Triết học siêu nhân học

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Sự duy linh[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù một số báo cáo của các nhà theo thuyết siêu nhân học về quan điểm tôn giáo hoặc thuộc về duy tâm, hầu hết họ theo thuyết bất khả tri, nhân văn thế tục ! Mặc dù vẫn tồn tại những thái độ không thuộc một tôn giáo vẫn còn hiện hành, một số nhà siêu nhân học vẫn theo đuổi những hy vọng có thể tán thành được của các tôn giáo một cách truyền thống, chẳng hạn như "bất tử", trong khi một số tranh cãi các phong trào tôn giáo mới, có nguồn gốc ở cuối thế kỷ 20, đã chấp nhận một cách rõ ràng mục tiêu transhumanist chuyển đổi điều kiện sống của con người bằng cách áp dụng công nghệ để thay đổi của tâm trí và cơ thể, chẳng hạn như Raëlism. Tuy nhiên, hầu hết các nhà tư tưởng kết hợp những nhà siêu nhân học tập trung vào trọng tâm là những mục tiêu thực tế của việc sử dụng công nghệ để giúp nhân loại được sống lâu hơn và khỏe mạnh, trong khi suy đoán về sự hiểu biết trong tương lai của môn thần kinh học và ứng dụng của kĩ thuật thần kinh sẽ cho phép con người đạt được việc kiểm soát tốt hơn của sự biến đổi tâm thức,mà thường được giải thích là "kinh nghiệm thuộc về tâm linh", và do đó sẽ đạt được những hiểu biết sâu sắc hơn.

Nhiều nhà siêu nhân học tin vào khả năng tương thích của tâm trí con người với phần cứng máy tính, với hàm ý về lý thuyết rằng sự nhận thức của con người một ngày nào đó có thể được chuyển giao cho các phương tiện truyền thông thay thế, một đầu cơ kỹ thuật thường được gọi là "tải lên tâm trí" Một cực xây dựng của ý tưởng này, mà các nhà siêu nhân học quan tâm đến là đề nghị của "Point Omega" bởi ý tưởng của nhà vũ trụ học Frank Tipler. Được vẽ theo ý tưởng trong thang kĩ thuật, Tipler đã nâng cao quan điểm cho rằng sự sụp đổ của vũ trụ hàng tỷ năm do đó có thể tạo ra các điều kiện cho sự tồn tại của nhân loại trong một thực tế mô phỏng trong một siêu máy tính, và do đó đạt được một hình thức thần thánh hóa. Những suy nghĩ của Tipler được lấy cảm hứng từ các tác phẩm của Pierre Teilhard de Chardin, nhà cổ sinh vật học và nhà thần học Jesuit, đã thấy một sự tiến hóa trong sự phát triển của lĩnh vực tư tưởng của con người bao gồm sự nhận thức toàn cầu.

Nhìn từ quan điểm của một số trào lưu Kitô giáo, ý tưởng đưa lên trí óc được khẳng định như một sự phỉ báng đối với các đặc tính cơ thể con người theo niềm tin ngộ đạo. Nhà siêu nhân học và các bậc tiền bối xem trí tuệ của mình cũng được mô tả như là ngoại đạo ngoại trừ Kitô giáo và các nhà bình luận không thuộc một tôn giáo nào.

Cuộc đối thoại đầu tiên giữa nhà siêu nhân học và đức tin là một ngày hội nghị được tổ chức tại trường Đại học Toronto năm 2004. các nhà phê bình Tôn giáo đổ lỗi cho triết lý của nhà siêu nhân học khi họ không cung cấp những chân lý vĩnh cửu cũng không có một mối quan hệ với Thiên Chúa. Họ nhận xét rằng một triết lý bị đánh mấtcủa những niềm tin này rời khỏi nhân loại đưa con người trôi dạt trong một biển sương mù hoài nghi của hậu hiện đại và tình trạng vô tổ chức.

Những nhà siêu nhân học trả lời rằng những lời chỉ trích như vậy phản ánh một sự thất bại để nhìn vào nội dung thực tế của triết lý siêu nhân học, cách xa những sự hoài nghi, được bắt nguồn từ thái độ lạc quan, duy tâm tìm lại giác ngộ Sau cuộc đối thoại này, William Sims Bainbridge,một nhà xã hội học thuộc lĩnh vực tôn giáo, đã tiến hành một nghiên cứu thí điểm,và đã công bố trên Tạp chí Tiến hóa và Công nghệ, cho thấy rằng thái độ thuộc tôn giáo đã được tiêu cực tương quan với sự chấp nhận của những ý tưởng siêu nhân học, và chỉ ra rằng các cá nhân với thế giới quan tôn giáo cao có xu hướng nhận thức siêu nhân học là trực tiếp cạnh tranh(mặc dù cuối cùng vô ích) sỉ nhục đối với niềm tin tâm linh của họ.

