Trịnh Tráng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trịnh Tráng
Chúa Trịnh (chi tiết...)
Tại vị 1623 - 1657
Tiền nhiệm Trịnh Tùng
Thời vua Lê Thần Tông
Lê Chân Tông
Kế nhiệm Trịnh Tạc
Thông tin chung
Thê thiếp Trần Thị Ngọc Đài
Nguyễn Phúc Ngọc Tú
Nguyễn Phúc Ngọc Súy
Tên đầy đủ Trịnh Tráng
Tước hiệu Thanh Đô Vương (清都王)
Thụy hiệu Nghị Vương (誼王)
Miếu hiệu Văn Tổ (文祖)
Hoàng tộc Chúa Trịnh
Thân phụ Trịnh Tùng
Thân mẫu Đặng Thị Ngọc Bảo
Sinh 1577

Thanh Đô Vương Trịnh Tráng (chữ Hán: 鄭梉, 15771657) là chúa Trịnh thứ 3 thời Lê Trung Hưng và là chúa thứ hai chính thức xưng vương khi còn tại vị, nắm thực quyền cai trị miền Bắc nước Đại Việt từ năm 1623 đến 1657. Về chính trị, ông là người củng cố địa vị cai trị của chế độ "vua Lê chúa Trịnh"; về quân sự, thời kỳ ông cầm quyền là bước chuyển căn bản giữa hai cuộc xung đột Nam-Bắc triềuTrịnh-Nguyễn.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trịnh Tráng là con trưởng của Bình An Vương Trịnh Tùng. Ông đã từng nhiều năm giúp cha thiết lập bộ máy cai trị của họ Trịnh sau khi tiếp quản kinh kỳ Thăng Long từ tay nhà Mạc. Ngay khi Trịnh Tráng chưa lên ngôi, mâu thuẫn giữa họ Trịnh và họ Nguyễn phía nam bắt đầu manh nha hình thành. Ông cậu Nguyễn Hoàng ở phía nam muốn giữ hoà khí với cha ông đã gả con gái là Nguyễn Phúc Ngọc Tú cho ông, người mà theo quan hệ họ hàng là cô họ của ông.

Lên ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1623, Bình An Vương Trịnh Tùng lâm bệnh nặng, bàn với các quan việc lập thế tử. Các quan đều thống nhất lấy Trịnh Tráng làm người kế vị. Em Trịnh Tráng là Trịnh Xuân khởi binh làm loạn. Trịnh Tráng cùng em là Trịnh Khải mang vua Lê Thần Tông chạy ra ngoài, họp với các quan ở làng Nhân Mục (Thanh Trì) bàn việc đối phó với Trịnh Xuân.

Trịnh Tùng sai em ruột là Trịnh Đỗ dụ Xuân đến Quán Bạc (Hoàng Mai, Hà Nội) và bắt giết. Vài ngày sau Trịnh Tùng mất, Trịnh Tráng lên ngôi, tức là Thanh Đô Vương.

Phù Lê diệt Mạc[sửa | sửa mã nguồn]

Dư đảng của họ Mạc do Kính Khoan đang chiếm cứ đất Cao Bằng nghe tin Trịnh Tùng chết, các con đánh nhau giành ngôi chúa, liền từ Cao Bằng kéo xuống Gia Lâm, người theo đông đến hàng vạn. Trịnh Tráng phải rước vua Lê chạy vào Thanh Hóa.

Tháng 8 âm lịch nǎm 1623 Trịnh Tráng đem quân ra phá tan quân của Kính Khoan ở Gia Lâm. Kính Khoan một mình chạy thoát. Kinh thành lại được yên. Tráng lại rước vua Lê trở lại kinh đô. Mùa đông nǎm đó 1623 vua Lê phong Trịnh Tráng làm Nguyên Súy Thống Quốc Chính Thanh Đô Vương.

Khi lên nắm quyền Trịnh Tráng đã cao tuổi (47 tuổi), từng trải việc quân việc đời nên trong chính sách cai trị, ông khéo léo và nhiều mưu mẹo hơn các chúa trước. Để thắt chặt thêm quan hệ giữa nhà chúa với vua Lê; Trịnh Tráng đem con gái của mình là Trịnh Thị Ngọc Trúc (trước đã lấy chồng, có bốn con với người chú họ của vua Lê là Lê Trụ nhưng sau đó Trụ bị tội chết), gả cho vua Lê, ép vua lập làm hoàng hậu. Vua Lê đành chịu chấp nhận việc đó.

