Triết học Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Trước khi triết học Mác-Lênin du nhập vào Việt Nam, nếu theo tiêu chí của một nền triết học là phải có triết gia, triết thuyết và trường phái thì Việt Nam không có một nền triết học nào. Suốt mấy thập kỷ qua, quan niệm này chiếm ưu thế trong đánh giá hoạt động văn hóa tinh thần của đất nước. Tuy nhiên, một số học giả, một số nhà nghiên cứu vẫn nhìn nhận rằng dân tộc Việt Nam có một nền văn hiến riêng, trong nó chứa đựng một sắc thái tư tưởng không giống với các nền triết học và văn minh lớn lân cận. Những nghiên cứu tư tưởng dân tộc làm cho việc khẳng định có một thứ tư tưởng triết học Việt Nam dần dần trở nên tự tin hơn. Đến nay, có xu hướng còn cho rằng chúng ta không chỉ có những tư tưởng triết học mà còn có cả những học thuyết triết học theo đúng nghĩa của nó.

Đối tượng của tư tưởng triết học Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Giới nghiên cứu đều thấy rằng, triết học phương Tây thường gắn với những thành tựu của khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên. Còn triết học phương Đông thường gắn liền với tôn giáo (Ấn Độ), với chính trị- xã hội, đạo đức (Trung Quốc), những tư tưởng triết học Việt Nam thì gắn liền với công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước. Việt Nam có tư tưởng triết học vì:

  • Việt Nam được xem là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại.
  • Việt Nam có một khả năng tư duy khái quát phát triển rất sớm. Biết rút ra những cái chung từ quan sát các hiện tượng tự nhiên, xã hội và con người, vậy là biết tìm ra quy luật chung. Biết lấy quá khứ để soi vào hiện tại, căn cứ vào hiện tại để định hướng cho tương lai. Biết xem xét sự vật, hiện tượng trong sự vận động phát triển...
  • Việt Nam có nhiều chiến công oanh liệt trong dựng nước và giữ nước, sau mỗi chiến công ấy đều có sự tổng kết để nâng lên thành lý luận. Chẳng hạn, tổng kết từ thời đại nọ sang thời đại kia, tổng kết từ thời loạn lạc, chiến tranh sang hòa bình, tổng kết sau khi khắc phục những thiên tai... Đó là những khái quát ít nhiều có tính triết học.
  • Việt Nam có sự giao lưu, tiếp biến với nhiều nền văn hóa thế giới. Tiếp biến với nền văn hóa vĩ đại của Trung Hoa khi phong kiến phương Bắc vào xâm chiếm Việt Nam. Tiếp biến với văn hóa Ấn Độ đồ sộ một phần do đạo Phật từ Ấn Độ du nhập sang. Tiếp nhận đạo Kitô giáo qua cuộc xâm lược của thực dân phương Tây.

Những tư tưởng triết học trên đây đã được Việt Nam tiếp nhận một cách có chọn lọc, sau đó bản địa hóa. Như vậy, đối tượng của lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam là:

  • Nghiên cứu sự phát triển tư tưởng triết học bản địa qua hoạt động sống của con người: sản xuất, đấu tranh xã hội, đấu tranh với tự nhiên.
  • Nghiên cứu quá trình nội địa hóa những tư tưởng triết học bên ngoài qua sự giao lưu tiếp biến với văn hóa phương Tây và văn hóa phương Đông.

Phạm vi nghiên cứu[sửa | sửa mã nguồn]

Trên cơ sở đối tượng nghiên cứu của lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam thì phạm vi nghiên cứu gồm 4 mặt:

1. Tư tưởng triết học về mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa con người và tự nhiên, tinh thần và vật chất (phương Tây gọi là vấn đề cơ bản của triết học). Chẳng hạn, những vấn đề như quan hệ giữa Trời và người, hình và thần, giữa tâm và vật, hữu và vô, lí và khí...