Kể từ năm 2009, Học viện Tôn giáo của Mỹ tổ chức một hội nghị "siêu nhân học và tôn giáo" tham khảo ý kiến trong cuộc họp hàng năm của các học giả trong lĩnh vực nghiên cứu tôn giáo tìm kiếm để xác định và phê bình đánh giá bất kỳ tín ngưỡng tôn giáo ngầm rằng có thể là cơ sở tuyên bố chính về siêu nhân học và giả định, xem xét làm thế nào những nhà siêu nhân học thách thức giới truyền thống tôn giáo phát triển ý tưởng của họ về tương lai của con người, đặc biệt là khách hàng tiềm năng trong việc chuyển đổi con người, cho dù bằng phương tiện công nghệ khác; và cung cấp các đánh giá quan trọng và xây dựng một tương lai hình dung ra sự tín nhiệm cao trong công nghệ nano, người máy, và công nghệ thông tin để đạt được sự bất tử ảo và tạo ra một loài posthuman cao.

Tranh luận[sửa | sửa mã nguồn]

Một số yếu tố của tư tưởng và nghiên cứu siêu nhân học được xem như các nhà phê bình trong lĩnh vực khoa học vì nó góp phần khơi nguồn đáng kể từ những dòng chính.Khái niệm và triển vọng của việc tăng cường nhân lực và các vấn đề liên quan cũng khơi dậy một sự tranh cãi trong cộng đồng. Những lời chỉ trích của những nhà siêu nhân học và kiến nghị của họ diễn ra dưới hai hình thức chính: những người phản đối khả năng mục tiêu siêu nhân học đã đạt được (thực tế chỉ trích); và những người phản đối các nguyên tắc đạo đức hoặc xem thế giới duy trì đề nghị siêu nhân học hoặc siêu nhân học cơ bản (những lời chỉ trích đạo đức). Tuy nhiên, hai chủng này đôi khi hội tụ và chồng chéo lên nhau, đặc biệt là khi xem xét đạo đức sinh học của con người thay đổi bộ mặt của kiến thức không đầy đủ. Các nhà phê bình hoặc đối thủ thường thấy các mục tiêu của những nhà siêu nhân học đặt ra mối đe dọa đến giá trị con người. Một số người cũng cho rằng sự vận động mạnh mẽ của một phương pháp tiếp cận siêu nhân học để cải thiện điều kiện sống của con người có thể hướng sự chú ý và các nguồn lực từ các giải pháp xã hội. Như hầu hết các nhà siêu nhân học hỗ trợ những thay đổi không thuộc công nghệ cho xã hội, chẳng hạn như sự lây lan của các quyền dân sự và quyền tự do dân sự, và hầu hết các nhà phê bình siêu nhân học hỗ trợ các tiến bộ công nghệ trong các lĩnh vực như thông tin liên lạc và chăm sóc sức khỏe, sự khác biệt thường là một vấn đề cần được nhấn mạnh. Đôi khi, tuy nhiên, có những bất đồng mạnh mẽ về những nguyên tắc liên quan, với các quan điểm khác nhau về nhân loại, bản chất con người và đạo đức của khát vọng siêu nhân học. ít nhất một tổ chức lợi ích cộng đồng, có trụ sở Di truyền học và Xã hội, được thành lập vào năm 2001, với mục tiêu cụ thể của đối lập chương trình nghị sự siêu nhân học có liên quan đến sửa đổi gien sinh học của con người, chẳng hạn như nhân bản con người đủ tháng và công nghệ lựa chọn mầm. Viện Công nghệ sinh học và tương lai con người của Đại học Chicago-Kent của Luật quan thấu suốt các ứng dụng đề xuất của di truyền và công nghệ nano sinh học của con người trong một môi trường học tập.

Một số sự phê phán được biết đến rộng rãi nhất của chương trình siêu nhân học tham khảo liên quan đến tiểu thuyết và bộ phim hư cấu. Những tác phẩm nghệ thuật, mặc dù đại diện cho trí tưởng tượng trên thế giới hơn là phân tích triết học, được sử dụng như những tiêu chuẩn cho một số trong những lập luận chính thức hơn.

Tính khả thi[sửa | sửa mã nguồn]

Trong một cuốn sách năm 1992, nhà xã hội học Max Dublin đã chỉ ra nhiều dự đoán những thất bại trong quá khứ của tiến bộ công nghệ và lập luận rằng những tiên đoán tương lai học hiện đại sẽ chứng minh sự không chính xác tương tự như vậy. Ông cũng phản đối những gì ông xem là phi khoa học, cuồng tín, và chủ nghĩa hư vô trong một số việc thúc đẩy các nguyên nhân siêu nhân học, và nói song song với lịch sử tồn tại với các tôn giáo và học thuyết Cộng sản. Mặc dù nhìn chung có cùng quan điểm với siêu nhân học, giáo sư y tế cộng đồng Gregory Stock hoài nghi về tính khả thi kỹ thuật và sự hấp dẫn đại chúng của hệ thống vi sinh vật được nâng cao bằng công nghệ của nhân loại được dự đoán bởi Raymond Kurzweil, Hans Moravec và Kevin Warwick. Ông nói rằng trong suốt thế kỷ 21, con người sẽ tìm thấy chính mình hòa nhập sâu vào hệ thống máy móc, nhưng sẽ vẫn phụ thuộc vào sinh học. Sự thay đổi tính cách và hình mẫu nhân vật riêng của họ và sẽ phát sinh không phải từ bộ phận máy móc được lấp vào con người mà là từ thao tác trực tiếp về di truyền học của họ, sự trao đổi chất, và hóa sinh. Những nhà tư tưởng bảo vệ khả năng thay đổi điểm thúc đẩy một mô hình trong quá khứ của sự gia tăng theo cấp số nhân trong các năng lực công nghệ của nhân loại. Kurzweil phát triển vị trí này trong cuốn sách năm 2005 của ông, The Singularity is Near.

