Áo ở vùng đồi núi Böhmen nằm giữa vùng Hạ Schlesien và tỉnh Glatz, và thế là hoàn tất một đường vách ngăn nhằm bảo vệ tỉnh Schlesien trong mùa đông sắp tới trước mọi sự xâm lấn của đối phương.[2] Hai ngày sau, người Phổ trèo lên con đường dốc có nhiều cây cối, và đến được một cao nguyên nhấp nhô. Lúc này, khu rừng Königreich-Wald đã rơi về bên trái quân lực Phổ, và những cái cây cáng lò cùng với các cây loại tùng bách khổng lồ ở nơi này đã thể hiện cái đáng được gọi là một cái mép cho những cánh đồng đất đỏ rộng mở. Về phía trước, mặt đất lại nhô lên một chút trước khi nó lại phải nhường đường cho thung lũng rộng lớn Trautenau, và đằng trước đó lại thấy hiện lên bức trường thành mang màu xanh dương của những ngọn đồi gần kề. Theo Duffy, đây là nơi lý tưởng cho Friedrich Đại đế hạ trại lần cuối cùng trong chiến dịch quấy phá này, trước khi lực lượng Quân đội Phổ kéo tràn về Schlesien. Từ 'Doanh trại Staudenz' này, các đội quân cướp phá cũng như các đội hộ tống của quân Phổ phải đánh một trận không bao giờ hết với quân Croatia và lực lượng Khinh Kỵ binh Áo, nhưng Friedrich Đại đế bắt đầu tính đến chuyện trở về thành phố Potsdam lần đầu tiên. Tại Potsdam lúc ấy, cung điện Sanssouci còn đang được thi công xây dựng, và ông muốn được giám sát việc xây dựng cung điện này. Vào ngày 24 tháng 9 năm 1745, với niềm hy vọng tràn đầy, ông ngự bút thư gửi cho gia nhân là Michael Gabriel Fredersdorf:[6][8]

"Trẫm muốn tấm màn chắn lửa được dời tới Potsdam, cùng với cái bàn, hai pho tượng, và bốn bức tranh chân dung do Watteau vẽ mà Bá tước Rothenburg đã gửi đến Paris. Những thứ ấy đều phải được trưng bày tại căn phong của Trẫm cho đến khi Trẫm đến đấy. Nhất thời Trẫm bị nhiều gánh vác và nỗi đau giày xéo, nhưng Trẫm sẽ đẹp dạ khi gặp lại Knobelsdorff."

Friedrich, 1926, trang 51 (Hans Georg Wenzeslaus von Knobelsdorff là người kiến trúc sư xây dựng cung điện Sanssouci)

Kế hoạch của người Áo[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh vẽ Vương công Karl Alexander xứ Lothringen.

Xung quanh doanh trại của người Phổ là các dải đất hẹp. Có thể nói, trong suốt thời gian này, Friedrich Đại đế đã được một trong những khuyết điểm dai dẳng nhất của Quân đội Áo "yểm trợ" – đó là sự lề mề thường thấy của viên Tư lệnh của họ. Về khoản này, Karl "giúp đỡ" vị vua nước Phổ rất "tận tình" để cho ông có được cơ may: ban đầu Karl lưỡng lự trong vòng hơn 1 tuần trước khi lên đường xuất quân và sau đó thì lại quyết định dẫn dắt tam quân trong một cuộc hành quân bên sườn kéo dài 10 ngày chứ không giao đấu với đối phương. Có những "dịp" Quân đội Áo và Quân đội Phổ nhìn thấy lẫn nhau, do đó quân Áo có được thông tin đúng đắn về kích cỡ của địch thủ. Tuy nhiên, không có gì khiến cho họ nhanh chân hành động. Giai đoạn tháng 9 năm 1745 vạch ra rằng, trong nhiều trường hợp, nước Áo là kẻ thù tệ hại nhất của chính họ – điều này được thể hiện sống động hơn hẳn trong các chiến dịch khác của cuộc chiến.[13]

Tuy nhiên, người Áo đã chọn lựa tình thế thuận lợi hơn cho mình khi thời khác của trận đánh đã sắp đến[13]: họ cũng có những kế hoạch khác cho nhà vua Friedrich Đại đế.[8] Quân Áo chiếm cứ các dải đất hẹp xung quanh doanh trại của ông.[13] Đúng vào ngày 18 tháng 9 năm 1745, Vương công Karl theo dõi doanh trại của quân Phổ - vốn dĩ chỉ nắm về phía Tây làng Burkersdorf[13] - từ một đỉnh đồi, và ông nhận thấy khả năng để tổ chức đột kích. Không những rừng Königreich-Wald là bức rèm che không gì phá giỡ được cho cuộc hành quân xuyên qua hướng Tây doanh trại mà tiến về sườn trái, nhưng một cuộc tiến công mãnh liệt mà ngắn gọn từ hàng cây xanh sẽ đủ để cho quân Liên minh Áo - Sachsen lên được đến chóp của Graner-Koppe, một cái gò rộng rãi và bằng phẳng vốn đã "ngự trị" vùng đất rộng mở về phía Đông và Nam.[8] Quân Đồng minh đã vận động để áp đảo quân số Quân đội Phổ ở cả hai vị trí giao phong trong tương lai, để mà làm nên một phiên bản ngược cho thảm bại trước kia trong trận đáng tại Hohenfriedberg.[13][30] Mặc dù Thống chế Áo là Vương công Lobkowitz đã phản kháng việc tổ chức tấn công: địa hình không phù hợp với Bộ binh; quân Phổ có Bộ binh hùng mạnh và sẽ phát động phản kích, Karl vẫn truyền lệnh cho ba quân xuất kích bất chấp sự lo ngại của ông về những gì mà Lobkowitz đã nêu ra.[53] Thông qua một sai lầm khủng khiếp về phía Friedrich Đại đế, cánh phải của doanh trại của ông tại Staudenz định giới hạn ở một khoảng trống ẩm ướt cách ngọn đồi chưa đầy 1.000 bước chân.[8] Ngoài ra, sự thắt chặt Liên minh Áo - Sachsen đã khiến cho Karl có lợi thế để tổ chức tiến công, lần này thì với mục tiêu là đánh đuổi quân Phổ ra khỏi xứ Böhmen và đánh tràn vào Schlesien. Song, do người Sachsen giờ đây sẽ phát động một cuộc tập kích độc lập vào chính xứ Brandenburg, tiến về hướng Bắc từ Leipzig cho đến kinh đô Berlin của Phổ, người Áo và Sachsen tin chắc rằng Friedrich Đại đế sẽ phải chia rẽ binh lực của mình, và đẩy tất cả những đạo quân của ông vào tình thế thiếu thốn quân sĩ trong tác chiến.[13]