2. Phương pháp tư duy biện chứng và tư duy siêu hình: như quan hệ giữa tĩnh (siêu hình) và động (biện chứng), thường (bất biến) và vô thường (không bất biến), thuận lẽ trời với lòng người...

3. Những vấn đề triết học xã hội, như đường lối trị nước của các triều đại, mối quan hệ giữa trị và loạn, mối quan hệ giữa vua và quan (quân thần), mối quan hệ giữa vua với dân, vấn đề sử dụng nhân tài...

4. Những vấn đề triết học nhân sinh như bản chất con người, sự thành bại trong việc đào tạo, giáo dục con người, đạo làm người, các chuẩn mực đạo đức,...

Đặc điểm của tư tưởng triết học Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Những quan điểm khác nhau về tư tưởng triết học Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều người cho rằng dân tộc Việt Nam có tính thực dụng cao, chỉ biết tiếp thu, chế biến các hệ thống tư tưởng, tôn giáo cho phù hợp với mình chứ không cú sự sáng tạo: "Không có sáng tạo, chỉ có vay mượn; chỉ có áp dụng, chỉ có thích nghi. Đó là sự thực của lịch sử tư tưởng chính thống Đại Việt". Tư tưởng triết học Việt Nam là bản sao chép rời rạc, là sự thu nhỏ của triết học Ấn Độ và Trung Quốc. Rồi ngay cả tín ngưỡng, tâm linh của người Việt cũng nhẹ nhàng mà không sâu. Rằng, người Việt đại khái có thông minh, nhưng không mấy ai có trí tuệ lỗi lạc phi thường, có chăng thì chỉ giàu khả năng nghệ thuật hơn khoa học, giàu trực giác hơn luận lí, óc sáng tạo ít, nhưng bắt chước, thích ứng, dung hòa thì tài, v.v.. Quan điểm này phủ nhận tư tưởng triết học bản địa.

Ở Việt Nam chỉ có lịch sử tư tưởng nói chung chứ không có lịch sử tư tưởng triết học. Nếu có tư tưởng triết học thì chỉ là những dạng triết lí chứ không gọi là tư tưởng triết học. Xu hướng này tuyệt đối hóa tính hệ thống của triết học. Trên thực tế, nhiều nhà tư tưởng của thế giới cổ đại cũng chỉ đưa ra các câu châm ngôn, các triết lí nhân sinh, khái quát vài nét, một số hiện tượng nào đó của tự nhiên chứ không phải ai cũng xây dựng các hệ thống tư tưởng, quan điểm hoàn chỉnh như các nhà triết học nổi danh hàng đầu, tiêu biểu như Platon, Aristoteles trở đi.

Trên thế giới, những quốc gia có nền triết học phát triên thì việc tìm ra những đặc thù của nó là cần thiết. Ngay cả khi nó tồn tại dưới dạng dưới dạng triết học thì cũng phải nêu lên sự khác nhau giữa dân tộc này với dân tộc khác, vì dân tộc nào cũng có cái gọi là tư tưởng triết học. Như vậy việc nghiên cứu tư tưởng triết học Việt Nam là rất cần thiết.

Một số đặc điểm tư tưởng triết học Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Gắn với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước[sửa | sửa mã nguồn]

Tư tưởng triết học Việt Nam gắn với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước (triết học phương Tây gắn với những thành tựu của khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên). Do ảnh hưởng của phương thức sản xuất châu Á, nên ở Việt Nam không có sự phát triển của khoa học tự nhiên, không có sự phát triển thương mại (sĩ- nông- công- thương), không có tiền đề ra đời của chủ nghĩa tư bản. Điều đó làm cho chế độ phong kiến kéo dài. Cuối cùng thế giới quan triết học, tư tưởng triết học Việt Nam luôn luôn có tính chất phong kiến.