Các cuộc tranh luận[sửa | sửa mã nguồn]

Đã được lập luận rằng suy nghĩ siêu nhân học trong con người cố gắng để thay thế mình cho Đức Chúa Trời. Cách tiếp cận này được minh họa vào năm 2002 Vatican tuyên bố Hiệp thông và Quản lý: con người sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa, trong đó có nói rằng, "Thay đổi nhận dạng di truyền của con người là một con người thông qua việc sản xuất ra một động vật thấp hơn con người là việc làm hoàn toàn vô đạo đức ", ngụ ý rằng" con người có toàn quyền xử lý đối với bản chất sinh học của riêng mình ". Đồng thời, tuyên bố này cho rằng sáng tạo của một đấng siêu nhân, tinh thần cao là "không thể tưởng tượng", kể từ khi thực sự cải thiện chỉ có thể đến thông qua kinh nghiệm tôn giáo và "thực hiện đầy đủ các hình ảnh Thiên Chúa". Nhà thần học Kitô giáo và giáo dân hoạt động của một số nhà thờ và giáo phái đã bày tỏ sự phản đối tương tự siêu nhân học và tuyên bố rằng các Kitô đã được tận hưởng, tuy nhiên khám nghiệm tử thi, hứa hẹn như kéo dài tuổi thọ không xác định hoặc bãi bỏ khổ đau. Theo quan điểm này, siêu nhân học chỉ là một đại diện của dòng dài của phong trào không tưởng mà tìm cách cố gắng để tạo ra "thiên đường trên trái đất".

Xoắn ốc tính đa dạng sinh học là một mô tả của sự phức tạp multileveled của các sinh vật trong môi trường của họ, được xem bởi nhiều nhà phê bình như là rào cản cuối cùng để tham vọng transhumanist.

Phê bình khác là nhằm mục đích chủ yếu là ở tổng hợp sinh học, Jeremy Rifkin định nghĩa là "nâng cấp của các sinh vật hiện có và thiết kế của những người hoàn toàn mới với mục đích hoàn thiện hiệu suất của họ", và cụ thể hơn, cố gắng để theo đuổi mục tiêu siêu nhân học bằng cách biến đổi di truyền cho phôi thai người để tạo ra các "nhà thiết kế trẻ". Nó nhấn mạnh vấn đề tính đa dạng sinh học và không thể tiên đoán của những nỗ lực để hướng dẫn sự phát triển của các sản phẩm của sự tiến hóa sinh học. Lập luận này, xây dựng đặc biệt là các nhà sinh vật học Stuart Newman, được dựa trên sự thừa nhận rằng nhân bản và kỹ thuật di truyền dòng mầm của động vật dễ bị lỗi và vốn đã đột phá phát triển phôi thai. Theo đó, vì vậy nó được lập luận, nó sẽ tạo ra những rủi ro không thể chấp nhận được để sử dụng các phương pháp như vậy trên phôi thai người. Thực hiện các thí nghiệm, đặc biệt là những người thân với những hậu quả sinh học vĩnh viễn, đối với con người phát triển, do đó sẽ là vi phạm các nguyên tắc được chấp nhận quản lý nghiên cứu trên đối tượng con người (xem Tuyên bố năm 1964 Helsinki). Hơn nữa, vì cải tiến trong các kết quả thí nghiệm trong một loài là không tự động chuyển giao cho một loài mới mà không cần thử nghiệm thêm, có được tuyên bố là không có con đường đạo đức để thao tác di truyền của con người ở giai đoạn đầu phát triển.

Như một vấn đề thực tế, tuy nhiên, các giao thức quốc tế về nghiên cứu chủ thể không thể trình bày một trở ngại pháp lý để cố gắng bởi các nhà siêu nhân học và những người khác để cải thiện con cái của họ bằng công nghệ lựa chọn mầm. Theo học giả pháp lý Kirsten Rabe Smolensky, pháp luật hiện hành sẽ bảo vệ các bậc cha mẹ lựa chọn để tăng cường hệ gen của con em mình trách nhiệm pháp lý trong tương lai phát sinh từ kết quả bất lợi của thủ tục.