Theo tác giả Reed S. Browning của cuốn The War of the Austrian Succession, kế hoạch của quân Áo và quân Sachsen là hợp lý. Quân số của liên quân Áo - Sachsen chắc hẳn sẽ áp đảo Quân đội Phổ. Đã tính chuyện vây khốn đối phương rồi thì quân Áo và quân Sachsen cũng mở màn giao phong hạn chế.[13] Trong cả ngày 29 tháng 9 năm 1745 và những giờ phút ban đầu của đêm hôm đó, một cách khó khăn[8], quân Đồng minh Áo - Sachsen (gồm một nhóm lính không chính quy[13]) vượt qua những cái đồi chứa gỗ của rừng Königreich-Wald xung quanh cánh phải của doanh trại của vua Phổ,[6] và bắt đầu tiến vào bãi đất trống xuyên suốt một mặt trận rộng mở.[13] Đồng thời, Duffy cho biết, quân chủ lực Đồng minh được dàn ra về hướng Nam của cái gò Graner-Koppe[8] (theo Browning là về phía Tây Burkersdorf[13]), nhưng bản thân cái gò này đã bị tắc nghẽn vì ở đó tập trung đến 10 Tiểu đoàn Ngự Lâm quân, 15 Đại đội Lính phóng lựu, 30 Sư đoàn Thiết Kỵ binh và Long Kỵ binh, 15 Đại đội Lính mang súng cacbin tinh nhuệ và lính phóng lựu chiến đấu trên lưng ngựa, cùng với 16 khẩu trọng pháo chỉa mũi về doanh trại của Quân đội Phổ ở hướng Đông. Chẳng qua là do sương mù dày đặc và một số sự sắp đặt lại dọc theo 6.000 bước chân trên trận tuyến, đã khiến cho lực lượng Đồng minh không thể nào tấn công vào đầu ngày 30 tháng 9 năm 1745.[8] Nhưng dù sao đây nữa thì quân Áo cũng đang làm chủ tình hình. Quân chủ lực của họ đã sẵn sàng tiến quân và nã đạn. Không những có quân số đông đảo hơn hẳn đối phương mà họ còn được cung cấp lương thảo đầy đủ, và họ chuyển động giữa những lùm cây do đó quân Phổ không thể nào nắm bắt các hoạt động của họ.[13]

Trận chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Với quân số ít ỏi hơn, Friedrich Đại đế đã giành chiến thắng vinh quang trong trận Hohenfriedberg vào năm 1745. Tiếp theo đó là trận Soor với kết quả tương tự.[54]

Trong khi ấy, lực lượng Quân đội Phổ bị "vây khốn" trong "màn sương mù tinh thần", phát sinh từ việc họ không thể hiểu gì về những thứ xung quanh họ và cũng là từ việc Friedrich Đại đế không thể nắm bắt quyết định của người Áo. Trong thời gian này, ông không có suy nghĩ gì lớn lao hơn việc dàn xếp cho sự khởi đầu yên lành của một cuộc tiến quân từ doanh trại Staudenz cho đến Trautenau vào lúc 10 giờ sáng. Và, vốn dĩ trong quá trình đóng quân ở làng Staudenz, để chiếm giữ các sườn núi, ông một lần nữa phải phân tán nhiều Quân đoàn, do đó quân số của quân đội ông bị quân Áo áp đảo rất lớn.[2][8][30]

  • Theo nhà sử học Christopher Duffy trong cuốn tiểu sử Frederick the Great: A Military Life thì nhà vua nước Phổ chỉ có 22.000 quân.[8] Còn trong tác phẩm The army of Maria Theresa: The Armed Forces of Imperial Austria, 1740-1780, ông cho biết phía Áo trong trận đánh này có đến 41.000 quân.[7]
  • Theo Giáo sư Spencer Tucker – tác giả cuốn A global chronology of conflict: from the ancient world to the modern Middle East (Tập 2) thì vua nước Phổ có 18.000 quân trong khi Vương công Karl có đến 39.000 quân.[4] Nhà sử học Franz Kugler cũng ghi nhận con số tương tự cho quân đội của vua Phổ, nhưng theo ông, Karl có đến 4 vạn quân.[2]
  • Theo nhà sử học David G. Chandler (người Anh) thì Friedrich Đại đế thân chinh thống lĩnh 22.500 quân Phổ, đối địch với 39.300 quân Áo trong trận chiến Soor sắp tới.[5] Giáo sư Sử học Reed S. Browning cũng ghi chép rằng phía Phổ có 22.500 quân.[13] Tài liệu này cũng cho thấy con số tương tự của quân Phổ trong trận Soor, đồng thời cho biết quân Phổ gồm có 16.700 quân Bộ binh và 5.800 quân Kỵ binh. Cũng theo tài liệu này, quân Đồng minh Áo - Sachsen có đến 40.200 quân, trong số đó có 23.500 quân Bộ binh, 12.700 quân Kỵ binh cùng với 4.000 quân không chính quy,[6]

Trong tác phẩm Những nguyên tắc cơ bản (General-Principia) do ông khởi bút vào năm 1753, Friedrich Đại đế sẽ còn cảnh báo các vị Sĩ quan cấp cao không nên mắc phải sai lầm tương tự là phân rẽ lực lượng của mình.[8]

Quân Áo triển khai, quân Phổ xuất trận[sửa | sửa mã nguồn]

Buổi sáng sớm ngày 30 tháng 9 năm 1745 phủ sương mù, các Trung đoàn Áo và Sachsen chiếm cứ các ngọn đồi nhìn ra Burkersdorf trong khi quân Phổ đang đóng trại ở đằng sau ngôi làng đó[6]. Xem ra, thời tiết cũng "câu kết" với quân Áo, vì sương mù phủ nhanh xuyên suốt các khu rừng đã che chắn cho đoàn quân của Karl vốn đã hoàn thành cuộc hành binh lộn xộn của họ[25] và đang được triển khai đầy đủ. Một trong các Sĩ quan tùy tùng của Karl còn nói:[13]

Quân ta nắm giữ chúng, như thể là ở giữa một chiếc khăn mùi xoa.