Tư tưởng chủ đạo của triết học Việt Nam là chủ nghĩa yêu nước, những vấn đề về chính trị, xã hội bao gồm hệ thống những quan điểm lý luận về dựng nước, đánh giặc giữ nước, dân giàu nước mạnh. Phạm trù "nước" xét trên bình diện triết học, là những cộng đồng người, là dân tộc, quốc gia. Do đó yêu nước trong tư tưởng triết học chính là ý thức trách nhiệm với giống nòi, với cộng đồng dân tộc được nêu lên thành lý luận. Tính đặc thù của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là tinh thần đoàn kết, tinh thần bảo vệ bờ cõi lãnh thổ, bản sắc văn hoá dân tộc.

Chịu ảnh hưởng từ bên ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Trong quá trình giao lưu với văn hoá Trung Quốc, Ấn Độ, phương Tây, tư duy triết học Việt Nam có nền tảng tư duy bản địa mạnh vẫn giữ vai trò chủ thể để tiếp biến văn hoá ngoại lai.

Chẳng hạn, Phật giáo Ấn Độ có tính vô vi xuất thế, còn Phật giáo Việt Nam lại hữu vi nhập thế. Nghĩa là nhà chùa có ruộng có vườn, nhập thế cùng thế gian làm việc. Phật giáo trước khi vào Việt Nam thì vô ngã, nghĩa là không có cá nhân, không có cái tôi. Nhưng khi vào Việt Nam nó biến hiện thành sức mạnh cá nhân và phải được nhập vào sức mạnh cộng đồng.

Đạo giáo từ Trung Quốc sang. Khi còn ở Trung Quốc thì nó gắn với tầng lớp quan lại trí thức thất thế, từ bỏ chốn quan trường, xa lánh chính trị, trở về sống gần gũi với thiên nhiên, về "cõi bồng lai thiên cảnh". Nhưng khi vào đến Việt Nam thì con người lại gắn với trời đất, thần thánh đạo giáo để giáo dục đạo đức xã hội, ổn định gia đình, gắn gia đình với cộng đồng.

Tư tưởng chủ đạo của Nho giáo là thiết lập về đức trị, nhân trị, lễ trị. Do đó có sự bất bình đẳng về giai cấp, thế hệ, giới tính. Nhưng khi vào Việt Nam những chuẩn mực đó đã nhoà vào thiết chế cộng đồng làng xã. Người Việt ứng xử theo kiểu: "phép vua thua lệ làng", tính đẳng cấp có, nhưng không khắt khe. Văn hoá Nho giáo là một loại văn hoá mạnh, đồ sộ và choáng ngợp, do đó nhiều thời kỳ nó áp đặt văn hoá cho các dân tộc khác. Tuy nhiên Nho giáo sang Việt Nam lại biến đổi. Do tính bản địa mạnh nên tư duy người Việt không bị đồng hoá.

Đi từ nhân sinh quan đến thế giới quan[sửa | sửa mã nguồn]

Tư tưởng triết học Việt Nam có khuynh hướng trội là đi từ nhân sinh quan đến thế giới quan (trong khi đó, triết học phương Tây đi từ thế giới quan đến nhân sinh quan). Triết học Việt Nam coi trọng những vấn đề về xã hội và nhân sinh, coi nhẹ những vấn đề về tự nhiên, tức là chú trọng xây dựng các vấn đề lý lẽ trong chính trị xã hội và luân lý, giáo dục đạo làm người.

Vì đi từ nhân sinh quan đến thế giới quan nên tư tưởng triết học Việt Nam phát triển từ những ý niệm thô sơ, chất phác về nhân sinh lên trình độ lý luận về nhân sinh và vũ trụ, nên có vẻ thiếu tính hệ thống chặt chẽ, thường là cải biến nội dung các khái niệm trong các học thuyết du nhập từ bên ngoài. Hệ thống khái niệm, phạm trù triết học trong tư tưởng triết học Việt Nam cùng loại với triết học Trung Quốc, Ấn Độ (Triết học Phương Đông), tuy nhiên vẫn có sự dị biệt. Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu phải làm rõ sự dị biệt đó.