Nhà tư tưởng tôn giáo liên minh với các mục tiêu siêu nhân học, chẳng hạn như các nhà thần học Ronald Cole-Turner và Ted Peters, từ chối đối số đầu tiên, giữ học thuyết "đồng sáng tạo" cung cấp có nghĩa vụ phải sử dụng kỹ thuật di truyền để cải thiện sinh học của con người. Siêu nhân học và những người ủng hộ khác của kỹ thuật di truyền của con người không được miễn nhiễm đối số thứ hai vượt ra khỏi tầm tay, trong chừng mực có một mức độ cao của sự không chắc chắn về kết quả khả năng của các thí nghiệm biến đổi gen trong con người. Tuy nhiên, nhà sinh vật học James Hughes cho rằng một trong những tuyến đường đạo đức có thể để các thao tác di truyền của con người ở giai đoạn đầu phát triển là xây dựng các mô hình máy tính của bộ gen người, các protein xác định, và kỹ thuật mô, ông lập luận rằng nó cũng mã hóa cho nó.Với sự tiến bộ theo cấp số nhân trong sinh học, Hughes tin rằng một mô hình ảo của biểu thức di truyền trong cơ thể con người sẽ không xa phía sau và nó sẽ sớm được có thể đẩy nhanh tiến độ phê duyệt sửa đổi di truyền bằng cách mô phỏng tác động của chúng đối với con người ảo. Do đó, giáo sư sức khỏe Gregory chỉ ra điểm nhiễm sắc thể nhân tạo như là một sự thay thế an toàn hơn bị cáo buộc để các kỹ thuật hiện có di truyền Nhà siêu nhân học cho rằng cha mẹ có trách nhiệm đạo đức gọi là sinh sản hữu ích để giúp cho việc sử dụng của các phương pháp này, nếu và khi chúng sinh được được hợp lý an toàn và hiệu quả, để có các trẻ em lành mạnh có thể. Họ nói thêm rằng trách nhiệm này là một phán đoán luân lý tốt nhất để cho lương tâm cá nhân chứ không phải là áp dụng theo quy định của pháp luật, trong tất cả các trường hợp cực đoan. Trong bối cảnh này, sự nhấn mạnh về quyền tự do của sự lựa chọn được gọi là tự do sinh sản.

Sự khinh miệt đối với cơ thể xác thịt[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà triết học Mary Midgley, trong cuốn sách Khoa học là sự cứu rỗi (năm 1992), dấu vết các khái niệm của việc đạt được sự bất tử bằng cách siêu việt vật chất trong cơ thể của con người (lặp lại trong các nguyên lý về sự thay đổi của con người được truyền bộ não) do một nhóm các nhà tư tưởng nam giới khoa học của đầu thế kỷ 20, bao gồm JBS Haldane và các thành viên của mình. Bà chỉ ra rằng những ý tưởng này là "những giấc mơ gần như mang vẻ khoa học và tiên tri" - liên quan đến tầm nhìn để thoát khỏi cơ thể xác thịt cùng với "sự bê tha, không kiểm soát được sức mạnh tưởng tượng" của con người. Luận cứ của cô tập trung vào những gì bà cảm nhận như những suy đoán phi khoa học và không hợp lý, nỗi sợ hãi của cái chết sẽ đến trong tưởng tượng của các nhà tư tưởng, coi thường người thế tục, và tầm nhìn xa xôi theo thuyết mạt thế.

Những gì được coi là sự khinh miệt đối với xác thịt trong các tác phẩm của Marvin Minsky, Hans Moravec, và một số người đi theo triết học về sự thay đổi của con người cũng đã từng là mục tiêu của các nhà phê bình khác cho những gì họ yêu cầu đối với quan niệm về cơ thể con người. Phản ánh một dòng dõi chỉ trích nữ quyền của chương trình dành cho những người theo đi theo triết học về sự thay đổi của con người, nhà triết học Bordo Susan đã chỉ ra rằng: "nỗi ám ảnh hiện đại với cơ thể mảnh mai, trẻ trung, và hoàn hảo" không những ảnh hưởng đến nữ giới mà còn cả nam giới, nhưng trong các cách khác nhau, như là "biểu hiện hợp lý (nếu cực đoan) của sự lo lắng và tưởng tượng được nuôi dưỡng bởi nền văn hóa của chúng ta."

Một số nhà phê bình đặt nghi ngờ về các tác động xã hội khác của phong trào đối với sự biến đổi cơ thể. Nhà khoa học chính trị Klaus-Gerd Giesen đã khẳng định rằng, triết học về sự thay đổi con người tập trung về thay đổi thể xác con người để trình bày một khối ảo giác nhưng được kết hợp lại bằng sự nối tiếp từng phần nhỏ riền biệt và sự kết hợp cơ thể trong một nền văn hóa của người tiêu dùng. Nick Bostrom khẳng định cụ thể rằng những mong muốn để lấy lại sự trẻ trung và vượt qua những hạn chế tự nhiên của cơ thể con người, nói chung, là có nền văn hóa chung và lịch sử chung cho mọi người từ đó sẽ không còn gắn liền duy nhất với một nền văn hóa nào trong thế kỷ 20. Ông lập luận rằng chương trình dành cho người theo triết học về sự thay đổi của con người là một nỗ lực đáng được truyền thông rộng rãi và mong muốn đó cũng đáng để đưa vào một dự án khoa học, ngang bằng với dự án Bộ gen người và để đạt được niềm hy vọng lâu đời nhất của nhân loại, chứ không phải là một tưởng tượng thuộc về trẻ con hay xu hướng xã hội.

Sự tầm thường của bản sắc con người[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Mỹ, những người Amish là một nhóm tôn giáo có thể được biết đến nhiều nhất vì họ tránh dung một số công nghệ hiện đại.Những người theo triết học về sự thay đổi của con người đã vẽ một đường song song bằng cách cho rằng trong tương lai gần có thể sẽ có "Humanish" (những người đã thay đổi để sống tốt hơn), những người chọn cách vẫn "ở hình thức là con người" sẽ không áp dụng công nghệ lỹ thuật để nâng cao con người, những ai có lựa chọn như vậy thì họ tin rằng điều đó phải được tôn trọng và bảo vệ.

