Trận hồ Masuren lần thứ hai

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trận chiến hồ Masuren lần thứ hai
Một phần của Mặt trận phía Đông trong Chiến tranh thế giới thứ nhất
Ostfront 18021915.jpg
Mặt trận phía Đông, 1718 tháng 2 năm 1915.
.
Thời gian 722 tháng 2 năm 1915
Địa điểm Đông Phổ, Đế quốc Đức (nay thuộc Ba Lan)
Kết quả Quân đội Đức giành thắng lợi chiến thuật quan trọng nhưng không có tầm vóc chiến lược lớn.[1][2][3][4] Tập đoàn quân số 10 của Nga gần như là bị tận diệt.[5][6]
Tham chiến
 Đế quốc Nga  Đế quốc Đức
Chỉ huy
Đế quốc Nga F. V. Sivers[2]
Đế quốc Nga P. A. Plahve [5]
Đế quốc Đức Paul von Hindenburg[2]
Đế quốc Đức Erich Ludendorff[7]
Đế quốc Đức Otto von Below[5]
Đế quốc Đức Hermann von Eichhorn[5]
Lực lượng
Đế quốc Nga Tập đoàn quân số 10 [5]
Đế quốc Nga Tập đoàn quân số 12 [5]
Đế quốc Đức Tập đoàn quân số 8 [5]
Đế quốc Đức Tập đoàn quân số 10 [5]
Tổn thất
Theo Tucker: 100.000 quân tử trận và 110.000 quân bị bắt, 300 hỏa pháo bị thu giữ (trong cuốn World War I: A - D., Tập 1)[2]; tổng thương vong: 200.000 quân (trong số đó 90.000 quân bị bắt, trong cuốn A global chronology of conflict: from the ancient world to the modern Middle East, Tập 2) [8]
Theo Meyer: Khoảng 56.000 quân thương vong, 85 hỏa pháo bị mất [7]
Theo Showalter: Trong số đó có một Tư lệnh Quân đoàn Nga và 55.000 quân bị bắt [9]
Nguồn 1: Thương vong tương đối thấp [2][10]
Nguồn 2: 60.000 quân thương vong [5]
.

Trận hồ Masuren lần thứ hai, đôi khi còn gọi là Trận đánh Mùa đông tại Masuren, là một trận đánh lớn trên Mặt trận phía Đông của cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất,[10][11] diễn ra từ ngày 7 cho đến ngày 22 tháng 2 năm 1915, giữa Quân đội Đế quốc ĐứcĐế quốc Nga[5]. Chiến dịch tấn công này đã được vị Tổng tư lệnh của Mặt trận phía Đông (Oberost) là Thống chế Paul von Hindenburg của Đức và Tham mưu trưởng của ông là Erich Ludendorff phát động về hướng Bắc nhằm vào quân Nga, để loại bỏ hoàn toàn quân Nga ra khỏi vòng chiến.[10][12] Chiến dịch tấn công này đã thất bại trong mục tiêu xóa sổ Quân đội Nga[2] nhưng Quân đội Đức giành thắng lợi chiến thuật lớn.[1] Sau chiến bại này, người Nga bị đánh đuổi hoàn toàn ra khỏi vùng Đông Phổ và không bao giờ tấn công đe dọa vùng này cũng như nước Đức nữa, đồng thời cũng không thể hồi phục.[13][14][15][16][17] Quân đội Đức đã tiến hành chiến dịch này trong điều kiện bão tuyết, song với những mục tiêu thích hợp họ đã giành được lợi thế và gây thiệt hại nặng nề cho người Nga[4][18] (trong số đó có rất nhiều người bị bắt làm tù binh[8][9][19][20]), trong khi bản thân họ chỉ chịu tổn thất tương đối nhẹ nhàng.[2][10]

Kế hoạch của người Đức giao nhiệm vụ tiến công quân Nga cho Tập đoàn quân số 8 và Tập đoàn quân số 10 của Đức. Người chỉ huy Tập đoàn quân số 10 của Nga không tin rằng quân Đức có thể tấn công trong thời tiết khó khăn, do đó quân Nga bị choáng ngợp[2] khi Tập đoàn quân số 8 của Đức đánh vào sườn trái của Tập đoàn quân số 10 của Nga[12] và giành thắng lợi.[4] Ngày hôm sau, Tập đoàn quân số 10 của Đức công kích đội hữu quân Nga và buộc quân Nga phải tháo lui trong một cuộc giao tranh ác liệt. Vào ngày 11 tháng 2 năm 1915, Quân đội Đức tiến đến Stallupönen[12], và vào ngày 14 tháng 2 năm ấy, họ tiến chiếm Lyck[2]. Quân Nga phải bỏ lại cả xe ngựa của mình.[4] Cho đến ngày 21 tháng 2 năm 1915, các đơn vị dẫn đầu của hai Tập đoàn quân số 8 và số 10 của Đức hội quân tại Lipsk, về hướng Nam rừng Augustów để hợp vây tàn binh Nga.[2] Tại khu rừng này, Quân đoàn XXI của Nga phải đầu hàng, nhưng cuộc kháng trả của họ đã tạo điều kiện cho ba Quân đoàn khác chạy thoát.[12] Tuy thế nhưng đây vẫn được xem là thắng lợi đỉnh cao của Quân đội Đức trong trận hồ Masuren lần hai và họ còn lấy được nhiều khẩu đại bác tại rừng này.[1] Vào ngày 22 tháng 2 năm 1915, Tập đoàn quân số 12 của Nga công kích đội hữu quân Đức, ngăn chặn bước tiến thêm nữa về phía Đông của người Đức.[2] Nhìn chung, quân Đức đã gần như là triệu tiêu Tập đoàn quân số 10 của quân Nga,[9] giành chiến thắng khá lớn trong trận chiến này[21] và đánh bật quân Nga đến 70 dặm Anh.[8][22] Quân đội của Hindenburg vốn đã kiệt quệ[1] và họ tiến hành phòng ngự sau khi đã giữ được chỗ đứng trên lãnh thổ Đế quốc Nga chiến thắng quan trọng này.[7][22][23]

