Trajan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm
Trajan
Hoàng đế Đế quốc La Mã
Tượng bán thân bằng cẩm thạch của Trajan tại Glyptothek, Munich
Trị vì January 28, 98-
August 9, 117
Tên đầy đủ Marcus Ulpius Nerva Traianus
Sinh 18 tháng 9, 53(53-09-18)
Italica, ancient Hispania
Mất 9 tháng 8, 117 (63 tuổi)
Selinus
Chôn ở Rome (tro được chôn dưới chân Trụ đài Trajan, nay bị thất lạc)
Tiền nhiệm Nerva
Kế nhiệm Hadrian
Vợ Pompeia Plotina
Con cái Hadrian (con nuôi)
Triều đại Nervan-Antonine
Cha Marcus Ulpius Traianus
Mẹ Marcia

Tên khi sinh là Marcus Ulpius Nerva Traianus, thường được biết đến với tên gọi Trajan (18 tháng 9 năm 539 tháng 8 năm 117), là Hoàng đế La Mã, trị vì từ năm 98 tới khi qua đời năm 117. Sinh ra trong một gia đình không có nguồn gốc quí tộc[1] tại tỉnh Hispania Baetica (nay là Tây Ban Nha), Trajan nổi lên trong thời kỳ trị vì của Hoàng đế Domitian, phục vụ trong Quân đội La Mã dọc theo biên giới với người German, và đánh dẹp cuộc nổi dậy của Antonius Saturninus năm 89. Ngày 18 tháng 9 năm 96, Marcus Cocceius Nerva, một nghị sỹ già nua và không có con nối dõi kế vị Domitian, nhưng không được lòng quân đội. Chỉ sau một năm cầm quyền đầy biến loạn, lực lượng Vệ binh Đế chế - Praetorian Guard uy hiếp, buộc ông phải nhận Trajan làm con nuôi và làm người kế vị. Nerva mất ngày 27 tháng 1 năm 98 và Trajan kế vị một cách yên ổn.

Trên cương vị người quản lý dân sự, Trajan được ghi nhớ bởi những chương trình xây dựng qui mô, làm biến đổi hẳn thành Rome và để lại những công trình lưu truyền hậu thế như Cột trụ Trajan, Chợ Trajan và Quảng trường Trajan. Tuy nhiên, với tư cách là một thủ lĩnh quân sự, ông gặt hái được những thành công rực rỡ nhất. Năm 101, ông mở cuộc chinh phạt vào vương quốc Dacia chống lại Vua Decebalus, đánh bại quân Dacia trong Trận Tapae thứ nhì năm 102, và hoàn toàn chinh phục Dacia năm 106. Năm 107, Trajan tiến xa hơn về phía đông và đánh chiếm Nabatea, thành lập tỉnh Arabia Petraea dù rằng nó chẳng tồn tại được bao lâu. Sau một thời kỳ tương đối hòa bình, ông tiến hành chiến dịch cuối cùng năm 113 chống lại Đế quốc Parthia, tiến tới tận thành phố Susa năm 116, bành trướng Đế quốc La Mã tới cực điểm. Trong chiến dịch này, Trajan bị đổ bệnh, rồi tới cuối năm 117, trên chuyến hải hành trở về La Mã, ông bị lên cơn rồi mất ngày 9 tháng 8 tại thành phố Selinus. Ông được Nghị viện La Mã tôn xưng là một vị thần, tro tàn được chôn cất tại Lăng Augustus. Ông được kế vị bởi người cháu họ Publius Aelius Hadrianus—thường được biết đến với tên gọi Hadrian.

Với tư cách là một hoàng đế giỏi, tên tuổi Trajan được lưu truyền trong lịch sử, mỗi hoàng đế sau ông được tôn xưng bởi Nghị viện bằng câu felicior Augusto, melior Traiano, nghĩa là "mong người được may mắn hơn Augustus và tài giỏi hơn Trajan". Khác với nhiều vua chúa vốn được ca ngợi trong lịch sử, tên tuổi và uy tín của ông không hề bị suy giảm trong suốt hơn 19 thế kỷ. Trong số những nhà thần học Thiên chúa giáo thời Trung Cổ, Trajan được coi là một người vô thần có đức hanh, trong khi nhà sử học thế kỷ 18 Edward Gibbon truyền bá khái niệm Năm vị Hoàng đế giỏi, trong đó Trajan được xếp hàng thứ hai.

