Trận Đát La Tư

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Trận chiến Talas)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trận Talas
.
Thời gian tháng 5-tháng 9 năm 751
Địa điểm Talas, Kyrgyzstan[1]
Kết quả Nhà Abbas giành thắng lợi
Tham chiến
Nhà Abbas Nhà Đường
Người Cát La Lộc
Chỉ huy
Ziyad ibn Salih[2][3] Cao Tiên Chi
Lý Tự Nghiệp
Đoàn Tú Thực[2]
Lực lượng
Số lượng quận từ các Arab protectorates đã không được hai bên ghi chép nhưng theo ước tính của Trung Quốc số quân Ả Rập khoảng 200.000 người[4] 30,000 (10,000 troops of Chinese protectorate + 20,000 Karluk mercenaries who switched to the Arab side in the middle of the battle). All military units either infantry or cavalry was not indicated.[5]
.

Trận chiến Talas (tiếng Trung: 怛罗斯会战, Hán Việt: "Đát La Tư hội chiến"; tiếng Ả Rập: معركة نهر طلاس) vào năm 751 là một cuộc xung đột giữa triều đại Hồi giáo Abbasnhà Đường Trung Quốc giành quyền kiểm soát Syr Darya. Vào ngày 751, những người Abbasid bắt đầu một cuộc tấn công lớn chống lại Trung Quốc trên bờ sông Talas; 200.000 quân Hồi giáo (theo ước tính của Trung Quốc) gặp quân đội kết hợp từ 10.000 quân Nhà Đường Trung Quốc và 20.000 lính đánh thuê Karluk. Trong số 10.000 quân Đường, chỉ có 2.000 có thể trở về từ Talas để lãnh thổ của họ ở Trung Á.

Sự thất bại là do sự đào thoát của các lính đánh thuê Karluk và sự rút lui của những đồng minh Ferghana, những người ban đầu ủng hộ Trung Quốc. Các lực lượng Karluk bao gồm hai phần ba của quân đội nhà Đường, đã đào ngũ khỏi liên minh Trung Quốc và đổi sang phía Hồi giáo khi trận chiến đang diễn ra. Với việc quân Karluk tấn công quân đội nhà Đường từ phía sau và tấn công của quân Ả Rập từ phía trước, các binh sĩ nhà Đường đã không thể giữ các vị trí của họ. Các chỉ huy của các lực lượng nhà Đường, Cao Xianzhi, nhận ra rằng thất bại là sắp xảy ra và đã chạy thoát khỏi trận với một số chính quy của quân Đường với sự giúp đỡ của Li Siye. Mặc dù thua trận, Li đã gây tổn thất nặng nề về quân đội Ả Rập truy đuổi. Sau trận đánh, Gao đã chuẩn bị sẵn sàng để tổ chức quân đội khác của nhà Đường để chống lại người Ả Rập khi loạn An Sử nổ ra năm 755. Khi kinh đô nhà Đường đã bị quân nổi loạn chiếm giữ, tất cả quân đội Trung Quốc đóng quân ở Trung Á được lệnh trở lại Trung Nguyên để đè bẹp cuộc nổi loạn.

Vào cuối những năm 740, quân đội Trung Hoa làm chủ Kabul và những tỉnh Kashmir của ấn Độ. Nhưng những chiến dịch chiến thắng đã không thể kéo dài thêm nữa khi họ tiến đến khu vực sông Talas vào 751. Các cuộc xâm lược của Đạo hồi xuyên qua Ba Tư và Trung Á cùng với sự mở rộng về hướng tây của triều Đường dẫn tới chạm trán giữa những kẻ xâm lược, kết cục của nó là trận chiến sông Talas. Trận đánh duy nhất giữa đế quốc Ả Rập Hồi giáo và đế quốc Trung Hoa.

