Trịnh Đình Dũng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trịnh Đình Dũng
Bộ trưởng Trịnh Đình Dũng
Chức vụ
Nhiệm kỳ 3 tháng 8, 2011 – 
&0000000000000003.0000003 năm, &0000000000000117.000000117 ngày
Tiền nhiệm Nguyễn Hồng Quân
Kế nhiệm đương nhiệm
Khu vực Việt Nam
Nhiệm kỳ tháng 5, 2010 – 3 tháng 8, 2011
Khu vực Việt Nam
Nhiệm kỳ tháng 7, 2004 – tháng 5, 2010
Khu vực Vĩnh Phúc
Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu Nhà nước các công trình xây dựng
Nhiệm kỳ 28 tháng 02,2014 – không rõ
Thông tin chung
Đảng phái Đảng Cộng sản Việt Nam
Sinh 25 tháng 8, 1956 (58 tuổi)
Yên Lãng, Vĩnh Phúc
Nơi ở Hà Nội
Alma mater Đại học Xây dựng
Dân tộc Kinh
Tôn giáo Không

Trịnh Đình Dũng (sinh năm 1956) là một chính khách Việt Nam. Chức vụ hiện tại của ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Đại biểu Quốc hội Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Xây dựng

Thân thế và Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 25 tháng 8 năm 1956, người làng Yên Nhân, xã Tiền Phong, huyện Yên Lãng, tỉnh Vĩnh Phúc, nay thuộc huyện Mê Linh, Hà Nội.

  • Từ năm 1970 đến 1973, học sinh Trường Phổ thông cấp 3 Thạnh Phú, huyện Mê Linh (nay là Trường Trung học Phổ thông Yên Lãng, Mê Linh).
  • 12/1978-10/1980: Tổ trưởng bộ môn tại Xí nghiệp Khảo sát Thiết kế xây dựng tỉnh Vĩnh Phú.
  • 11/1980-4/1988: Xưởng trưởng thiết kế công trình, Xí nghiệp Khảo sát thiết kế xây dựng Vĩnh Phú.
  • 4/1988-10/1992: Phó phòng rồi Trưởng phòng Tổ chức Lao động, Sở Xây dựng tỉnh Vĩnh Phú; học tiếng Nga tại trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội và học lớp quản lý kinh tế Bộ Xây dựng (Việt Nam).
  • 10/1992-12/1996: Phó Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Vĩnh Phú.
  • 1/1997-11/1999: Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh kiêm Chủ tịch Hội Kiến trúc sư tỉnh Vĩnh Phúc.
  • 12/1999-9/2001: Tỉnh ủy viên rồi Ủy viên Ban thưởng vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
  • 10/2001-6/2004: Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc. Đại biểu Quốc hội Khoá XI.
  • 7/2004-5/2010: Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Vĩnh Phúc.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam; đại biểu Quốc hội Khoá XII, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Vĩnh Phúc.

  • Với quan điểm phát triển công nghiệp nhưng không làm bần cùng hoá nông dân, Vĩnh Phúc là tỉnh đầu tiên thực hiện chính sách cấp đất dịch vụ khi thu hồi đất để thực hiện dự án. Năm 2005, khi khảo sát việc thực hiện chính sách pháp luật về đất đai ở Vĩnh Phúc, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Mai Ái Trực đã khẳng định:" Áp dụng chính sách cấp đất cho dân làm dịch vụ khi thu hồi đất để phục vụ phát triển công nghiệp, tỉnh Vĩnh Phúc đã giúp cho Trung ương bài học giải phóng mặt bằng".
  • Hơn 13 năm giữ cương vị chủ chốt của tỉnh Vĩnh Phúc, ông Trịnh Đình Dũng đã đưa ra nhiều chính sách, quan điểm mới góp phần đưa Vĩnh Phúc từ một tỉnh nghèo trở thành một trong những tỉnh có tốc độ phát triển hàng đầu cả nước, đơn cử như:

- Giải quyết được các mối quan hệ giữa phát triển kinh tế thị trường và công bằng xã hội; Giữa phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân và phát triển công nghiệp, đô thị. - Với quan điểm phải lấy công nghiệp làm nền tảng để thúc đẩy phát triển nông nghiệp và dịch vụ; Giải quyết nhiều lao động để giảm lao động nông nghiệp và giảm nông dân. Tạo nguồn thu ngân sách lớn để đầu tư phát triển và hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (1/2011), được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam. Tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XIII (3/8/2011) được Quốc hội phê chuẩn làm Bộ trưởng Bộ xây dựng

Quan điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Phát biểu với báo giới sau khi nhận chức:

  • " có 3 nhiệm vụ trọng tâm mà tôi phải tập trung. Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động đầu tư xây dựng nhằm sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực, đặc biệt là tài nguyên đất đai, vốn đầu tư xây dựng và nguồn nhân lực trong quá trình đầu tư xây dựng. Với trách nhiệm được giao, Bộ sẽ tập trung rà soát các quy định liên quan đến đầu tư xây dựng để trực tiếp hoặc phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tham mưu, đề xuất với Chính phủ, Quốc hội trong việc soạn thảo, sửa đổi, bổ sung các chính sách, pháp luật liên quan đến đầu tư xây dựng.Thứ hai, tập trung nhiều hơn đến lĩnh vực phát triển đô thị. Thứ ba, chú trọng vào lĩnh vực phát triển nhà ở, đặc biệt là nhà ở xã hội để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu nhà ở của người dân thuộc mọi đối tượng, chú trọng hướng tới các đối tượng ít có điều kiện tiếp cận với nhà ở giá cao".
  • "Thời gian tới chúng ta cần phát triển mạnh nhà ở xã hội. Đây là nhà dành cho những người không có điều kiện tiếp cận với nhà ở thị trường hàng hóa, như đội ngũ công chức, viên chức, người nghèo ở đô thị, công nhân các khu công nghiệp, sinh viên, người không có thu nhập. Nhà ở xã hội sẽ phân ra nhiều nhóm, gồm căn hộ chung cư bán giá rẻ, căn hộ cho thuê và trả góp giá rẻ, căn hộ cho thuê giá rẻ và nhà cho những người không có tiền để thuê (như người tàn tật, người cô đơn không nơi nương tựa, người mất sức lao động không có thu nhập…). Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động có thu nhập trung bình là những đối tượng có thể mua hoặc thuê nhà giá rẻ".
  • Đánh giá về phát biểu của Bộ trưởng Trịnh Đình Dũng với báo chí sau khi nhậm chức, trong chương trình "sự kiện bình luận" phát trực tiếp trên VTV1 ngày 20/8/2011, GS.TS Trần Ngọc Đường - Viện nghiên cứu Lập pháp khẳng định: " Đó là người có tư duy mới".
  • Giữ lời hứa với dân và báo giới sau khi nhậm chức, Bộ trưởng đã dành trí lực vào việc soạn thảo Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Từ đề xuất của Bộ trưởng, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược này bằng Quyết định số 2127 ngày 30/11/2011. Đây là lần đầu tiên chúng ta có Chiến lược phát triển nhà ở kể từ khi đất nước giành được độc lập, là một bước cụ thể để hiện thực hóa đường lối của Đảng về phát triển một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó dùng phương tiện thị trường để thực hiện các mục tiêu xã hội chủ nghĩa - đó là mục tiêu vì con người, mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội. Một điểm mới nữa là Chiến lược đã minh bạch và cụ thể hoá chính sách cho từng nhóm đối tượng (8 nhóm) khó khăn về nhà ở cần được Nhà nước hỗ trợ. Ngoài Chiến lược phát triển nhà ở, Bộ trưởng còn đưa ra nhiều quan điểm mới góp phần thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển đúng quy luật cung - cầu, có sự kiểm soát của Nhà nước; ngăn chặn tình trạng phát triển đô thị thiếu quy hoạch, kế hoạch, tự phát, không đồng bộ, thiếu kết nối hạ tầng, lãng phí tài nguyên đất đai và vốn đầu tư của xã hội; v.v...

Giới khoa học và chuyên gia kinh tế đánh giá cao những tư tưởng mới của Bộ trưởng Bộ Xây dựng, còn báo chí thì bình chọn đó là chính sách gây ảnh hưởng lớn đến người dân.