Với chiến thắng của Quân đội Đức cũng như tình hình bế tắc theo sau trận hồ Masure lần thứ hai[24] cả nước Nga Sa hoàng lẫn nước Đức dưới binh quyền của Erich von Falkenhayn đều được tồn tại lâu hơn.[1] Ở phía Nam khi ấy, Chiến dịch tấn công của Quân đội Áo-Hung nhằm vào Quân đội Nga đã không mang lại thành quả gì[2].[22] Chiến dịch Masure cũng được xem là cố gắng cuối cùng của quân Đức nhằm gián tiếp hỗ trợ quân Áo-Hung bằng những đòn tấn công ở phía Bắc.[12] Tình trạng bế tắc đã không thể làm lu mờ thanh danh của Hindenburg và Ludendorff[5], chưa kể là người Đức càng thêm tôn kính Hindenburg khi được tin về chiến thắng của quân đội ông trong khu rừng Augustów, mà bản thân ông xem là một thảm họa "Sedan" của Tập đoàn quân số 10 của Nga.[1][25] Là thất bại thứ ba của quân Nga trước quân Đức đồng thời là một trong những thảm kịch của nước Nga trong cuộc chiến,[14][26] cuộc bại trận này đã tiêu diệt Tập đoàn quân số 10 của Nga với tư cách là một lực lượng chiến đấu hữu hiệu.[18][27] Ngoài ra, chiến bại to lớn[20] này đã khiến cho dư luận Nga đặt nghi vấn với kết thúc tốt đẹp của cuộc chiến tranh.[2]

Bối cảnh lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trận hồ Masuren lần thứ hai là một phần của kế hoạch của người chỉ huy phe Liên minh Trung Tâm trên Mặt trận phía ĐôngThống chế Paul von Hindenburg nhằm phát động một cuộc tiến công quyết định và đồng thời của quân Liên minh Đức - Áo trên khắp Mặt trận phía Đông để loại bỏ nước Nga ra khỏi vòng chiến.[2] Mặc dù Tổng tham mưu trưởng Quân đội Đức là Erich von Falkenhayn tỏ ra dè đặt trong việc chuyển quân từ Mặt trận phía Tây sang Mặt trận phía Đông, ông đã phải chấp thuận kế hoạch của Hindenburg.[28]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d Samuel Lyman Atwood Marshall, World War I, trang 160
  2. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l Spencer Tucker, World War I: A - D., Tập 1, các trang 757-758.
  3. ^ Spencer Tucker, The European Powers in the First World War: An Encyclopedia
  4. ^ a ă â b William R. Griffiths, The Great War, các trang 54-55.
  5. ^ a ă â b c d đ e ê g h Lawrence Sondhaus, World War One: The Global Revolution, trang 90
  6. ^ Nik Cornish, The Russian Army 1914-18, trang 6
  7. ^ a ă â G. J. Meyer, A world undone: the story of the Great War, 1914 to 1918, các trang 223-224.
  8. ^ a ă â Spencer Tucker, A global chronology of conflict: from the ancient world to the modern Middle East, Tập 2, trang 1593
  9. ^ a ă â William J. Astore, Dennis E. Showalter, Hindenburg: Icon of German Militarism, trang 28
  10. ^ a ă â b David Eggenberger, An Encyclopedia of Battles: Accounts of Over 1,560 Battles from 1479 B.C. to the Present, trang 270
  11. ^ J. M. de Beaufort, Behind the German veil: a record of a journalistic war pilgrimage, trang 218
  12. ^ a ă â b c Spencer C. Tucker, Priscilla Mary Roberts, World War I: A Student Encyclopedia, các trang 616-618.
  13. ^ Spencer Tucker, World War I: A - D., Tập 1, trang 375
  14. ^ a ă Alan Moorehead, The Russian revolution, trang 97
  15. ^ Raffael Scheck, Germany, 1871-1945: A Concise History, trang 90
  16. ^ Martin Polley, A-Z of Modern Europe Since 1789, trang 147
  17. ^ Joseph Canning,Hartmut Lehmann, J. M. Winter, Power, Violence and Mass Death in Pre-Modern and Modern Times, trang 192
  18. ^ a ă David R. Woodward, World War I Almanac, các trang 48-49.
  19. ^ Paul K. Davis, Encyclopedia of invasions and conquests from ancient times to present, trang 395
  20. ^ a ă Frederik Nebeker, Dawn of the Electronic Age: Electrical Technologies in the Shaping of the Modern World, 1914 To 1945, trang 19
  21. ^ Richard Cooper Hall, Consumed by War: European Conflict in the 20th Century, trang 39
  22. ^ a ă â John Howard Morrow, The Great War: An Imperial History, trang 85
  23. ^ Vejas G. Liulevicius, War Land on the Eastern Front: Culture, National Identity and German Occupation in World War I, trang 17
  24. ^ R. L. DiNardo, Breakthrough: The Gorlice-Tarnów Campaign, 1915, trang 108
  25. ^ Paul Von Hindenberg, Charles Messenger, The Great War, trang 85
  26. ^ D. C. B. Lieven, The Cambridge History of Russia: Imperial Russia, 1689-1917, Tập 2 trang 553
  27. ^ Trevor Nevitt Dupuy, The military lives of Hindenburg and Ludendorff of Imperial Germany, trang 70
  28. ^ Nicola Barber, Living Through World War I

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]