Mục lục

[sửa] Thời tuổi trẻ và lên tới đỉnh cao quyền lực

Trajan là con trai của Marcia và Marcus Ulpius Traianus, một Nghị sỹ có thế lực trong Nghị viện La Mã, và là một vị tướng xuất thân từ dòng họ Ulpius. Gia đình ông chuyển đến sinh sống tại Hispania (bán đảo Iberia, bao gồm lãnh thổ Tây Ban NhaBồ Đào Nha bây giờ), tại tỉnh Hispania Baetica ở phần đất nay là tỉnh Andalusia (nay thuộc Tây Ban Nha), một tỉnh đã hoàn toàn La Mã hóa và được gọi là nam Hispania. Trajan cũng chỉ là một trong số rất nhiều người nổi tiếng thuộc dòng họ Ulpius, tồn tại rất lâu ngay cả sau khi ông đã qua đời. Chị cả của ông là Ulpia Marciana và cháu gái là Salonina Matidia.

He was born on September 18 53, in the city of Italica. As a young man, he rose through the ranks of the Roman army, serving in some of the most contentious parts of the Empire's frontier. In 76–77, Trajan's father was Governor of Syria (Legatus pro praetore Syriae), where Trajan himself remained as Tribunus legionis. Trajan was nominated as Consul and brought Apollodorus of Damascus with him to Rome around 91. Along the Rhine River, he took part in the Emperor Domitian's wars while under Domitian's successor, Nerva, who was unpopular with the army and needed to do something to gain their support. He accomplished this by naming Trajan as his adoptive son and successor in the summer of 97. According to the Augustan History, it was the future Emperor Hadrian who brought word to Trajan of his adoption.[2] When Nerva died on January 27 98, the highly respected Trajan succeeded without incident.

[sửa] Hoàng đế La Mã

[sửa] Chiến tranh với Dacia

It was as a military commander that Trajan is best known to history, particularly for his conquests in the Near East, but initially for the two wars against Dacia—his cowling conquest (101-102), then delayed re-conquest of the trans-Danube border kingdom of Dacia—an area that had troubled Roman thought for over a decade with the unfavorable (and to some, shameful) peace negotiated by Domitian's retainers[3] In the first war c. March–May 101, he launched a vicious attack into the kingdom of Dacia with four legions,[4] crossing to the northern bank of the Danube River on a stone bridge he had built, and defeating the Dacian army near or in a mountain pass called Tapae (see Second Battle of Tapae). Trajan's troops were mauled in the encounter, however and he put off further campaigning for the year to heal troops, reinforce, and regroup.[5]

During the following winter king Decebalus launched a counter-attack across the Danube further downstream, but this was repulsed. Trajan's army advanced further into Dacian territory and forced King Decebalus to submit to him a year later, after Trajan took the Dacian capital/fortress of Sarmizegethusa. The Emperor Domitian had campaigned against Dacia from 86 to 87 without securing a decisive outcome, and Decebalus had brazenly flouted the terms of the peace (89 AD) which had been agreed on conclusion of this campaign.

Trajan now returned to Rome in triumph and was granted the title Dacicus Maximus. The victory was celebrated by the Tropaeum Traiani. Decebalus though, after being left to his own devices, in 105 undertook an invasion against Roman territory by attempting to stir up some of the tribes north of the river against her.[6]

Trajan took to the field again and after building with the design of Apollodorus of Damascus his massive bridge over the Danube, he conquered Dacia completely in 106. Sarmizegethusa was destroyed, Decebalus committed suicide, and his severed head was exhibited in Rome on the steps leading up to the Capitol. Trajan built a new city, "Colonia Ulpia Traiana Augusta Dacica Sarmizegetusa", on another site than the previous Dacian Capital, although bearing the same full name, Sarmizegetusa. He resettled Dacia with Romans and annexed it as a province of the Roman Empire. Trajan's Dacian campaigns benefited the Empire's finances through the acquisition of Dacia's gold mines. The victory is celebrated by Trajan's Column.

[sửa] Bành trướng về phương Đông

Cùng thời gian, vị vua cuối cùng được Rome bảo trợ, vua Rabbel II Soter của Nabatea, qua đời. Sự kiện này có lẽ đã thúc đẩy Trajan tiến hành sát nhập Nabatea, mặc dù lý do cụ thể của việc sát nhập này không được biết rõ, cũng như phương thức tiến hành sát nhập. Một số hình khắc cho thấy có lẽ một chiến dịch quân sự, với lực lượng từ SyriaAi Cập, đã được tiến hành. Điều chắc chắn là tới năm 107, các binh đoàn Lê dương La Mã đã đồn trú tại các khu vực quanh PetraBostra, như được chỉ ra trong các cuộn giấy papyrus tìm thấy ở Ai Cập. Đế quốc La Mã mở rộng thêm tỉnh Arabia Petraea (nay là phần phía nam Jordan và tây bắc Saudi Arabia).