Vì đi từ nhân sinh quan đến thế giới quan nên vấn đề cơ bản của triết học rất mờ nhạt: quan hệ giữa vật chất và ý thức, tư duy và tồn tại, tinh thần và giới tự nhiên không trải ra trên mọi vấn đề. Tư tưởng triết học Việt Nam không phân chia thành trường phái, hoặc không thể phân chia theo các vấn đề: bản thể luận, nhận thức luận, nhân loại luận.

Hình thái đấu tranh giữa duy vật và duy tâm không phân tuyến, không trực diện, không rõ ràng mà thường thể hiện qua hình thái đấu tranh giữa khách quan và chủ quan, giữa vô thần và hữu thần, dân chủ và chuyên chế, độc lập và lệ thuộc, trong đó lực lượng tiến bộ thường đại diện cho các khuynh hướng khách quan, vô thần, dân chủ, độc lập. Còn lực lượng bảo thủ thì đại diện cho các khuynh hướng chủ quan, hữu thần, chuyên chế, lệ thuộc.

Hướng nội, duy tâm[sửa | sửa mã nguồn]

Tư tưởng triết học Việt Nam trên bình diện bác học hơi nghiêng về hướng nội, duy tâm, lấy trạng thái tinh thần để giải thích hiện tượng bên ngoài. Còn trên bình diện dân gian lại mang màu sắc duy vật chất phác.

Các nhà tư tưởng Việt Nam thường xuất phát từ những định đề có sẵn hơn là từ sự phát triển khách quan để khái quát thành lý luận. Mặc dù đã có nhiều lần tổng kết lịch sử, nhưng vẫn chủ yếu xuất phát từ những định đề có sẵn do đó thường phạm vào những sai lầm như dập khuôn, giáo điều, chủ quan, kinh nghiệm, cảm tính.

Suy nghĩ của người Việt thường gắn liền với một tín ngưỡng, một tôn giáo đa thần với các thần sông, thần núi v.v... từ đó đi tới thần thành hoá các nhân vật lịch sử, những người có công với làng, với nước.

Phương pháp biện chứng nghiêng về thống nhất Phương pháp biện chứng trong tư duy triết học Việt Nam hơi nghiêng về thống nhất (còn phương Tây hơi nghiêng về đấu tranh), quan niệm vận động, phát triển của tư duy triết học Việt Nam là hình dung theo vòng tròn (còn trong triết học phương Tây thì vận động, phát triển theo đường xoáy trôn ốc).

Các phạm trù trong triết học Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Gần đây, khoa học xã hội đã có những thành tựu liên quan được công bố liên quan đến hệ thống phạm trù triết học Trung đại Việt Nam như “Các phạm trù văn hóa Trung cổ”, “Hệ thống quan niệm văn học Trung Quốc”, “Góp phần xác lập hệ thống quan niệm văn học Trung đại Việt Nam”.

Phương pháp nghiên cứu[sửa | sửa mã nguồn]

Trước hết, phương thức tiếp cận vấn đề phạm trù triết học Việt Nam Cổ trung đại không tách rời khỏi hoàn cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội Việt Nam. Thao tác tiếp cận cần lưu ý giới hạn, chọn lọc, khu biệt những nguyên tắc vận dụng, chỉ tập trung vào những nguyên tắc có ý nghĩa, nằm ở tính hợp lý.

Ngững nguồn thông tin được thu thập xuất phát từ khoa học khảo cổ, văn hóa học, lịch sử, xã hội học, từ các văn bia, lễ hội, những biểu tượng, những tác phẩm văn học dân gian, văn học viết (trong dạng thức văn - sử - triết bất phân), những khuôn mẫu được thừa nhận, những tác phẩm "Văn học hóa triết học"...