—Karl Alexander

Tuy nhiên, theo cuốn tiểu sử Đại đế Friedrich II (Frederick the Great: the magnificent enigma) của nhà sử học quân sự Hoa Kỳ là Robert B. Asprey) thì vào lúc 4 giờ sáng hôm ấy, mặt trời đã mọc lên từ các ngọn đồi, Vương công Karl lại vẫn không thỏa mãn và ông mong muốn màn sương mù che khuất quân Phổ ở phía dưới đồi này sẽ tan bớt đi. Ông cũng hy vọng bộ phận chưa triển khai của quân ông sẽ hoàn tất sự vụ của mình. Cũng theo Asprey thì trong thời điểm ấy ông không thể nào chờ thêm. Cuộc tiến công sẽ được tổ chức từ bên trái. Và sau đó, Lobkowitz ra lệnh cho Kỵ binh xuất trận[53]. Vào lúc 5 giờ sáng ngày hôm ấy, nhà vua Friedrich Đại đế đang bàn luận với các võ tướng của ông về sự tiến triển của việc hành binh mà ông đã khởi động trong cuộc hội kiến lúc sáng sớm thì ông nhận được hung tin lần đầu tiên từ tay quân thám sát Phổ (theo Robert B. Asprey là một người phụ tá[53]): quân Đồng minh Áo - Sachsen đã hiện diện ở cánh phải của ông và quân Kỵ binh của ông cũng đang hoạt động[6][8][13].

Thừa lệnh vua,[53] một người đánh trống trong đội Vệ binh tại Tổng hành dinh của quân Phổ trình diễn bản quân hành ca (Generalmarsch) trên một cái trống lắc bé nhỏ, và Friedrich Đại đế cùng với vị lão tướng của ông là Vương công Leopold I xứ Anhalt-Dessau đều nhanh chóng[6] phi ngựa tới các tiền đồn để dò xét hiểm họa vốn đang đến với họ[8]. Ông nhận thấy rằng ông đang trong tình cảnh nguy khốn hơn hẳn những gì mà ông mường tưởng. Không những đã bày binh bố trận mà quân Áo còn tràn ngập trên những tuyến đường rút lui của ông, trong khi địa thế không hề thuận lợi cho ông lẩn tránh. Giờ đây, vị quân chủ một lần nữa phải tính toán dựa theo sự chậm rãi của quân Áo và phải bổ nhào vào đối phương bất chấp việc họ đã lập nên đội hình. Đối với ông, giải quyết duy nhất là, ông sẽ thân chinh dẫn dắt tam quân thực hiện cuộc tập kích lên dốc nhằm vào cứ điểm của địch thủ ở ngay phía trước ông. Nếu như quân sĩ Phổ chiếm lĩnh được các cao điểm, họ sẽ có thể đè bẹp một địch thủ khổng lồ nhưng bị phân rã:[13][30] Sau khi quân chủ lực của vị Quân vương hành binh về bãi đất ở hướng Đông và Đông Bắc gò Graner-Koppe, sau đó lại kéo nhau về mạn Tây của Burkersdorf và chiếm giữ được ngọn đồi; bộ phận còn lại của Quân đội Phổ sẽ xuất kích về bên trái và trực tiếp tiến công vào trung quân của đối phương (trận chiến sau này sẽ thể hiện ý muốn ấy của ông.[9] Có thể thấy, tuy vị thế của vua Phổ là bất lợi và ông không có đủ binh lực để chiếm giữ các vị trí trọng yếu, vị thế của quân Áo thực ra là cũng không có lợi gì, khiến cho họ không thể dốc hết toàn lực — Friedrich Đại đế đã tận dụng ngay điểm yếu ấy. Và thế là ông đã không hề triệt thoái như đối phương mộng tưởng, dù ông có thể là sẽ phải tiến trong một vị thế còn bất lợi hơn thế nữa.[2] Mà nói sao đi chăng nữa, giành lấy quyền chủ động luôn hay hơn là ngồi không trong một doanh trại bị hổng và chờ cho màn đêm buông xuống. Và, vị "tổ sư" của những chuyện không thể ngờ được đã chọn lựa một tình huống mà cả khí chất lẫn các chiến thuật đều làm chủ.[13]

Đồng thời, ông cũng phái lực lượng Khinh Kỵ binh tiến hành thám sát về phía Bắc[53]. Các vị chủ tướng Phổ đã đánh thức ba quân (vốn đang ngủ trong các lều trại của họ[53]) để lên đường xuất binh.[13] Trong mỗi Trung đoàn, những người đánh trống và thổi kèn đều gõ trống và cất tiếng huýt vang, khiến cho toàn bộ quân lực đều được báo động. Cùng lúc này, Hầu tước De Valori một lần nữa phải thán phục trước tinh thần chủ động của quân Phổ: mỗi Trung đoàn đều chuẩn bị nghênh chiến[6], các Tiểu đoànSư đoàn Kỵ binh Phổ đã dàn xếp đội hình ngăn nắp một cách dễ dàng mà không cần phải có bất kỳ một sự điều khiển nào của cấp cao.[8] Trong khi những người lính Kỵ binh đã thắng yên ngựa và thành lập các Sư đoàn Kỵ binh, những người lính Pháo binh cũng khởi động hỏa pháo của mình. Cái mùi cay sè của những que diêm cháy chậm bao trùm khắp cả không khí lúc sáng sớm.[53] Khi cùng với Vương công Leopold I thúc ngựa qua khoảng đất trống sương mù dày đặc và thăm dò tình hình ở các tiền đồn bên phải, nhà vua nước Phổ nghe tiếng pháo nổ của quân Áo. Pháo binh Áo bắn nã từ Graner-Koppe nhằm vào những người lính Khinh Kỵ binh của ông.[53] Lạ thay, trong suốt thời gian trước 8 giờ sáng, Vương công Karl không hề có những hoạt động gì dựa theo kế hoạch của ông.[13] Đại đế Friedrich II bắc ống nhòm theo dõi những ngọn đồi dưới ánh nắng mặt trời, xem xét những vận động xung quanh một mặt trận dài 2 dặm Anh (mile), thì thấy quân Áo vẫn còn đang triển khai chưa xong: ông chú ý quân Bộ binh đóng bên sườn Trọng Pháo binh, và nhìn thấy quân Kỵ binh Áo chẳng hề cử động trên đỉnh cao. Ông không có nhiều sự lựa chọn. Ông có thể tiến công, cố thủ hoặc là rút lui. Cái nào cũng bất tiện, nhưng ông phải có hành động gì đó trước khi đối phương lăn xả vào hàng ngũ mỏng manh của ông.[53]

Bản đồ Trận chiến Soor.