Trong cuốn sách Enough: Staying Human in an Engineered Age 2003 của nhà đạo đức học Bill McKibben đã lập luận dài hơn so với nhiều người về việc các máy móc công nghệ được mặc nhiên công nhận hoặc được hỗ trợ bởi những người theo thuyết sự thay đổi của con người, bao gồm việc lựa chọn gen, thuốc na-nô, và chiến lược kéo dài tuổi thọ. Ông tuyên bố rằng nó sẽ là sai về mặt đạo đức cho con người để làm xáo trộn các khía cạnh cơ bản của mình (hoặc con cái của họ) trong một nỗ lực để khắc phục những hạn chế phổ biến của con người, chẳng hạn như dễ bị dẫn đến sự lão hóa, tuổi thọ tối đa, và hạn chế sinh học về khả năng thể chất và nhận thức.

Nỗ lực để "cải thiện" bản thân thông qua các thao tác như vậy sẽ loại bỏ những hạn chế mà chúng mang đến một bối cảnh cần thiết cho những kinh nghiệm của sự lựa chọn có ý nghĩa của con người. Ông tuyên bố rằng cuộc sống của con người sẽ không còn có nhiều ý nghĩa trong một thế giới mà có thể vượt qua giới hạn mang tính chất công nghệ. Ngay cả những mục tiêu của việc sử dụng công nghệ lựa chọn mầm cho các mục đích điều trị bệnh rõ ràng cũng nên được từ bỏ, vì nó chắc chắn sẽ tạo ra sự cám dỗ để làm xáo trộn một số thứ chẳng hạn như khả năng nhận thức. Ông lập luận rằng điều có thể đối với các xã hội được hưởng lợi từ từ bỏ các công nghệ đặc biệt, ví dụ như đời nhà Minh - Trung Quốc, Tokugawa - Nhật Bản và Amish đương đại.

Những người theo học triết học về sự thay đổi của con người và những người ủng hộ sử dụng công nghệ để thay đổi sinh học của con người, chẳng hạn như nhà báo khoa học Ronald Bailey, đã chủ quan từ chối thẳng thừng quan niệm cho rằng cuộc sống sẽ được trải nghiệm như là vô nghĩa nếu một số hạn chế của con người được khắc phục với công nghệ tăng cường. Họ lập luận rằng các công nghệ này sẽ không loại bỏ phần lớn bộ mặt con người, những thách thức cá nhân và xã hội. Họ cho rằng một người có khả năng giỏi hơn sẽ giải quyết các dự án nâng cao hơn và khó khăn hơn, cũng như tiếp tục tìm thấy ý nghĩa trong cuộc đấu tranh để đạt được thành tựu xuất sắc. Bailey cũng tuyên bố rằng ví dụ lịch sử của McKibben là thiếu sót, và hỗ trợ các kết luận khác nhau khi nghiên cứu chặt chẽ hơn. Ví dụ, vài nhóm thận trọng hơn so với người Amish về việc ôm lấy công nghệ mới, mặc dù vậy họ lại lánh xa truyền hình nhưng lại sử dụng ngựa, xe đẩy ngựa là phương tiện di chuyển, một số người cũng sẵn sàng chào đón các khả năng của liệu pháp gen kể từ khi giao phối cận huyết đã gây ảnh hưởng sức khỏe và một số bệnh di truyền hiếm gặp.

Phân chia tầng lớp[sửa | sửa mã nguồn]

Một số nhà phê bình của thuyết siêu nhân học tự do chủ nghĩa đã tập trung vào kết quả kinh tế - xã hội trong xã hội, trong đó phân chia giữa người giàu và người nghèo đang gia tăng. Ví dụ, Bill McKibben cho thấy rằng các công nghệ mới nâng cao cuộc sống con người sẽ không tương xứng dành cho những người có nguồn tài chính lớn hơn, do đó làm tăng thêm khoảng cách giữa người giàu và người nghèo và tạo ra sự "phân chia tầng lớp". Lee M. Silver, một nhà văn sinh vật học và khoa học đặt ra thuật ngữ "reprogenetics" (nhân bản gen) và hỗ trợ các ứng dụng của nó, dù sao cũng bày tỏ lo ngại rằng những phương pháp này có thể tạo ra một xã hội hai tầng biến đổi gen "có" và "không có" nếu xã hội dân chủ chịu cải cách tụt hậu so với thực hiện của các công nghệ nâng cao. Các nhà phê bình người đưa ra các luận cứ đó nói không thất thiết các giả định của những người theo thuyết biến đổi con người được chấp nhận theo quan điểm của họ rằng biến đổi con người là một giá trị tích cực, nó nên được khuyến khích, hoặc thậm chí bị cấm vì nó có thể bổ sung thêm sức mạnh khi đã hoàn thiện. Năm 1997, bộ phim Gattaca đã mô tả về một xã hội đen tối, trong đó tầng lớp xã hội của một người phụ thuộc vào những biến đổi di truyền được trích dẫn bởi những nhà phê bình ủng hộ những quan điểm này.

Những lời bình phẩm cũng được các nhà bào chữa không tán thành theo thuyết biến đổi con người đề cập đến, đặc biệt là sự tự mô tả của những người tin vào sự biến đổi của con người, họ tin rằng phần lớn các vấn đề về xã hội, môi trường ở hiện tại cũng như ở tương lai (chẳng hạn như tình trạng thất nghiệp và cạn kiệt nguồn tài nguyên) cần được giait quyết bằng sự kết hợp giữa chính trị và giải pháp công nghệ (chẳng hạn như một hệ thống chăm sóc sức khỏe con người phải có biên nhận bao gồm các công nghệ nâng cao con người) để làm giảm bớt vấn đề này càng nhiều càng tốt, hơn là cố gắng cấm các công nghệ nâng cao của con người. Sau này, ông lập luận thêm, thực sự có thể làm vấn thêm tầm trọng bằng cách làm cho các công nghệ này không an toàn hoặc chỉ dành cho những người giàu có ở thị trường chợ đen địa phương hoặc trong nước nơi bị cấm không được thực thi.