[sửa] Mở rộng Đế chế đến cực điểm

Biên giới đế quốc La Mã dưới thời Trajan (117)
Biên giới đế quốc La Mã dưới thời Trajan (117)

Năm 113, ông tiến hành chiến dịch cuối cùng để phản ứng lại việc Đế quốc Parthia đặt lên ngai vàng Armenia, một vương quốc thuộc vùng ảnh hưởng của cả hai đế chế kể từ thời Nero khoảng 50 năm về trước, một vị vua mà La Mã không chấp nhận. Trajan hành quân về Armenia, lật đổ vị vua này và sát nhập vương quốc vào lãnh thổ đế chế. Tiếp đó, ông cho tiến quân về phía nam, đánh thẳng vào Parthia, hạ các thành phố lớn Babylon, Seleucia và cuối cùng là thủ đô Ctesiphon năm 116. Ông tiếp tục nam tiến về phía vịnh Ba Tư, rồi tuyên bố vùng Lưỡng Hà là một tỉnh mới của Đế chế, mà còn than thở mình đã quá già nên không tiếp bước Alexander đại đế để tiến về Ấn Độ được.

Nhưng ông không dừng lại ở đó, cuối năm 116, ông đánh chiếm thành phố vĩ đại Susa. Ông cho đi đày vị vua Parthia là Osroes I và đưa lên ngai vàng vị vua bù nhìn Parthamaspates. Đế quốc La Mã sẽ không bao giờ có thể tiến chiếm xa hơn nữa về phía đông kể từ đó.

Tượng bán thân Trajan, Glyptothek, Munich.
Tượng bán thân Trajan, Glyptothek, Munich.

Tới lúc đó, vận may trong chiến trận và sức khỏe quay lưng lại với Trajan. Thành lũy của thành phố Hatra, nằm trên bờ sông Tigris ở phía sau ông, tiếp tục kháng cự lại các đợt công kích liên tục của quân La Mã. Ông trực tiếp có mặt chỉ huy cuộc vây hãm, và có lẽ bị cảm nắng trong cái nắng gay gắt. Người Do thái trong Đế quốc La Mã nổi dậy một lần nữa, cũng như dân chúng Lưỡng Hà, buộc Trajan phải rút quân về để dập tắt các cuộc nổi dậy. Trajan chỉ đơn giản coi đó là một bước lùi tạm thời, nhưng số phận quyết định là ông sẽ không bao giờ còn được nắm quyền chỉ huy quân đội nữa. Các quân đoàn phương đông của ông được chuyển cho vị pháp quan cao cấp và là tổng trấn Judaea là Brinius Carnix Maximus.

Cuối năm 116, Trajan ngày càng yếu, ông xuống thuyền đi về Italy. Sức khỏe của ông sa sút suốt mùa xuân và hè năm 117, và tới khi ông đến được Selinus ở Cilicia, về sau gọi là Trajanopolis, ông mất đột ngột vì bị phù ngày 9 tháng 8. Một số người nói rằng ông đã chọn Hadrian làm người kế vị, nhưng một số người khác lại cho là vợ ông là Pompeia Plotina đã cho người đóng giả làm Trajan sau khi ông đã chết. Hadrian, ngay sau khi trở thành hoàng đế, trả lại vùng Lưỡng Hà cho người Parthia. Tuy nhiên, tất cả các vùng đất khác mà Trajan đã chinh phục đều được giữ lại. Tro của Trajan được chôn cất dưới cây Cột trụ Trajan, là đài tưởng niệm những chiến thắng của ông.

[sửa] Di sản

Hình:Traiani iustitia.jpg
Eugène Delacroix. The Justice of Trajan (fragment).

Unlike many lauded rulers in history, Trajan's reputation has survived undiminished for nearly nineteen centuries. The Christianization of Rome resulted in further embellishment of his legend: it was commonly said in medieval times that Pope Gregory I, through divine intercession, resurrected Trajan from the dead and baptized him into the Christian faith. An account of this features in the Golden Legend. Theologians, such as Thomas Aquinas, discussed Trajan as an example of a virtuous pagan. In the Divine Comedy, Dante, following this legend, sees the spirit of Trajan in the Heaven of Jupiter with other historical and mythological persons noted for their justice. He also features in Piers Plowman. An episode, referred to as the justice of Trajan was reflected in several art works.

Công cụ cá nhân