Những năm sau, Trịnh Tráng nhiều lần điều quân lên Cao Bằng đánh dẹp họ Mạc nhưng chưa dứt được việc cát cứ này do sự can thiệp của nhà Minh.

Về ngoại giao, do sự vận động của Trịnh Tráng lúc nhà Minh đã suy yếu trước sự xâm lược của Mãn Thanh, vua Minh từ chỗ chỉ phong tước An Nam Đô Thống Sứ cho các vua Lê Trung Hưng, đến đây đã chịu phong cho Lê Thần Tông (đã truyền ngôi cho con lên làm Thái Thượng Hoàng) làm An Nam Quốc Vương và mùa đông nǎm 1651 lại phong Trịnh Tráng làm Phó Vương.

Bốn lần nam tiến[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Trịnh Tráng, xung đột Trịnh-Nguyễn chính thức bùng phát. Do họ Nguyễn bỏ không nộp thuế cho vua Lê, năm 1627, Trịnh Tráng phát 20 vạn đại quân đánh miền nam. Quân Trịnh chủ động tấn công nhưng không chọc thủng được tuyến phòng thủ của quân Nguyễn. Phía Nguyễn có lợi thế là đại bác kiểu Bồ Đào Nha nên làm quân Trịnh sợ chạy dạt. Trong lúc hai bên tiếp tục giằng co thì Nguyễn Hữu Dật phao tin ở miền bắc, Trịnh Gia và Trịnh Nhạc âm mưu làm phản. Trịnh Tráng nghi ngờ vội thu quân về bắc.

Năm 1633, con của Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan là Ánh bất mãn không được làm thế tử, bèn viết thư hẹn làm nội ứng cho Trịnh Tráng. Trịnh Tráng khởi binh nam tiến lần thứ hai, đóng ở cửa Nhật Lệ. Chúa Nguyễn cử Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến làm tướng ra đánh. Trịnh Tráng đang đợi suốt hơn 10 hôm không thấy hiệu làm nội ứng của Ánh thì bị quân Nguyễn đánh úp, quân Trịnh hoảng loạn tan vỡ bỏ chạy. Trịnh Tráng rút về bắc, để lại con rể là Nguyễn Khắc Liệt trấn thủ châu Bắc Bố Chính.

Năm 1637, Phúc Lan sai Nguyễn Đình Hùng mang quân đánh úp chiếm Nam Bố Chính, giết tướng trấn thủ là Nguyễn Tịch. Năm 1640, Nguyễn Khắc Liệt mang quân đánh phá Nam Bố Chính rồi rút về. Chúa Nguyễn theo kế của Nguyễn Hữu Dật, viết thư cho Trịnh Tráng nói Liệt mưu thông đồng với chúa Nguyễn nên mặt ngoài gây chiến mà bên trong muốn hàng. Mặt khác, Nguyễn Phúc Lan thúc quân đánh Khắc Liệt. Khắc Liệt thua chạy, viết thư cầu cứu. Tin lời bên Nguyễn, Trịnh Tráng điều Trịnh Kiều mang quân vào bắt Liệt về xử tử. Quân Nguyễn nhân thời cơ đánh chiếm Bắc Bố Chính.

Về sự việc này, theo sách Đại Nam thực lục của nhà Nguyễn, Khắc Liệt đã thông đồng với bên Nguyễn từ năm 1634, nhưng vài năm sau vẫn nấn ná chưa về hàng, lại có ý “làm cao” nên chủ động đánh vào đất Nguyễn để uy hiếp. Chúa Nguyễn sợ Liệt thay đổi ý định nên viết thư cho chúa Trịnh báo việc này.

Năm 1643, Trịnh Tráng điều quân vào nam chiếm lại Bắc Bố Chính, giết chết tướng Nguyễn là Bùi Công Thắng.

Năm 1648, Trịnh Tráng khởi binh nam tiến lần thứ tư, dẫn bộ binh đánh Nam Bố Chính, còn thuỷ quân đánh cửa Nhật Lệ. Quân Nguyễn cố thủ ở luỹ Trường Dục, quân Trịnh đánh không hạ được. Tướng Nguyễn là Hữu Tiến mang quân đánh úp quân Trịnh lúc nửa đêm. Quân Trịnh thua. Trịnh Tráng lui binh, sai Lê Văn Hiểu giữ Hà Trung, Lê Hữu Đức đóng ở Hoành Sơn, Phạm Tất Toàn giữ Bắc Bố Chính.