Ông trở về nơi đóng quân, và đại quân của ông đã sẵn sàng nhập trận vào lúc 6 giờ sáng trong khi đối phương chưa hề chuẩn bị cho trận đánh.[53] Sau khi được hình thành nhanh chóng, các đơn vị quân Phổ đã xuất hành khỏi doanh trại của họ từ bên phải.[8] Friedrich Đại đế truyền lệnh cho các đội hình hàng dọc (column) quay về bên phải, ở hướng Đông Nam của ngôi làng Burkersdorf, rồi sau đó tiến quân về hướng Bắc cho đến khi quân tiên phong của các đội hình hàng dọc kéo tới chân gò Graner-Koppe, giúp cho ông thiết lập trận tuyến song song với quân Liên minh Áo - Sachsen. Vị Quốc vương dự kiến sẽ đặt trung quân và quân cánh trái làm lực lượng trừ bị, và tập trung vào trung quân của ông, hay nói cách khác là cánh quân phía Bắc của ông trong khu vực có cái gò Graner-Koppe. Từ đây, ông hy vọng sẽ triệt tiêu mối hiểm họa rất lớn đến với đường tiếp tế của ông, trải dài từ Trautenau đến Schlesien. Như một "khúc dạo đầu", sự vận động này đã gần như là được hoàn tất khi màn sương tan biến vào khoảng 8 giờ sáng, tạo nên một cái ngày mùa thu nắng ấm.[8] Vốn trước kia, những Trung đoàn rẽ sang bên phải và lực lượng Kỵ binh ở cả hai cánh quân đã thực hiện thao duyệt trên những bãi đất cả triệu lần.[53]

Diễn biến của trận chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Gồm thâu hai cuộc tập kích đồng loạt của binh tướng Phổ,[13] trận chiến mở đầu với cuộc pháo kích của quân Áo - vốn đã hiện ra từ những đống gố che khuất họ[25] - vào quân cánh phải của Phổ (đây cũng chính là lực lượng dẫn đầu của Đại đế Friedrich II[9]), trong khi lực lượng này của quân Phổ đang tiến bước ở phía dưới gò Graner-Kopper.[8]

"Quân Kỵ binh của chúng ta đứng vững trước thử thách này với một thái độ điềm tĩnh mà nói chung phải đáng phục hơn hết khi anh nghĩ rằng đạn pháo của quân địch liên tiếp rơi vãi vào giữa các Sư đoàn, cứ mỗi lần thì lấy đi tám hoặc mười người Kỵ sĩ. Sau mọi cuộc công pháo, binh lính tự mình tập kết, che lấp các khoảng trống, vẫn cứ thế mà hành binh với thanh gươm trên tay họ" — theo Henckel von Donnersmarck, 1858, I, phần 1, các trang 127–128.[8]

Nhà sử học quân sự Hoa KỳTheodore Ayrault Dodge - tác giả cuốn Great Captains cũng cho biết quân Phổ di chuyển thành hơn 1 nửa vòng tròn dưới làn đạn pháo khốc liệt của đối phương trên khắp trận tuyến và có nhìn nhận như sau:[26]

"Thật lạ lùng khi có một quân đội dám làm chuyện như vậy trong thời gian đó ! Cuộc vận động được hoàn tất trong trật tự tuyệt hảo. Không một binh sĩ nào rời khỏi hàng ngũ trừ phi bị bắn hạ".

Franz Kugler còn viết rằng, dưới những cơn mưa đạn của lính phóng lựu Áo, đoàn quân Phổ vẫn chuyển động mà không có một ai chùn bước hoặc ngần ngại mà phải rời khỏi vị trí. Trong 15 phút, Friedrich Đại đế dong ngựa dưới làn đạn này, mà không hề bị thương. Một viên đạn suýt tí nữa thì trúng ông, nhưng nó sượt qua đầu con ngựa chiến của ông và con ngựa này lồng lên ngay trong khoảnh khắc ấy.[2] Những tử sĩ Phổ vẫn còn an nghỉ trên bãi chiến trường, trong khi các binh tướng còn sống sót đã tập kết lại và sẵn sàng tấn công.[53]

Ông trực tiếp chỉ huy quân Kỵ binh đi vòng qua hướng Bắc của gò này, nơi khiến cho họ tránh được khỏi những Sư đoàn Kỵ binh của quân Đồng minh và mở đường các cuộc tập kích trực diện của quân Bộ binh. Đội Hiến binh (Gens d'armes) và lực lượng Thiết Kỵ binh Buddenbrock thiết lập tuyến tấn công thứ nhất, và ba Trung đoàn nữa cùng với Sư đoàn Kỵ binh của Trung đoàn Vệ binh (Garde du Corps) cũng kéo tới để trợ chiến.[8] Lực lượng Kỵ binh Phổ được giao trọng trách quét sạch Kỵ binh đối phương để cho Bộ binh có thể tổ chức cuộc tập kích của mình[9]. Có điều là, người Áo vẫn cứ để cho người Phổ thực hiện cuộc vận động của họ mà không hề có lo ngại gì, và sự mở rộng trận tuyến nhanh chóng của vị nguyên thủ nước Phổ đã cứu vãn quân đội của ông khỏi nguy cơ bị quân đội đối phương bọc sườn.[2] Cho dù cuộc chuyển quân vòng qua bên phải gò Graner-Koppe đã khiến cho quân Phổ phần nào thoát[9] khỏi hỏa lực dồn dập của quân Pháo binh Đồng minh, nó lại đẩy các Sư đoàn Kỵ binh Phổ vào một thung lũng mà Đại đế Friedrich II gần như không hề hay biết. Thung lũng này "nằm canh giữ" con đường đến chiếc gò kia từ hướng Bắc. Trong hỗn loạn, chỉ cần thiếu tinh thần kỷ luật một chút xíu thôi là đoàn quân Phổ sẽ không thể chụm lại với nhau ở dưới đáy thung lũng, và nếu có chuyện ấy thì chỉ có mỗi nhưng cái miệng mạnh mẽ và to tiếng mới có thể đưa họ lên trên những chỗ dốc cao hơn. Theo nhận định của Christopher Duffy, "Những người Kỵ sĩ mãi từ thưở đó đã lấy làm kinh ngạc trước cái cách mà sự việc đã được hoàn thiện".[8] Thế rồi, dưới sự chỉ huy của vị dũng tướng Wilhelm Dietrich von Buddenbrock, trên lưng ngựa, quân Thiết Kỵ binh Phổ nhanh chóng tiến công trong khi quân Kỵ binh Áo lại theo dõi[53] và không thể nào phản công.[55] Theo Asprey, trước sức tiến công dữ dội của người Phổ, họ còn có suy nghĩ rằng ngọn đồi dốc này là không thể trèo được.[53] Theo miêu tả của nhà sử học người ScotlandThomas Carlyle, họ chỉ đáp trả bằng "một tràng đạn cacbin phì phèo".[55] Thực chất, quân Kỵ binh Phổ trong cuộc tiến công này phải chiến đấu với cái mà Buddenbrock nhớ là cuộc nổ súng kinh hoàng hơn cả, thế nhưng súng cacbin và súng lục của Áo đột nhiên trở nên bất lực. Dưới quyền ông, quân Kỵ binh cánh phải của Phổ đã tiếp cận và giao tranh ác liệt với quân Áo trong một cuộc hỗn chiến kéo dài tiếng đồng hồ. Ban đầu, không ai thắng nổi cuộc hỗn chiến này.[53]