Chỉ huy quân Đường là Kao Hsien-chih, người đã thành công trong các trận chiến tại khu vực Gilgit và Ferghana. Các tín đồ Đạo Hồi được dẫn dắt bởi Ziyad ibn Salih, người đại biểu cho Abu Hồi giáo (những người Ba Tư chuyển sang Đạo hồi), với 40, 000 Ghazis ( những quân nhân bị mê hoặc bởi lời hứa của Đạo hồi về sự giàu có, phụ nữ hay tử vì đạo). Họ đến Trung Quốc để tiến hành một cuộc chiến chống lại người Trung Hoa. Khi quân đội Ả Rập tiến từ phía nam về phía sông Talas, Tổng quan Kao Trung Hoa đã quyết định tiến về phía Aulie- Ata trên sông Talas với mười vạn quân gồm kỵ binh và bộ binh.

Ngày 10 tháng bảy năm 751,hai quân đội gặp nhau tại Aulie-Ata (on the backs of the Talas river). Kỵ binh Trung Hoa thoạt tiên có vẻ chiếm ưu thế trước kỵ binh Ả Rập, nhưng người Ả Rập lại có được thoả thuận với một số đội quân Thổ trong hàng ngũ quân đội Trung Hoa: Qarluqs người Thổ nhĩ kỳ, bằng việc hứa cho họ sự giàu có và tự do để đổi lấy việc theo Đạo hồi và phản bội những người chủ Trung Hoa của họ.

Qarluqs có sẵn ý muốn chống lại người Trung hoa để thoát khỏi lệ thuộc, nhìn điều này như một cơ hội. Qarlugs sau đó giữ vai trò chính trong việc thuyết phục những bộ lạc Thổ nhĩ kỳ Seljuks theo Đạo Hồi. Trong lúc trận đánh đang diễn ra, Qarluqs đã mở một cửa mở trong phòng tuyến của mình và cho phép người Ả Rập lội qua chỗ cạn, giúp họ bao vây và tiêu diệt một phần quân đội Trung Hoa.

Các xạ thủ bắn cung của Qarluqs đã bao vây đoàn hậu quân, quân lương Trung Hoa cùng tổng quan quân đội Kao Trung Hoa và bắn hạ ông ta. Sau đó người Ả Rập bắt đầu tàn sát, chặt đầu kẻ thù và đem diễu hành trước quân địch. Người Trung Hoa không được chuẩn bị để đối đầu với chiến thuật chiến tranh rùng rợn như vậy, rơi vào sự hỗn loạn, không biết rằng đã bị phản bội. Họ đã chia nhau bỏ chạy khiến trung tâm thế trận rung chuyển, nhanh chóng bị các đợt tấn công của kỵ binh nặng Ả Rập phá vỡ. Như vậy nhờ mưu kế và tính tàn bạo kết hợp trong cuộc tấn công của người Ả Rập và kẻ phản bội Qarluqs, người Trung Hoa đã gặp một thất bại nặng nề. Từ mặt sau, Qarluqs cướp bóc tất cả những gì có thể và lui lại vào trong thảo nguyên.

Người Ả Rập bắt được khoảng mười ngàn tù binh Trung Hoa cùng Đồng minh, đưa họ về Samarqand và xa hơn nữa. Họ cũng khai thác các phát minh của Trung Hoa trong vây hãm thành trì, máy bắn đá,... những công cụ đã tỏ ra rất hữu ích khi họ tấn công các thành phố của người Byzantine sau này.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bai, pp. 210–19.
  2. ^ a b Bai, các trang. 224–25.
  3. ^ Bartold, các trang. 180–96.
  4. ^ The strength of Arabs is not recorded for this battle, but the armies to the east of Khorasan controlled by the Arabs later were estimated by the Chinese in 718 with 900,000 troops available to respond (Bai 2003, pp. 225–6).
  5. ^ Chinese regular exploited to the area of western protectorate from the Chinese heartland never exceed 30,000 between 692–726. However, the Tongdian (801 AD), the earliest narrative for battle itself by either side suggests 30,000 deaths, whereas the Tangshu (945 AD) accounted 20,000 (probably included mercenaries already) in this battle (Bai 2003, pp. 224–5). The earliest Arabic account for the battle itself from Al-Kamil fi al-Tarikh (1231 AD) suggests 100,000 troops (50,000 deaths and 20,000 prisoners), however Bartold considered them to be exaggerated (Xue 1998, các trang. 256–7; Bartold 1992, các trang. 195–6).