Mối đe dọa đến đạo đức và dân chủ[sửa | sửa mã nguồn]

Các lập luận khác nhau cũng đưa ra ảnh hưởng của một xã hội sử dụng công nghệ để biến đổi con người có thể trở thành "địa ngục trần gian - nơi mà người ta tưởng tượng rằng mọi thứ đều tệ hại, chỉ thấy toàn cảnh đói khổ, áp bức, khủng bố - được mô tả trong tiểu thuyết Brave New World của tác giả Aldous Huxley.Trong các tác phẩm của Leon Kass, sự sợ hãi được hình thành từ các tổ chức khác nhau và thể hiện bằng hành động khác nhau, nó được đánh giá là nền tảng cho xã hội văn minh sẽ bị hư hỏng và phá hủy. Trong quyển sách Our Posthuman Future năm 2002 và các bài báo tạp chí về Chính sánh nước ngoài năm 2004 của ông, nhà kinh tế chính trị và triết học Francis Fukuyama đã chỉ rõ ra ý tưởng nguy hiểm nhất thế giới của thuyết siêu nhân học bởi vì ông tin tưởng rằng nó có thể làm suy yếu những lý tưởng bình đẳng của nền dân chủ nói chung và nền dân chủ tự do nói riêng thông qua một sự thay đổi cơ bản của "bản chất con người". Nhà triết học xã hội Jürgen Habermas cũng làm một lập luận tương tự trong cuốn sách The Future of Human Nature (Tương lai của bản chất loài người) năm 2003, trong đó ông khẳng định rằng quyền tự chủ đạo đức không phải phụ thuộc vào tiêu chuẩn đơn phương của một người nào đó áp đặt. Do đó Habermas đưa ra đề xuất rằng "những loại đạo đức" con người sẽ bị suy yếu do sự thay đổi di truyền trong giai đoạn phôi. Các nhà phê bình như Kass, Fukuyama và một loạt các tác giả Kitô giáo chô rằng nỗ lực đáng kể làm thay đổi sinh học con người vốn dĩ là việc làm vô đạo đức mà còn đe dọa trật tự xã hội. Ngoài ra, họ lập luận rằng việc thực hiện các công nghệ như vậy có thể dẫn đến sự "du nhập" hệ thống xã hội phân cấp hoặc tạo ra nơi đặt các phương tiện kiểm mới về kiểm soát trong tay của những kẻ độc tài toàn trị.Joseph Weizenbaum người tiên phong của trí tuệ nhân tạo cũng đưa ra chỉ trích những gì ông thấy, như trong ngôn ngữ và ý tưởng của một số đồng nghiệp của ông có xu hướng chán đời. Đặc biệt là Marvin Minsky và Hans Moravec, bằng cách phá giá các tổ chức con người khi mỗi lần gia nhập, mở rộng bài diễn thuyết cho các chính sách chia rẽ xã hội và phi dân chủ.

Phi nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà hoạt động chính trị sinh học Jeremy Rifkin và nhà sinh vật học Stuart Newman, cả hai cũng đồng ý công nghệ sinh học có sức mạnh làm thay đổi sâu sắc cơ thể để có thể nhận dạng được. Lập luận của họ chống lại các kỹ thuật di truyền của con người bởi vì họ sợ làm mờ ranh giới giữa con người và tạo tác. Nhà triết học Keekok Lee nhìn thấy sự phát triển này như là một phần thúc đẩy xu hướng hiện đại hóa, trong đó công nghệ đã được sử dụng để biến đổi "tự nhiên" vào trong "những gì có sẵn". Trong trường hợp xấu nhất, điều này có thể dẫn đến việc sản xuất nhân bản con người làm nô lệ cho " quái vật", chẳng hạn như sự pha trộn của nhiều nguồn khác nhau tạo ra người quái vật Chimera (quái vật trong thần thoại Hy Lạp, đuôi rắn, mình dê, đầu sư tử biết phun lửa); thậm chí là sự sai lệch còn tạo ra những thứ thấp hơn con người hoặc phi nhân – không phải con người mà họ đến từ một xã hội hoặc một hệ thống sinh thái có vấn đề. The film Blade Runner (1982), the novels The Boys From Brazil (1978) and The Island of Dr. Moreau (1896) mô tả các yếu tố kịch bản như vậy, nhưng 1818 cuốn tiểu thuyết Frankenstein của Mary Shelley thường được ám chỉ bởi các nhà phê bình những người cho rằng công nghệ sinh học có thể khách quan tạo ra những người vô đạo đức và chưa đạt tiêu chuẩn là một con người. Các nhà phê bình đó cũng đề nghị và đưa các biện pháp đo lường nghiêm ngặt được thực hiện để ngăn chặn những gì họ miêu tả như khả năng mất nhân tính mà chưa từng xảy ra trước đây, thường ban hành kèm trong các văn bản cấm quốc tế về việc chống kỹ thuaajnt di truyền ở con người.