Tuy thế nhưng, khi tuyến quân Phổ thứ hai ào ạt tràn vào chiến đấu giúp cho tuyến quân thứ nhất, quân Áo bắt đầu tan vỡ.[53] Quân Áo ở tuyến thứ nhất bị quân Thiết Kỵ binh Phổ đè bẹp và trở nên vô cùng hoảng loạn đến mức nháo nhào đổ dồn vào nhau và các tuyến của đội hậu binh Áo cũng hoàn toàn bị vỡ trận.[55] Trong cuộc chiến, Lobkowitz ra lệnh cho ba quân phải cố thủ. Ông tự tay bắn chết ba viên Sĩ quan vì tội "hèn hạ", nhưng bản thân ông cũng bị các binh sĩ dưới quyền của mình xô đẩy vào một cái hào.[53] Như vậy là, quân Phổ đã tiêu diệt được một bộ phận quan trọng mà đang được xem là lực lượng chiến đấu hữu hiệu nhất của người Áo.[13] Cho dầu quân Kỵ binh Áo - được triển khai ở phía sau Bộ binh - có quân số đông gấp đôi Kỵ binh Phổ và cái thung lũng đã dốc lại còn nhỏ nhoi kia đã gây khó khăn cho quân Kỵ binh Phổ phải chiến đấu trên vùng núi đồi, họ đã hoàn thành nhiệm vụ được giao và Kỵ binh Áo thua lớn phải rút lui vào rừng Königsreichwald để mà ẩn náu.[9] 27 trong số 45 Sư đoàn Áo đã bỏ chạy theo kiểu tiếp cận với lực lượng Bộ binh, và một số Sư đoàn Kỵ binh Phổ truy đuổi họ, phần còn lại của quân Kỵ binh Phổ thì lâm vào tầm đạn của quân Áo đang bắn trả. Các Sư đoàn Kỵ binh Phổ thúc nhau tới che khuất để bảo hộ các khu rừng. Họ bị tổn thương. Hai viên Đại tá trận vong, và Buddenbrock thúc giục phần còn lại của họ trở về với trật tự. Nhưng họ hãy còn chiến đấu.[53] Nhưng rồi, cuối cùng thì cả thảy 50 Sư đoàn Kỵ binh Áo đều hoàn toàn rời bỏ trận chiến.[55]

Và cũng trong thời điểm chuyển động của quân Kỵ binh cánh phải của Phổ, Graner-Koppe đã chuẩn bị rơi vào những cuộc tập kích trực diện của quân cánh phải của Bộ binh Phổ. Theo lời kể của Duffy, tuyến quân đầu tiên được thiết lập từ một vài binh sĩ tinh nhuệ nhất mà Quân đội Phổ có được, gồm thâu ba Tiểu đoàn Lính phóng lựu, ngoài ra còn có thêm ba Trung đoàn hùng hậu của Anhalt (3) - một đội quân đã từng được hình thành dưới sự chứng giám của Vương công Leopold I xứ Anhalt-Dessau, hay còn gọi là "Người Dessau Lớn".[8] Asprey cũng kể rằng lực lượng tấn công này bao gồm sáu Tiểu đoàn của hai vị tướng Phổ là Adam von Jeetze và Peter von Blanckensee.[53] Lúc quân Kỵ binh Áo thua trận, con đường đã rộng mở cho quân Bộ binh Phổ xuất hành.[9] Lực lượng này được giao trọng trách là phải tổ chức hành binh qua bãi đất rộng mở có chiều dài tầm cỡ 6.000 bước chân hoặc là 500 thước Anh (iat), cho tới khi tiếp cận quân Bộ binh Áo cùng với những cái họng súng của Pháo binh Áo - "Chưa bao giờ chúng ta đã phải trải qua một cuộc pháo kịch kinh hoàng hơn như vậy". Quân Phổ ở mọi hàng ngũ đều chịu thiệt hại nặng nề. Vương công Albert xứ Brunswick – người em trai trẻ tuổi của vị Hoàng hậu vợ Đại đế Friedrich II, đã trúng đạn và hy sinh ngay phía trước những người lính phóng lựu, và Tiểu đoàn của Wedel (15/18), vốn đã bị hư hại nghiêm trọng hồi năm 1744, giờ đây mất đến 3/4 quân thiện chiến của mình. Cuối cùng, cuộc tiến công này chấm dứt với thất bại khi quân Phổ - tuy rằng đã chiến đấu dũng cảm - bị năm Đại đội của lính phóng lựu Áo đánh lùi khi còn có 150 bước chân nữa. Những người lính phóng lựu Áo này đã dấy lên từ gò Graner-Koppe và hô vang: "Maria Theresia vạn tuế".[8][9] Những người lính Phổ đã nổ những phát súng hỏa mai an ủi, tuy nhiên những phát súng này đều vô ích do quân số ít ỏi của họ.[53]

Công tước Ferdinand xứ Brunswick sau này được xem là một trong những vị tướng tài giỏi nhất của Đại đế Friedrich II trong cuộc Chiến tranh Bảy năm.[56]

Theo nhận định của nhà sử quân sự người Anh là Ngài David William Fraser, cuộc tiến công khốc liệt có thể được xem là một trong những hoạt động quân sự mà cái giá của máu trở nên đắt đỏ đến mức kinh khủng lại có được lợi ích ở cấp độ chiến dịch – điều này đã biện minh cho cái giá mà cuộc tấn công phải trả vì mạng sống của nhiều binh tướng khác của quân Phổ cuối cùng đã được cứu thoát do chiến thắng. Fraser cũng gợi cho người đọc nhớ đến cuộc tập kích của Tổng tư lệnh các lực lượng AnhMarlborough trong trận Schellenberg trước khi trận Höchstädt lần thứ hai bùng nổ.[9] Đại tá Nam tước Anton Beneda - viên chỉ huy của năm Đại đội Lính phóng lựu Áo ở phía dưới sườn đồi đó - đã nhận ra những khuyết điểm của các binh sĩ dưới quyền mình, tuy nhiên họ lại tỏ ra nhiệt huyết hơn ông hẳn. Quân Phổ dừng chân lại và sau đó họ triệt thoái. Viên Đại tá quả cảm Wedel, người mà Đại đế Friedrich II mệnh danh là "Leonidas trên sông Elbe" giờ đây đã ngã xuống hy sinh. Nhà vua nước Phổ quan sát tình hình. Ông chờ đợi năm Tiểu đoàn của Fouqué và Bonin ở tuyến quân thứ hai nhập trận. Nếu như người Áo phản công, mọi thứ sẽ được giải quyết êm thấm. Có điều là thất bại trước đó của Kỵ binh đã gây hoang mang cho quân Áo. Cả Kỵ binh lẫn Bộ binh đều không kéo tới yểm trợ cho Beneda (tới khi họ đến thì đã qúa muộn).[53] Sau đó (chỉ trong vòng vài phút[9]), Đại đế Friedrich II xuống lệnh cho năm Tiểu đoàn thuộc tuyến quân thứ hai của ông xuất chiến, và gánh nặng trong ngày này giờ đây được trao cho Trung đoàn Lính phóng lựu Geist (13/37) và hai Trung đoàn Ngự Lâm quân – đó là Trung đoàn Blanckensee (23) đến từ kinh thành Berlin, và đội quân người tỉnh Pommern của La Mottre (17). Những binh sĩ của La Mottre này có nguồn gốc từ xung quanh vùng Cöslin, và vị vua nước Phổ có thành kiến về họ như là những người Đức "hạ lưu" có thái độ hành xử lỗ mãn nhất. Ông đã từng nói:[8]