Đối chiếu, chú giải các tài liệu thu được, chồng các văn bản văn - sử - triết phức hợp ấy với nhau ta tìm ra được những ký hiệu triết học dân tộc. Tiếp theo, thao tác trừu tượng hóa, khái quát hóa ta có được những quan niệm phạm trù quy luật cơ bản. Những phạm trù này được thiết lập những quan hệ tạo thành những hệ thống nhỏ. Từ các hệ thống nhỏ này lại liên hệ nhau tạo thành hệ thống mang tính chỉnh thể.

Trong văn học, cần lưu ý các tác phẩm: tục ngữ, ca dao (chứa những tư tưởng triết học rời rạc được phát biểu gần như vô thức), truyện thơ Nôm, các tác phẩm của Khương Tăng Hội, Mâu Tử, văn học đời Lý – Trần, “Thiền uyển tạp anh”. Các tác phẩm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn, Nguyễn Du…

Các tầng văn hoá và các phạm trù triết học[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Trần Chí Lương, văn hóa của bất cứ dân tộc nào cũng gồm ba bộ phận, ba tầng: tầng vật chất, tầng phương thức chỉ đạo giá trị, tầng tâm thái quan niệm - tư duy. Tầng văn hoá vật chất Cổ trung đại Việt Nam còn giữ lại ở những di tích lịch sử, những công trình chống ngoại xâm và thiên tai, những dấu vết cung điện những công trình kiến trúc… đang bị tàn phá theo thời gian. Tầng phương thức chỉ đạo giá trị là những triều đại phong kiến thống trị luôn vận động thăng trầm, hiện nay chỉ còn lưu lại trong sử sách. Sâu sắc và lâu bền nhất là tầng tâm thái quan niệm - tư duy. Nó tồn tại như cơ tầng tâm thức cơ bản của dân tộc. Vì vậy ta tìm thấy ở tầng tâm thái quan niệm – tư duy nhiều tư liệu triết học quí báu.

Các quan niệm văn hóa xã hội Cổ trung đại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Các quan niệm văn hóa xã hội Việt Nam được qui định bởi yếu tố nhân chủng, địa lý, sinh thái Việt Nam. Các Quan niệm đó có tính lịch sử - văn hóa của quan niệm, và đồng thời nó phản ánh các phương pháp cảm nhận đời sống của người Cổ Trung Đại.

Trước hết cần đề cập đến quan niệm về con người tiếp nhận quan niệm “dĩ nhân vi bản”, “thiên nhân cảm ứng” của Trung Hoa, Ấn Độ; người Việt từ lâu đã xác lập hệ thống dọc (trật tự) quần chúng – vua – trời, hệ thống ngang: con người với con người – với xã hội (hài hòa mềm dẻo).

Ngoài ra còn phải kể đến hàng loạt quan niệm: biến dịch, nhân đạo (thương người như thể thương thân), quan niệm tiết dục, vô ngã, trung quân, trung dân (Nguyễn Đình Chiểu)…

Các phương thức tư duy Cổ trung đại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tư duy là ý thức ở trạng thái động, là hành động nhận thức của com người. Tư duy người Việt thiên về trực giác, cảm tính. Triết lý được định hình bằng tư duy khái quát hoá, vì vậy tư tư duy người Việt không có ưu thế về phân tích, thực nghiệm khoa học...

Nói theo Kant “mỗi phạm trù là chiếc gậy để tư duy chống đi”. Qua hoạt động của tư duy, mỗi phạm trù triết học bộc lộ ra. Cho dù thực tế, lối tư duy “đắc ý vô ngôn” ám ảnh không iít toàn bộ hệ thống các phạm trù triết học này…

Thử xác lập các phạm trù triết học[sửa | sửa mã nguồn]

Vũ trụ

Vũ trụ là sự hiện hữu, là bức tranh đa dạng về thế giới (gồm thiên nhiên, nội tâm, ý thức, tư duy). Các phạm trù có liên quan như bản thể, bản thể luận, đại ngã, trời đất, chân - thiện - mỹ.