Trên tạp chí Reason, bài viết của Ronald Bailey như một tuyên bố gieo hoang mang sợ hãi đối với nhân loại. Ông đã cáo buộc các đối thủ nghiên cứu liên quan đến việc sửa đổi cơ thể các động vật khi họ dự đoán tạo ra các sinh vật ở mức độ thấp hơn con người nhưng cũng có trí thông minh và bộ não tương tự người hiện đại. Bailey khẳng định rằng mục đích tiến hành nghiên cứu trên động vật chỉ đơn giản là tạo ra lợi ích chăm sóc sức khỏe của con người.

Một lời giải đáp khác đến từ các nhà lý luận tin vào thuyết biến đổi con người vẫn còn bản chất con người, họ phản đối những gì họ mô tả về thuyết hình người làm nguyên nhân cho các lời bình phẩm của nghiên cứu này, điều này được nhà văn khoa học Isaac Asimov đặt tên là "Frankenstein complex". Họ cũng tranh cãi rằng trong điều kiện tự nhận thức thì loài người nhân bản, người quái vật Chimera hay các loài động vật được nâng cấp tất cả họ là những người duy nhất xứng đáng được tôn trọng nhân phẩm, nhân quyền và quyền công dân. Họ kết luận rằng vấn đề đạo đức không phải là tạo ra những gì được gọi là quái vật mà họ diễn giải rằng những sáng tạo được coi là "nhân tố kinh dị" và nạn "chủ nghĩa phân biệt chủng tộc" mới nên được phán xét và điều trị như đối quái vật.

Ám ảnh của việc cưỡng chế thuyết ưu sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Một số nhà phê bình của thuyết siêu nhân học cho rằng một vị đã thiên vị đối sự ưu đãi cho người khuyết tật trong việc sử dụng các khái niệm như "sự hạn chế", "tăng cường" và "cải thiện". Một số người cũng tìm hiểu ở thuyết ưu sinh cũ, thuyết tiến hóa xã hội của Darwin và sự cạnh tranh của những loài ưu tú cũng như các chương trình của trước đây cảnh báo về những nguyên nhân xúc tiến công nghệ nâng cao thuyết ưu sinh có thể được khuyến khích trong sự vô ý. Một số khác lo sợ " các cuộc đấu tranh thuyết ưu sinh"trong tương lai như một viễn cảnh xấu nhất: sự trở lại của phân biệt đối xử cưỡng chế di truyền nhà nước bảo trợ và vi phạm nhân quyền, như bắt buộc khử trùng đối với người có khuyết tật di truyền, tiêu diệt các cơ cấu của sự phân biệt chủng tộc, diệt chủng và các loài được đánh giá là hạng thấp kém hơn. Giáo sư luật y tế George Annas và giáo sư luật công nghệ Lori Andrew đều ủng hộ mạnh mẽ cho vấn đề này. Họ nói rằng việc sử dụng công nghệ này có thể dẫn đến cuộc chiến tranh giành đẳng cấp của những phiên bản con người-người siêu nhân (người nhân bản có hình dáng giống họ nhưng thông minh, mạnh khỏe hơn).

Phần lớn trong lịch sử thuyết ưu sinh đã thể hiện bản thân nó như một phong trào để tiêu diệt "đơn vị di truyền" không tương ứng và khuyến khích nhân giống di truyền có chọn lọc thích hợp. Các tổ chức lớn của người theo thuyết biến đổi con người đã cưỡng chế một cách mạnh mẽ đến các chính sách như vậy và phản đối các giả định phân biệt đối xử, phân biệt chủng tộc cùng với các khái niệm ngụy khoa học rằng những cải tiến của thuyết ưu sinh có thể đươc thực hiện một cách trọn vẹn tong một khung thời gian có ý nghĩa thực tế thông qua sinh sản có chọn lọc của con người. Thay vào đó, một số nhà tư tưởng của học thuyết siêu nhân học lại ủng hộ một "thuyết ưu sinh mới" đó là một hình thức của thuyết ưu sinh tự do bình đẳng. Trong cuốn sách From Chance to Choice: Genetics and Justice (Từ cơ hội để lựa chọn: Di truyền học và Tư pháp - năm 2002) các nhà nghiên cứu luân lý sinh vật (không theo thuyết siêu nhân học) gồm: Allen Buchanan, Dan Brock, Norman Daniels and Daniel Wikler đã lập luận rằng trong các xã hội tự do có nghĩa vụ khuyến khích như mở rộng việc sử dụng các công nghệ nâng cao thuyết ưu sinh càng nhiều càng tốt (nếu như các chính sách như vậy không vi phạm quyền sinh sản của cá nhân nào hoặc gây áp lực quá mức đối với bậc cha mẹ khi sử dụng công nghệ này) để tối đa hóa sức khỏe cộng đồng và giảm thiểu sự bất bình đẳng có thể xảy ra từ cải tiến di truyền di truyền tự nhiên và di truyền không tự nhiên. Dù sao thì hầu hết các nhà theo tin vào học thuyết biến đổi con người cũng giữ quan điểm tương tự về sử dụng thuật ngữ "eugenics" (thuyết ưu sinh) hơn là thuật ngữ "germinal choice" hoặc "reprogentics" (lựa chọn phôi, mầm) để tránh nhầm lẫn hay làm mất uy tín của các thuyết khác và phong trào thuyết ưu sinh thực tiễn vào đầu thế kỷ 20.