"Các Người là những con lợn, và khi Trẫm tiến vào doanh trại của các Người thì mùi hôi tối bốc lên đến tận trời cao. Các Người nhất thiết phải giành toàn bộ thời gian của các Người cho việc ăn và ngồi." (dẫn theo Anon., 17881789, II, các trang 23–24.)

Như Fraser cho biết, cũng giống như Marlborough, vị Quốc vương nước Phổ nhận thấy rằng ông cần phải dốc thêm nhiều quân lực nữa vào nhập trận khi những Tiểu đoàn dẫn đầu đã hứng chịu thiệt hại nặng nề và thất bại.[9] Sự đổ vỡ của tuyến quân Phổ thứ nhất đã lan truyền sang những khoảng cách của họ với tuyến quân thứ hai và tuyến quân thứ nhất này cũng bắt đầu tập kết lại ở đằng sau đại quân, và nhờ đó Đại đế Friedrich II một lần nữa thâu tóm được một đội hậu quân bao gồm 11 Tiểu đoàn. Theo ghi chép của Asprey thì khi quân Phổ ở tuyến thứ hai tấn công, chính Vương công Leopold I là người đã hạ lệnh cho tuyến quân thứ nhất tháo dỡ các bao đạn dược của mình và tập trận lại. Hỏa lực của lực lượng Pháo binh Áo đã bị những người lính phóng lựu của họ che khuất (nguyên là do năm Đại đội Lính phóng lựu kia và quân tiếp viện của họ ồ ạt kéo xuống ngọn đồi), và trong thời gian này quân Phổ tiến công dễ dàng hơn, trên toàn thể con đường dẫn tới Graner-Koppe[8][53]. Quân Phổ ở tuyến quân thứ hai mang những binh khí vác trên khai và đánh trống trên đường tiến công[53]. Trên khắp ngọn chóp, những người lính áo xanh và lính phóng lựu Áo trở thành một đống quân lẫn lộn tràn lan, để khiến cho người Phổ chớp lấy thời cơ lại chiếm giữ ngay cái khẩu đội pháo chết người kia.[8] Những người lính Pháo binh Áo phải trốn chạy[53]. Như thế là quân cánh phải của Phổ đã "xử đẹp" được khẩu đội pháo Áo đã khơi mào trận đánh này.[2] Sau một trận kịch chiến nảy lửa trên cao điểm, quân Áo của Beneda bị kiệt quệ và quân Phổ với lưỡi lê của mình đã giành thắng lợi và đánh bật quân Áo ra khỏi cao điểm này. Bị thua tan nát, lực lượng Bộ binh Áo phải ẩn náu trong khu rừng nằm ở phía sau họ.[13][53] Điều đó có nghĩa là đặc điểm nổi bật của cuộc chiến tại Soor đã nằm trong tay binh tướng Phổ.[9]

Trong khi hai bên còn đang giằng co trên gò Graner-Koppe, những Tiểu đoàn của trung quân và quân cánh trái Phổ, cho dù từng được Đại đế Friedrich II dự tính là quân trừ bị chưa nên tung ra xa trường (chừng nào mà ông chiếm lĩnh được Graner-Koppe thì ông mới cho phép lực lượng này xuất chiến), thay vì đó lại ồ ạt tiến bước dữ dội trên một mặt trận rộng mở. Có nhẽ là họ đã nhầm lẫn quân lệnh được ban bố cho Tiểu đoàn thứ hai của Trung đoàn Kalckstein (25) – một Trung đoàn được giao trọng trách "dọn dẹp" ngôi làng Burkersdorf. Cuộc tấn công tự ý này đã lâm vào nguy cơ bị sa đà khi vấp phải một Khẩu đội pháo hùng mạnh của quân Áo, về hướng Tây - Tây - Nam của làng, cho đến khi Công tước Ferdinand xứ Brunswick (cũng là một người em vợ của nhà vua nước Phổ và là người đã giành chiến thắng trong trận Minden sau này) nhảy khỏi lưng con ngựa chiến của ông, ra lệnh cho các binh sĩ không nên nã đạn lung tung và dẫn đầu Tiểu đoàn thứ hai của Trung đoàn Vệ binh (Garde) Phổ cùng với các đơn vị khác xông lên tấn công quân Áo như vũ bão bằng lưỡi lê. Đạn pháo của quân Áo không thể nào ngăn cản nổi bước tiến của quân Phổ. Quân Phổ đã gần như có thể đẩy lùi 14 Tiểu đoàn của Áo từ các cao điểm về phía Tây Nam Burkersdorf. và chọc thủng đội trung quân của đối phương. Trong trận thắng của Trung đoàn Vệ binh Phổ tái chiếm con đường dốc bị quân Áo chiếm cứ ở giữa cuộc giao tranh trong cuộc tiến công này của quân Phổ, số phận đã khiến cho hai anh em đối đầu lẫn nhau trong một cuộc giao phong để đời: Công tước Ludwig Ernst xứ Brunswick thống lĩnh quân Áo ở vị trí này, trong khi em trai của ông chính là Ferdinand chỉ huy lực lượng Vệ binh Phổ, và đây được xem là lần đầu tiên Ferdinand đã thể hiện chủ nghĩa anh hùng của ông mà về sau này ông đã bộc lộ rất xuất sắc.[2][8][9][53]

