Trịnh Tú

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Trịnh Tú (chữ Hán: 鄭琇; 924-?) là một trong những vị khai quốc công thần nhà Đinh, có công giúp Đinh Tiên Hoàng đánh dẹp, chấm dứt loạn 12 sứ quân thế kỷ 10 trong lịch sử Việt Nam. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong các sứ quân, lên ngôi hoàng đế (tức Đinh Tiên Hoàng). Chính sử cũng như thơ ca dân gian thường nói đến “Tứ trụ Bặc, Điền, Cơ, Tú” tức là bốn người trụ cột của triều nhà Đinh, là Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Lưu Cơ và Trịnh Tú. Tứ trụ là cốt cán giúp vua Đinh dẹp sứ quân, thống nhất đất nước. Sau khi vua băng hà, họ lại hết mình giành ngôi cho chủ cũ, không được đều bị hại.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Theo sách Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Trịnh Tú người động Hoa Lư, châu Đại Hoàng (Ninh Bình). Từ thuở nhỏ, ông đã cùng Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Lưu Cơ kết bạn với Đinh Bộ Lĩnh, cùng nhau chơi trò đánh trận cờ lau.

Công thần nhà Đinh[sửa | sửa mã nguồn]

Trịnh Tú sau khi trưởng thành là tướng đi theo Đinh Bộ Lĩnh hùng cứ ở Hoa Lư thời nhà Ngô. Cả Đinh Điền, Lưu CơNguyễn Bặc cũng tham gia vào lực lượng này.

Khi Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn tử trận (965), các sứ quân nổi dậy. Trịnh Tú theo Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp.

Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi, tức là Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Bặc được phong làm Định quốc công, Đinh Điền được phong làm ngoại giáp, Lưu Cơ được phong làm Đô hộ phủ sĩ sư, chính là Thái sư ở Đô hộ phủ[1] Sử ghi lại ít nhất 2 lần quan tứ trụ Trịnh Tú được cử đi sứ Trung Quốc. Một lần năm 975 và một lần năm 979.

Năm 979, Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt vương Đinh Liễn bị sát hại. Quan Chi hậu nội nhân là Đỗ Thích bị nghi là thủ phạm hàng đầu, sợ hãi bỏ trốn rồi bị bắt và bị chém. Lê Hoàn thay ngôi lập triều Tiền Lê. “ Tứ trụ” muốn giữ ngôi nhà Đinh cho ấu chúa, nhưng bị Lê Hoàn đánh thua: Đinh Điền chết tại trận, Nguyễn Bặc bị bắt sống đem về chém tại Hoa Lư. Còn Lưu Cơ và Trịnh Tú thì bị phục kích ở Bãi Vàng. Hai ông cùng hai bộ tướng chống cự quyết liệt, giết được bốn tướng của Lê Hoàn, nhưng cuối cùng bị quân đông hơn bao vây tiêu diệt. Thế là hai bên có tám tướng chết ở trận đó. Sau, dân làng Hoa Lư xây “ Bát long tự” sát phía đông Bãi Vàng (sông Hoàng Long) để thờ giải an cho tám người

Hoa Lư ngày nay còn truyền khẩu thơ “ Bát long tự sự tích ca” và một thơ khuyết danh khác ca ngợi công lao và lòng dũng cảm của tứ trụ, trong đó có tài ngoại giao ứng đối của Trịnh Tú.

Ngày nay ở Ninh Bình còn rất nhiều đền thờ ông và các vị quan trung thần khác. Theo các nhà nghiên cứu, số đền thờ các trung thần nhà Đinh nhiều hơn số đền thờ Lê Hoàn và Dương hậu phản ánh tình cảm của dân chúng đối với các ông.

Theo Đại Việt Sử ký toàn thứ: năm 975 Trịnh Tú được vua sai đi sứ sang nhà Tống, mở đầu giai đoạn mới của nền ngoại giao Việt Nam với nước lớn phía Bắc. TS sử học Đinh Công Vĩ viết về việc Trịnh Tú đi sứ: “… sứ giả Đại Cồ Việt bước vào ngoại giao với một tư thế tự hào chưa từng thấy. Đã hết rồi cái thời xưng Tiết độ sứ, nhận tiết việt của phương Bắc …”[2].

Ca ngợi công lao của tứ trụ đại thành nhà Đinh, dân gian có câu:

Bặc, Điền, Cơ, tú hiên ngang
Trịnh, Lưu sau lại Bãi Vàng hy sinh.
Hai người đi trước quang vinh
Hai người sau sán lung linh cõi bờ.
Điền quân sự tham mưu Ngoại Giáp,
Bặc đứng đầu đền đáp nghĩa ân,
Lưu Cơ Độ Hộ sức thần,
Trịnh Tú ứng đối xa gần mến danh.

Hiện tại trung tâm thành phố Ninh Bình đang xây dựng khu Quảng trường - tượng đài Đinh Tiên Hoàng đế với 4 góc có tượng 4 vị quan đại thần Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú, Lưu Cơ cao 5m, có lính canh và ngựa bằng đá[3].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Chép Về Nhà Đinh
  2. ^ Tạp chí Quan hệ quốc tế số 43,1993, trang 25-26
  3. ^ Đẩy nhanh dự án Quảng trường Đinh Tiên Hoàng Đế

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]