Trang phục Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Áo dài ngũ thân
Áo dài truyền thống nam và nữ

Trang phục Việt Nam là lối mặc quần áo của người Việt.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trang phục người Việt theo sách Vạn quốc nhân vật chi đồ của Nhật Bản in năm 1645

Quần áo[sửa | sửa mã nguồn]

Trước thời Bắc thuộc thì có sách ghi người Việt mặc áo cài bên trái.[1]

Sang thời nhà Lê thì đã thành lệ: người thường dùng áo màu xanh, khi có việc trọng đại thì dùng màu đen, màu thẫm. Người làm ruộng thì dùng màu nâu. Bông vải là hàng chính. Chỉ người sang trọng mới dùng hàng tơ lụa. Quần thì chỉ có hai màu trắng và nâu. Họa hoằn những người giàu có hay già cả mới dùng quần màu đỏ.

Theo sách Vạn quốc nhân vật chi đồ của Nhật Bản soạn năm 1645 thì vẽ người đàn bà đội nón rộng, để tóc dài, mặc váy ở dưới, phía trên mặc thứ áo trông như áo giao lĩnh buông thõng hai vạt. Đàn ông thì búi tóc, mặc một loại áo dài rộng, cài bên phải.

Thời Trịnh Nguyễn phân tranh thế kỷ 18, chúa Nguyễn Võ VươngĐàng Trong có sắc quy định y phục trong Nam, nhất là lối ăn mặc của phụ nữ, bỏ váy mà mặc quần, còn áo thì cài khuy, bỏ lối thắt vạt.[1] Suy ra thì từ đó thì đàn bà Việt trước thế kỷ 18 mặc áo tứ thân cả. Có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng là "Áo tứ thân" có thể đã ra đời từ thế kỷ 12.[cần dẫn nguồn]

Khăn, tóc[sửa | sửa mã nguồn]

Phục sức trên đầu thì người Việt dùng khăn vấn. Đàn bà miền Bắc thì dùng khăn bao lấy tóc rồi quấn vòng chung quanh đầu. Trong Nam thì chỉ búi tóc rồi trùm khăn.

Người Việt còn dùng nhiều loại nón như nón lá, nón quai thao.

Giày dép[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ phục[sửa | sửa mã nguồn]

Đôi hia thêu, một phần trong bộ triều phục của các quan khi vào chầu vua

Khi tế lễ trong dân gian thì dùng loại áo rộng, ống tay dài, gọi là áo tế hay áo thụng.

Khi có tang thì dùng màu trắngvải sô.

Vua quan thì có lễ phục riêng, có đai mãng, xiêm, ủng, hia, mũ cánh chuồn, mũ trụ. Vua thì dùng màu vàng. Phẩm phục các quan thì tùy theo cấp bậc, dùng màu đỏ hay màu tía.

Thế kỷ 19[sửa | sửa mã nguồn]

Đến thế kỷ 19 người Việt đại để mặc một loại áo ngắn, cài giữa ngực. Miền Bắc gọi là áo cánh, miền Nam dùng loại áo tương tự nhưng dài hơn, gọi là áo bà ba. Phía dưới thì đàn ông mặc quần (quần lá tọa), buộc bằng thắt lưng ở bụng. Đàn bà miền Bắc mặc váy, buộc thắt lưng và ruột tượng; miền Nam mặc quần.

Đàn bà ở nhà có khi chỉ mặc yếm. Ra ngoài thêm áo cánh, áo tứ thân, hay áo dài.

Trên đầu thì đàn ông đội khăn giữ búi tóc cho chặt, quấn bảy vòng thành nếp trên trán. Sau để thêm tiện dùng khăn đóng sẵn, không cần quấn.

Thế kỷ 20[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: áo dài

Vào thập niên 1930 họa sĩ Cát Tường trong nhóm Tự lực Văn đoàn đưa áo dài đi một bước dài bằng cách tân kiểu áo cho hợp với thời đại.

Áo dài trắng đã trở thành trang phục bắt buộc tại nhiều trường phổ thông cấp III ở Việt Nam. Các giáo viên nữ mặc Áo dài mỗi buổi lên lớp. Một số nữ nhân viên văn phòng như tiếp tân, thư ký, hướng dẫn viên du lịch cũng mặc Áo dài khi làm việc. Ngày nay các Trường Đại học nữ SVHS chỉ mặc vào ngày đầu tuần. Và theo đánh giá của một tờ báo ở Nhật dường như chỉ có dáng của người con gái Việt Nam mặc áo dài đẹp nhất.Ngày nay Hoa hậu trái đất cũng mặc Áo dài khăn đóng[2] Vì sự phổ biến của nó, áo dài đã trở thành biểu tượng quốc gia, đại diện cho các giá trị văn hóa Việt Nam.

Trong đời sống thường nhật ngày nay, trang phục đã theo phong cách phương tây. Những bộ quần áo truyền thống chỉ được mặc trong những dịp đặc biệt. Phụ nữ có thể không mặc váy hoặc tùy thích.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đào Duy Anh. Việt Nam văn hóa sử cương. Houston, TX: Xuân Thu, ?. trang 1725.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Đào Duy Anh
  2. ^ [1]