Trong cuộc thất trận trước các Tiểu đoàn của Ferdinand, quân Áo phải hứng chịu tổn thất to lớn.[9] Vào khoảng 11 giờ trưa hôm ấy, quân Áo đã rút chạy sao giao tranh vẫn tiếp diễn khi các đơn vị này tháo lui về những khu rừng ở phía Bắc. Nhưng, quân Phổ ở cánh trái đang đứng yên trong hiểm nguy. 36 Sư đoàn Kỵ binh Áo đang tiến lại gần 20 Sư đoàn Kỵ binh của Rochow. Song, quân Áo đã không tiến công. Lực lượng Kỹ binh đã bỏ chạy mà chưa đánh một trận nào. Rochow đã gây cho Bộ binh Áo ở cánh phải bị kẹp chặt giữa từ 3 đến 4 tuyến quân trên địa hình chật chội. Tại đây gần như là không có một trận đánh nào cả. Theo Asprey, chỉ riêng một Trung đoàn Thiết Kỵ binh Phổ đã bắt được 800 tù binh Áo.[53] Duffy cũng ghi nhận rằng Trung đoàn Thiết Kỵ binh của Bornstedt và Rochow đã bắt giữ 850 lính Bộ binh Áo.[8]

Vương công Karl không dám mạo hiểm gây nên cuộc hỗn chiến[27]. Không lâu sau buổi trưa, và sau năm tiếng đồng hồ chiến đấu, quân đội Áo đã trốn vào những khu rừng nơi họ đã khai mào trận đánh này, và lần này Đại đế Friedrich II định tiến hành truy kích, khác với cuộc đại thắng của ông tại Hohenfriedberg trước đó. Tuy nhiên, điều mà những người lính Phổ đang quan tâm là họ đã chuyển một thảm họa tiềm tàng thành một thắng lợi hiển hách, và do đó:[6][8][57]

"Quân Kỵ binh của Ta đã dừng chân không xa đội hậu binh của địch. Ta hối hả thúc giục và hô to: `Quân hành, Tiến lên, Lên đường đi ! (Marsch, vöwarts, drauf!)’. Tôi được họ tung hô là: `Người chiến thắng muôn năm ! (Vivat Victoria!)’ và một tràng dài những tiếng hò reo. Một lần nữa Ta kêu gọi: "Quân hành !" – và một lần nữa không ai muốn tiến bước. Ta bị mất bình tĩnh, Ta đã vung trượng và nắm đấm, và Ta đã chửi thề (và Ta nghĩ là Ta biết chửi rửa khi Ta nổi cơn thịnh nộ), nhưng Ta không thể làm gì để đưa những người lính Kỵ binh của Ta tiến thêm một bước nữa. Họ đã chìm đắm trong niềm hân hoan và không hề nghe thấy Ta." – Gr. Gstbt., 1895, III. 84

Đại đế Friedrich II đã chấm dứt cuộc truy kích của quân đội ông tại làng Soor, và trận thắng của ông đã được lấy tên theo ngôi làng này.[2]

Thương vong trong trận đánh[sửa | sửa mã nguồn]

Nhìn chung, diễn biến của trận Soor giản đơn hơn hẳn so với trận Hohenfriedberg trước đó. Đặc điểm chủ yếu của trận chiến này chỉ đơn thuần là một cuộc phản công quy mô lớn, tuy nhiên điều này không có nghĩa là trận Soor không khốc liệt và ngay cấn bằng trận đánh trước:[8]

  • Theo sử gia Christopher Duffy, toàn bộ thiệt hại của quân đồng minh là 7.444 người tử trận, bị thương hay bị bắt làm tù binh. Trong khi đó, thiệt hại của quân đội Phổ lên đến 3.911 người, trong số đó 859 người tử trận. So với tổn thất của quân Phổ trong trận Hohenfriedberg thì tổn thất của họ trong trận chiến này nhẹ hơn, nhưng nếu xét về tỷ lệ với quân số tham chiến thì tổn thất của họ tại Soor nặng nề hơn nhiều.[8]
  • Theo Spencer Tucker, phía Phổ thiệt hại 900 quân tử trận và 2.700 quân bị thương. Trong khi đó, quân đội Áo - Sachsen thiệt hại 7.000 quân, trong số đó hơn 3.000 quân bị bắt làm tù binh, và bỏ lại 22 khẩu pháo.[4]

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Theo nhìn nhận của Đại tá Brackenbury, tác giả cuốn tiểu sử Frederick the Great, rõ ràng là quân đội của Friedrich Đại đế đã bị choáng ngợp trong trận đánh này, và đáng nhẽ ra là phải thất trận. Người Áo đã lập một kế hoạch tốt, nhưng việc thực thi kế hoạch này không đủ mạnh. Brackenbury cho rằng, nếu như quân kỵ binh Áo ở cánh trái đã tiến công dữ dội hơn vào quân đội Phổ ở dưới đồi trong khi quân Phổ đang thay đổi đội hình dưới làn đạn của một khẩu đội pháo lớn, có nhẽ họ sẽ giành thắng lợi. Tuy nhiên, bản chất của người Áo là lập nên những kế hoạch hay, nhưng không có đủ năng lực thực hiện. Ngược lại, nhà vua nước Phổ đã đánh bất ngờ nhưng ông đã tức tốc nắm lấy quyền chủ động với thái độ quyết đoán. Thậm chí, ông đã không ngần ngại sai kỵ binh của mình tấn công lên đồi. Đây là một cuộc mạo hiểm, nhưng chí ít là một trong nhiều cuộc mạo hiểm đã trở thành một trong những truyền cảm mạnh mẽ đến trí óc của những vị tướng vĩ đại. Theo Brackenbury, người Áo đã hành động theo bản chất của họ và Friedrich đã hành động theo bản chất của ông, "và chúng ta sẽ thấy rằng trong những trận đánh tương lai của ông sức truyền cảm quân sự tương tự đã cứu thoát ông khỏi những cơn khốn cùng, mà đôi khi là do sai lầm của ông gây nên".[58]

Bản thân Friedrich thì khẳng định rằng, "trong số 4 trận đánh mà Ta đã tham chiến, trận này quyết liệt nhất".[8]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tuy rằng người ta thường trận chiến này là trận Soor cho thuận tiên, cuộc hội chiến thực chất là đã diễn ra ở gần làng Burkersdorf hơn. Quân đội Áo đã hành binh qua Soor để tiến chiếm các ngọn đồi xung quanh Burkersdorf. Xem chú thích trong sử liệu The War of the Austrian Succession của Giáo sư Reed S. Browning, trang 393.