Chọn người kế vị[sửa | sửa mã nguồn]

Nǎm 1645, Trịnh Tráng tuổi đã già, xin vua Lê phong cho con thứ hai là Tây Quận Công Trịnh Tạc làm Khâm Sai Tiết Chế Các Xứ Thủy Bộ Chủ Dinh Chương Quốc Quyền Binh, Tả tướng Thái úy Tây Quốc Công. Trịnh Tạc được chọn thay quyền cha giữ ngôi chúa. Sau quyết định này vài hôm, Trịnh Tráng bị cảm mạo, các con là Trịnh Sầm, Trịnh Lịch vì không được cha truyền ngôi bèn nổi loạn. Sau cả hai người con này đều bị bắt chém.

Năm 1653, Trịnh Tráng phong cho Trịnh Tạc làm Tây Định vương nắm quyền điều hành trong triều. Hai năm sau, chúa Nguyễn sai Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật mang quân vượt sông Gianh đánh Bắc Bố Chính. Quân Trịnh liên tiếp bại trận, bị mất 7 huyện Nam Hà (nam sông Cả) bấy giờ thuộc Nghệ An.

Trong lúc chiến sự ngoài mặt trận đang gay go thì tháng 4 năm 1657, Trịnh Tráng qua đời, hưởng thọ 81 tuổi, được tôn là Văn Tổ Nghị Vương. Trịnh Tráng ở ngôi vương 35 năm (1623-1657).

Con ông là Tây Định Vương Trịnh Tạc lên thay. Trịnh Tạc đã cùng với con trai là Trịnh Căn đánh bại được quân Nguyễn, chiếm lại được đất bắc sông Gianh năm 1660.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Con:
    • Hoằng tổ Dương vương Trịnh Tạc
    • Sùng Nghĩa vương Trịnh Kiều (ông là con trưởng, vâng mệnh tiết chế, mở phủ Sùng quốc mất sớm).
    • Dực vận Tân trị Công thần Thân nghĩa công Trịnh Lưu.
    • Dực Vận Tân trị Công thần Thuần vĩ công Trịnh Trương.
    • Dực Vận Tân trị Công thần Bỉnh trung công Trịnh Quế.
    • Dực Vận Tân trị Công thần Quốc lão Tô quận công Trịnh Hàm.
    • Quan Thái tể Bảng quận công Trịnh Biện.
    • Quan Thái phó Khuê quận công Trịnh Lực
    • Quan Thái tể Hoàng quận công Trịnh Lộc.
    • Quan Thái phó Địch quận công Trịnh Tiến.
    • Quan Dực vận tân trị công thần hiệu quận công Trịnh Tấu.
    • Quan Dực vận tân trị công thần An quận công Trịnh Thiện
    • Quan Dực vận tân trị công thần Mỹ quận công Trịnh Hoàn.
    • Quan Dực vận tân trị công thần Cảo quận công Trịnh Lệ.
    • Quan Thái úy Ninh quốc công Trịnh Toàn. Ông là con út cúa Trịnh Tráng, thống lĩnh đi đánh Nam triều, mở dinh gọi là Tả Dực nội quân. Trấn thủ tỉnh Nghệ An, mở phủ gọi là Dương uy phủ, vâng mệnh Tiết chế. Ở chỗ quân ngũ lâu ngày nên được lòng tướng sĩ. Gặp lúc đức Văn tổ nghi vương Trịnh Tráng mất, Trịnh Tạc lên nối ngôi, thủ hạ khuyên ông mưu làm phản. Ông không nghe, chúng mới phao ngôn là ông có trí làm phản và làm chứng buộc thành tội trạng. Trịnh Tạc nghĩ ông là người trí nhân không lỡ xử tử, đặc ân cho khóa bạc, giam trong ngục. Năm 1637 ba lần ông tâu xin cho chết. Trịnh Tạc sai ông Hán quận công đưa rượu cho uống và ban cho quan tài cùng tiền cổ 300 quan, sai quan dụ tế cho đưa linh cữu về chôn ở ngoại quán thuộc xã Phú Vinh (huyện Hoằng Hóa). Đến năm 1655, phụng chuẩn định sự lệ tôn thất nhờ ông là người đánh giặc có công lao đặc ân tha cho và con cháu cũng chuẩn được ăn lương theo như lệ năm đời, nhưng không được bổ dụng. Năm 1660 trong họ có người kêu oan mới chuẩn tha cho ông được khai phục chức cũ.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đại Việt Sử ký Toàn thư
  • Khâm định Việt sử Thông giám cương mục
  • Các triều đại Việt Nam - Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng, NXB Thanh niên, 2001