Đạo

Tri thức xuất phát từ chiêm nghiệm, quan sát cuộc sống, từ trực giác đến logic hoá thành khái niệm qua trừu tượng những sự vật hiện tượng. Các phạm trù có liên quan: đạo lý, đạo đức, đạo làm người.

Mâu thuẫn

Gồm các cặp phạm trù: âm – dương; hữu – vô; thiện – ác; lợi - hại; tiến – thoái… trong thế đối lập, nhưng dựa vào nhau tồn tại, chuyển hoá nhau…

Vận động

Vận động là dạng thức sống động của trời đất, vũ trụ. Nó liên hệ với những phạm trù: dịch, sinh, chu kỳ vũ trụ. khứ (đi) – lai (về); cân bằng, quân bình, nhân quả, bản thể, thịnh – suy...

Không gian

Không gian vũ trụ là vô biên, đồng thời là môi trường cho con người và các sự vật hiện tượng tồn tại. Không gian là vô biên, trước hết nó chứa nền văn minh của khách thể.

Thời gian

Thời gian là qui ước, con người Cổ trung đại xem thời gian là vĩnh cữu.

Con người

Với tư cách là một hữu thể, con người là bộ phận hữu cơ của thế giới. Có sự vận động từ con người đạo lý, con người vũ trụ đến con người cá nhân. Con người được trân trọng, mẫu mực là con người cảm thông với tạo vật – công bằng - khoan dung. Nó liên quan đến: bản ngã, vô ngã. Bằng lối tư duy nhân văn, con người được đề cao không chỉ ở cấp độ nhân bản mà hơn thế nữa con người giao hoà với thế giới thông qua các giác quan và những hành động.

Trí tuệ

Trí tuệ giúp con người nhận thức, tích luỹ tri thức, sáng tạo ra văn hoá. Nó liên quan đến các phạm trù: ý thức, nhận thức, vô thức, nhận thức sai lầm, cố chấp. Tướng - Thể - Dụng.

Yêu thương

Yêu thương thuộc về nhân sinh quan. Yêu thương và thù hằn là hai dạng năng lượng khác nhau. Nó liên quan đến các phạm trù: nhân – nghĩa; trung - hiếu; nghĩa - lợi, khoan dung; hoà; hoà; tích hợp...

Hạnh phúc

Là khát vọng vĩnh cữu của con người, tuỳ thuộc vào thái độ của người cảm nhận. Nếu triết học Ấn Độ (Védànta) không lạc quan cũng không bi quan thì tư tưởng Việt Nam thiên về lạc quan (Phan Ngọc, Lê Ngọc Cầu). Nó liên quan đến các phạm trù: niết bàn, an lạc, thiên đường, bồng lai, đào nguyên...

Mối quan hệ của các phạm trù trong tính chỉnh thể[sửa | sửa mã nguồn]

Từ từng phạm trù trên, mỗi phạm trù đã liên hệ, kéo theo nhiều phạm trù quan hệ gần gũi, làm thành từng hệ thống nhỏ độc lập tương đối. Từng hệ thống nhỏ này kết hợp lại tạo thành một cấu trúc hỉnh thể.

Con người không thể tách khỏi môi trường tự nhiên, xã hội và thế giới nội tâm. Đạo lý tự nhiên bao giờ cũng bao trùm các phạm trù khác, thẩm thấu các phạm trù khác (“Đạo có cơ sở là cái lý tự nhiên, mà gốc là tình người” – Ngô Thời Nhậm – “Đáp Hải Phái Đoàn Hầu”). Có thể xem các phạm trù trên liên hệ với nhau theo một sơ đồ lập thể (cubism) hoặc hình mạng (network), một phạm trù có thể liên hệ với tất cả các phạm trù khác nhưng đồng thời một phạm trù cũng tương tức – tương nhập với các phạm trù khác.