Trích dẫn[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b J. H. Shennan, International Relations in Europe, 1689-1789, trang XI
  2. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư Franz Kugler, The pictorial history of Germany: during the reign of Frederick the Great: comprehending a complete history of the Silesian campaigns, and the seven years war, các trang 227-232.
  3. ^ 1911 Encyclopædia Britannica, entry National Flags: "The Austrian imperial standard has, on a yellow ground, the black double-headed eagle, on the breast and wings of which are imposed shields bearing the arms of the provinces of the empire. The flag is bordered all round, the border being composed of equal-sided triangles with their apices alternately inwards and outwards, those with their apices pointing inwards being alternately yellow and white, the others alternately scarlet and black." Also, Whitney Smith, Flags through the ages and across the world, McGraw-Hill, England, 1975 ISBN 0-07-059093-1, pp.114 - 119, "The imperial banner was a golden yellow cloth...bearing a black eagle...The double-headed eagle was finally established by Sigismund as regent...".
  4. ^ a ă â b c d đ e ê g h Spencer C. Tucker, A Global Chronology of Conflict: From the Ancient World to the Modern Middle East, trang 748
  5. ^ a ă Tất cả các số liệu của "Nguồn 1" trong phần "Tổn thất" lấy từ Chandler, The Art of Warfare in the Age of Marlborough, p.306. Theo nhà sử học quân sự Hoa Kỳ là Dennis E. Showalter thì thiệt hại của phía Áo bao gồm 7.500 quân.
  6. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l The Battle of Soor - The victory that rescued Frederick and his Prussian Army from ‘a fix’
  7. ^ a ă Christopher Duffy, The army of Maria Theresa: The Armed Forces of Imperial Austria, 1740-1780, trang 62
  8. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư v x y aa ab ac ad ae ag ah ai ak al am Christopher Duffy, Frederick the Great: A Military Life, các trang 60-71.
  9. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o David Fraser, Frederick the Great: King of Prussia, các trang 189-193.
  10. ^ a ă Tony Jaques, Dictionary of Battles and Sieges: P-Z, trang 961
  11. ^ a ă Jeremy Black, Cambridge Illustrated Atlas, Warfare: Renaissance to Revolution, 1492-1792, trang 119
  12. ^ Hajo Holborn, A History of Modern Germany: 1648-1840, Tập 1, trang 216
  13. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t Reed S. Browning, The War of the Austrian Succession, các trang 235-238.
  14. ^ George Peabody Gooch, Frederick the Great: the ruler, the writer, the man, trang 28
  15. ^ Jeremy Black, War in European History, 1660-1792, Potomac Books, Inc., 2009. ISBN 161234397X.
  16. ^ Philip G. Dwyer, The rise of Prussia, 1700-1830, trang 162
  17. ^ a ă Encyclopaedia Britannica, inc, The New Encyclopaedia Britannica, Tập 8; Tập 19, trang 535
  18. ^ Marshall Dill, Germany: A Modern History, trang 51
  19. ^ Stephen J. Lee, Aspects of European History, 1494-1789, trang 196
  20. ^ a ă Hamish M. Scott, The Emergence of the Eastern Powers, 1756-1775, trang 24
  21. ^ Peter Gay, Robert Kiefer Webb, Modern Europe, Tập 1, trang 392
  22. ^ Simon Millar, Kolin 1757: Frederick the Great's First Defeat, trang 18
  23. ^ a ă â b c Andrew Roberts (ed), Great Commanders of the Early Modern World: 1567-1865, Quercus, 2011. ISBN 1780873182.
  24. ^ a ă â b Theodor Schieder, Sabina Berkeley, Hamish M. Scott, Frederick the Great, trang 114
  25. ^ a ă â b Archer Jones, The Art of War in the Western World, trang 297
  26. ^ a ă â b Theodore Ayrault Dodge, Great Captains, trang 149
  27. ^ a ă â Dennis E. Showalter, The wars of Frederick the Great, trang 86
  28. ^ a ă â b c d Gerhard Ritter, Frederick the Great; a Historical Profile, trang 91
  29. ^ War of the Austrian Succession
  30. ^ a ă â b c H. W. Koch, A history of Prussia, các trang 113-114.
  31. ^ Robert B. Asprey, Frederick the Great: the magnificent enigma, trang 339
  32. ^ Frederick The Great: The First Modern Military Celebrity - bài viết của Dennis Showalter
  33. ^ a ă Robert A. Doughty, Warfare in the Western World: Military operations from 1600 to 1871, trang 82
  34. ^ William Hendry Stowell, The Eclectic review, Tập 25; Tập 89, trang 51
  35. ^ Encyclopædia Britannica: a new survey of universal knowledge, Tập 2, trang 852
  36. ^ Margaret Leland Goldsmith, Frederick the Great, trang 116
  37. ^ Bruce D. Porter, War and the Rise of the State, trang 111
  38. ^ Walter Louis Dorn, Competition for empire, 1740-1763, trang 157
  39. ^ John Childs, Armies and Warfare in Europe, 1648-1789, trang 128
  40. ^ Christopher M. Clark, Iron Kingdom: The Rise And Downfall of Prussia, 1600-1947, trang 194
  41. ^ Simon Millar, Kolin 1757: Frederick the Great's First Defeat, trang 9
  42. ^ Charles W. Ingrao, The Habsburg Monarchy, 1618-1815, trang 157
  43. ^ Christopher Duffy, Frederick the Great: A Military Life, trang 74
  44. ^ Jeremy Black, Tools of War, trang 80
  45. ^ Anthony J. Scotti, Brutal virtue: the myth and reality of Banastre Tarleton, trang 81
  46. ^ Karol Berger, Anthony Newcomb, Reinhold Brinkmann, Music and the aesthetics of modernity: essays, trang 28
  47. ^ Lauren S. Bahr, Bernard Johnston (M.A.), Collier's encyclopedia: with bibliography and index, Tập 5, trang 716
  48. ^ Joachim Whaley, Germany and the Holy Roman Empire: Volume II: The Peace of Westphalia to the Dissolution of the Reich, 1648-1806, trang 356
  49. ^ Jeremy Black, European Warfare in a Global Context, 1660-1815, trang 87
  50. ^ John Powell, Magill's Guide to Military History: A-Cor, trang 150
  51. ^ Germany Permits Itself to Celebrate Prussian King
  52. ^ Sam A. Mustafa, Germany in the Modern World: A New History, trang 70
  53. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư v Robert B. Asprey, Frederick the Great: the magnificent enigma, các trang 334-337.
  54. ^ Henry Malden, Distinguished men of modern times, Tập 3, trang 368
  55. ^ a ă â b Brent Nosworthy, The anatomy of victory: battle tactics, 1689-1763, trang 226
  56. ^ Ferdinand of Brunswick (d.1792)
  57. ^ Book 15. Second Silesian War, Important Episode In The General European One.--15th Aug. 1744-25th Dec. 1745 - Chapter 12. Battle Of Sohr
  58. ^ "Frederick the Great"

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]