  • Quan điểm xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Xây dựng dựa trên nguyên tắc: Tránh chống chéo, không bỏ trống, đúng đối tượng và tiết kiệm nguồn lực.
  • Các doanh nghiệp sử dụng lao động phải coi việc đầu tư nhà ở công nhân là nhân tố tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đảm bảo doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, phát triển bền vững và là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Đồng thời sẽ có biện pháp để các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản tham gia mạnh mẽ vào phát triển nhà ở xã hội đặc biệt là nhà ở công nhân.
  • Phải có cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển nhà ở phi hàng hóa để giải quyết chỗ ở cho các nhóm đối tượng chính sách xã hội gặp khó khăn về chỗ ở nhưng không đủ khả năng thanh toán theo cơ chế thị trường, gồm: Người có công với cách mạng; hộ nghèo khu vực nông thôn; người có thu nhập thấp tại khu vực đô thị; cán bộ, công chức, viên chức, nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp; công nhân lao động tại các khu công nghiệp; sinh viên, học sinh các trường đại học,cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề.
  • Phát triển được loại hình nhà ở phi hàng hóa (nhà ở xã hội) là con đường gần nhất để đi đến mục tiêu mọi người dân đều có quyền có chỗ ở.
  • "Thẳng thắn nhìn nhận, cởi mởi trao đổi và chia sẻ, trước những câu hỏi của nhiều doanh nghiệp và báo chí" - đó là nhận xét của báo chí sau khi Bộ trưởng Trịnh Đình Dũng hoàn thành việc trả lời trực tiếp gần 90 câu hỏi " chất vấn" của doanh nghiệp và báo chí tại Hội nghị doanh nghiệp ngành Xây dựng năm 2011.
  • Tập trung quản lý, kiểm soát, phát trich bền vững để người dân sống hạnh phúc hơn, yên tâm hơn.
  • Sửa Luật Xây dựng để kiểm soát, để giữ tiền cho Nhà nước, cho nhân dân. Luật Xây dựng không phải chỉ làm cho ngành xây dựng mà làm cho đất nước.
  • Luật Xây dựng (sửa đổi) với đổi mới căn bản là phân định các dự án sử dụng các nguồn vốn khác nhau thì có phương thức, nội dung và phạm vi quản lý khác nhau. Trong đó, đối với các dự án có sử dụng vốn nhà nước thì các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành sẽ quản lý chặt chẽ theo nguyên tắc "tiền kiểm" thông qua việc thẩm định dự án (mà nội dung trọng tâm, cốt lõi là thiết kế cơ sở), thẩm định thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công và dự toán xây dựng, cũng như thực hiện kiểm tra công tác nghiệm thu trước khi đưa công trình vào khai thác sử dụng, nhằm nâng cao chất lượng công trình, chống thất thoát, lãng phí và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.
  • Luật Xây dựng (sửa đổi) cũng đưa ra các quy định để đổi mới mô hình tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn nhà nước, theo đó thay vì tổ chức các ban quản lý theo từng dự án đơn lẻ như hiện nay, thì sẽ thành lập những ban quản lý chuyên nghiệp theo khu vực hoặc theo chuyên ngành, thực hiện quản lý nhiều dự án, đây là một giải pháp nhằm nâng cao năng lực và tính chuyên nghiệp của ban quản lý, qua đó góp phần bảo đảm chất lượng, tiến độ và hiệu quả của dự án đầu tư

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Có vợ (đã nghỉ hưu, nguyên là cán bộ Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc) và hai con (một gái, một trai). Cả hai con đã lập gia đình. Con rể là Nguyễn Quế Lâm hiện là Ủy viên Đoàn Chủ tịch, Chánh Văn phòng, Trưởng ban Ban Quản lý các Dự án Đầu tư Xây dựng Cơ bản, Giám đốc Quỹ Hỗ trợ Đối ngoại Nhân Dân, thuộc Liên hiệp các Tổ chức hữu nghị Việt Nam. Con trai là Trịnh Hoàng Lâm hiện là Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần LILAMA10.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]