Tính chất những phạm trù triết học Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Qua giao lưu, tiếp biến, tích hợp từ nhiều nguồn khác nhau, lại hình thành trên nền văn hoá lúa nước, lại thường xuyên nhuộm màu khói lửa chiến tranh, con người Việt Nam Cổ trung đại vẫn hiên ngang khẳng định mình nhưng có lẽ chưa có điều kiện để hoàn chỉnh và nâng cao hệ thống triết lý dân tộc. Hơn nữa, tư duy nặng về tiếp biến - âm tính cũng không thuận tiện cho tư duy triết học. Nên về chất, triết học Cổ trung đại Việt Nam vẫn chưa phải là một hệ thống khép kín và chưa có thể đối sánh ngang tầm với triết học Ấn – Hoa.

Léopold Cadìere quan tâm đến triết học bình dân Việt Nam (philosophie pupulaire Annamite), nhiều nhà văn hoá học Việt Nam đã quan tâm đến: tín ngưỡng dân gian bản địa, tín ngưỡng phồn thực và nguồn gốc của Kinh Dịch nguyên thuỷ… Tất nhiên nhiều yếu tố triết học đậm nhạt đã xuất hiện trong thời Cổ Trung đại.

Có nhiều phạm trù vay mượn vỏ ngôn ngữ Ấn Hoa nhưng đả được chọn lọc và đi vào văn hoá dân gian, văn hoá dân tộc, nó có hiện tượng khác đi bởi môi trường văn hoá Việt Nam, hoặc có khi được sử dụng với thang giá trị mới của người Việt. Nên từ đó, nhiều phạm trù đã đi xa hơn, tạo một khoảng cách đáng kể với kinh điển chính thống để nhập cuộc vào vào cuộc sống thiết thực rất đời thường. Người Việt “chỉ tiếp thu những gì phù hợp với đạo lý có sẵn ở Việt Nam” và “những học thuyết, tôn giáo từ nước ngoài... được khai thác, vận dụng kết hợp với lương tri nhân dân để trở thành triết lý đạo đức dân gian”.[1]

Về cơ bản, các phạm trù triết học Việt Nam Cổ trung đại vẫn trong môi trường Triết học Phương Đông, thuộc loại hình Triết học vĩnh cữu (Perennis philosophie)…

Từ những phạm trù triết học được xác lập, ta có thể góp phần tạo những cơ sở cần thiết cho khoa học lịch sử tư tưởng Việt Nam. Trong thế vận động, ta có điều kiện để tìm thấy những tiền đề cần thiết trong sự giao lưu với tư tưởng thiết học Phương tây, chủ nghĩa Mác –Lênin… Xác lập các phạm trù này đồng thời hình thành chức năng dự báo trong tiến trình vận động và phát triển dân tộc, góp phần giải thích lịch sử bằng triết học của văn hoá, triết học của chính trị… Tuy nhiên, đây chỉ là một cách tiếp cận, một đề xuất, cần nhiều đóng góp, sửa chữa, hoàn thiện.

Các triết gia tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Trãi[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm về nội dung này tại Tư tưởng Nguyễn Trãi.

Nguyễn Trãi được coi là một nhà tư tưởng lớn của Việt Nam[2]. Tư tưởng của ông là sản phẩm của nền văn hóa Việt Nam thời đại nhà Hậu Lê khi mà xã hội Việt Nam đang trên đà phát triển[3], đánh dấu một giai đoạn phát triển quan trọng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam[2]. Tư tưởng nhân nghĩa là nội dung cốt lõi trong toàn bộ hệ thống tư tưởng triết học – chính trị của ông.

Nguyễn Bỉnh Khiêm[sửa | sửa mã nguồn]

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Huy Liệu (1966), Nguyễn Trãi, Hà Nội: NXB Khoa học
  • Đoàn Trung Còn: Tam tự kinh, Nxb. Đồng Nai, 1999.
  • Đoàn Trung Còn: Pháp giáo nhà Phật, Nxb. Tôn giáo, 2002.
  • Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng: Các triều đại Việt Nam, (In lần thứ VI), Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2001.
  • Trần Văn giàu: Giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam - Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1985.
  • Trần Văn giàu: Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, t.1,1996, 1.2, 1997.
  • Nguyễn Hùng Hậu: Đại cương Triết học Việt Nam, Nxb. Thuận Hóa, 2005
  • Nguyễn Hùng Hậu: Đại cương Triết học Phật giáo Việt Nam, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Khoa Triết học, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003.
  • Nguyễn Hùng Hậu: Góp phần tìm hiểu tư tưởng triết học Phật giáo Trần Thái Tông, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996.
  • Nguyễn Hùng Hậu: Lược khảo tư tưởng Thiền Trúc Lâm Việt Nam,
  • Nguyễn Hùng Hậu: Triết lý trong văn hóa phương Đông,
  • Nguyễn Hùng Hậu, Doãn Chính, Vũ Văn Gầu: Đại cương lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002.
  • Bùi Biên Hòa: Đạo Phật và thế gian, Nxb. Hà Nội, 1998.
  • Trần Trọng Kim: Nho giáo, Nxb. thành phố Hồ Chí Minh, 1992.
  • Trần Trọng Kim: Phật giáo, Nxb. Tôn giáo, 2003.
  • Nguyễn Hiến Lê: Luận ngữ, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1995.
  • Nguyễn Hiến Lê: Khổng tử, Nxb. Văn hoá thông tin, 1996.
  • Nguyễn Hiến Lê: Trang tử- Nam hoa kinh, Nxb. Văn hoá thông tin, 1994.
  • Nguyễn Hiến Lê: Lão tử- Đạo đức kinh, Nxb. Văn hoá thông tin, 1994.
  • Nguyễn Hiến Lê: Mạnh tử, Nxb. Văn hoá thông tin, 1996.
  • Hầu Ngoại Lư,Triệu Kỷ Bân, Đỗ Quốc Tường: Hiển học Khổng Mặc, Nxb. Sự thật, Hà Nội,1959.
  • Nguyễn Văn Ngọc,Trần Lê Nhân: Cổ học tinh hoa, Nxb. Văn hoá-thông tin, Hà Nội, 2000.
  • Quách Văn Phúc, Lý Văn Phức: Nhị thập tứ hiếu, Nxb. Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 1999.
  • Nguyễn Thu Phong: Tính Thiện trong tư tưởng Đông phương, Nxb. Văn học, thành phố Hồ Chí Minh,1997.
  • Bùi Ngọc Sơn: Việt Nam tinh hoa đạo đức, Nxb. Hà Nội, 2002.
  • Nguyễn Tài Thư (cb): Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập I.
  • Lê Sỹ Thắng (cb): Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập II,
  • Trần Ngọc Thêm: Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nhà xuất bản Tp. Hồ Chí Minh, 2001, (In lần thứ ba).
  • Trần Ngọc Thêm: Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1998.
  • Nguyễn Đăng Thục: Lịch sử triết học phương Đông, Nxb. thành phố Hồ Chí Minh, 1991.
  • Nguyễn Đăng Thục: Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 4, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, 1992.
  • Nguyễn Hữu Trọng: Đạo đức cổ nhân, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2002.
  • Chiêm Trúc: Thuật xử thế của cổ nhân, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2002.
  • Trương Lập Văn cb.: Đạo- triết học phương Đông, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998.
  • Nhiều tác giả: Lịch sử văn học Việt Nam, Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1980.
  • Nhiều tác giả: Một thế kỷ sưu tầm nghiên cứu văn hóa văn nghệ dân gian, Nxb. Văn hóa- Thông tin, 2001.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nguyễn Thế Việt, Truyền thống và cách tân trong các dạng thức kết cấu tiểu thuyết, Tạp chí Văn học, 06/1983
  2. ^ a ă “Về tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi”. Doãn Chính. 
  3. ^ Trần Huy Liệu 1966, tr. 74