Các rủi ro đang tồn tại[sửa | sửa mã nguồn]

Ấn tượng bởi một đoạn phát biểu trong tuyên ngôn về chủ nghĩa nguyên thủy vô chính phủ của Unabomber Theodore Kaczynski (trích trong quyển sách The Age of Spiritual Machines, Kurzweil 1999), nhà khoa học máy tính Bill Joy đã trở thành một nhà phê bình đáng chú ý của các công nghệ mới nổi. Bài luận "Why the future doesn’t need us" (Tại sao tương lai không cần chúng ta) của Joy đã cho rằng con người có thể đảm bảo sự tuyệt chủng của mình bằng cách phát triển công nghệ ưa chuộng bởi thuyết biến đổi con người. Ông cũng nói rằng, một viễn cảnh đen tối nơi mà chúng ta mất kiểm soát đối với sự sao chép của các rô-bốt nanô có thể dẫn đến việc rô-bốt sẽ tiêu thụ toàn bộ hệ sinh thái và hậu quả là "ăn hết môi trường" toàn cầu. Sau lời cảnh báo đó Joy đã bị bắt giữ bởi các tổ chức công nghệ thích hợp như nhóm tổ chức ETC. (ETC: một tổ chức quốc tế để bảo tồn và thăng tiến bền vững của sự đa dạng văn hóa và sinh thái nhân quyền). Triết lý bảo thủ chống lại công nghệ hiện đại tự mô tả của Kalle Lasn – một kẻ gây nhiễu văn hóa, người đồng tác giả quyển "Cyborg Manifesto" (1985) của Donna Haraway đã viết lại vào năm 2001 theo giọng văn phê phán chăm biếm đối với chủ nghĩa xã hội không tưởng nhưng lại viết theo bút pháp như đang đề cao nó - cũng nêu lên những quan điểm tương tự. Lasn lập luận rằng sự phát triển công nghệ cao phải được loại bỏ hoàn toàn nếu nó được sử dụng với mục đích chắn chắn là phục vụ lợi ích của công ty với các hậu quả nghiêm trọng về xã hội và môi trường. Trong cuốn sách 2003 của mình giờ phút cuối cùng của chúng tôi, thiên văn Hoàng gia Anh Martin Rees lập luận rằng khoa học và công nghệ tiên tiến mang lại càng nhiều nguy cơ xảy ra thảm họa như một cơ hội cho sự tiến bộ. Tuy nhiên, Rees không ủng hộ một ngừng hoạt động khoa học, ông gọi cho an ninh chặt chẽ hơn và có thể chấm dứt sự cởi mở khoa học truyền thống. Những người ủng hộ nguyên tắc phòng ngừa, chẳng hạn như nhiều người trong phong trào môi trường, cũng ủng hộ chậm, tiến độ cẩn thận hoặc dừng lại ở các khu vực có khả năng gây nguy hiểm. Một số nhà tiên tri tin rằng trí tuệ nhân tạo và robot trình bày khả năng của các hình thức thay thế nhận thức có thể đe dọa cuộc sống con người. Hệ thống nhượng quyền thương mại Terminator mô tả ngày tận thế của sự xuất hiện của một trí tuệ nhân tạo trở thành siêu nhân có trí thông minh vượt trội – trích trong Skynet, một mạng máy tính ác tính bắt đầu một cuộc chiến tranh hạt nhân để tiêu diệt loài người, thường được trích dẫn bởi một số tham gia vào cuộc tranh luận này.

Những người theo thuyết siêu nhân học không nhất thiết phải loại trừ các hạn chế cụ thể về công nghệ mới nổi như vậy là để làm giảm bớt các khách hàng tiềm năng của nguy cơ hiện hữu. Nói chung, tuy nhiên, họ chống lại đề xuất dựa trên nguyên tắc phòng ngừa là thường không thực tế và đôi khi thậm chí phản tác dụng, như trái ngược với hiện tại của triết học siêu nhân học của Gaiga mà họ tuyên bố là cả hai thực tế và hiệu quả. Trong kết nối series phim truyền hình của mình, khoa học sử học James Burke bóc tách một số thay đổi công nghệ, bao gồm tiên đoán và hạn chế của việc điều tra mở. Burke câu hỏi thực tiễn của một số những quan điểm, nhưng kết luận rằng việc duy trì tình trạng hiện tại của cuộc điều tra và phát triển đặt ra mối nguy hiểm của riêng của mình, chẳng hạn như tỷ lệ mất phương hướng của sự thay đổi và sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên của hành tinh của chúng ta. Vị trí của thuyết siêu nhân học phổ biến là phương pháp thực dụng nơi mà xã hội có hành động cố ý để đảm bảo đến sớm trong những lợi ích an toàn, công nghệ sạch thay thế, chứ không phải là bồi dưỡng những gì mà họ coi là chống lại quan điểm khoa và nỗi sợ về công nghệ một cách vô lý.

Một giải pháp về thuyết siêu nhân học được đề xuất bởi Nick Bostrom là khác biệt giữa các công nghệ phát triển, trong đó nỗ lực sẽ được thực hiện để ảnh hưởng đến thứ tự mà trong đó công nghệ phát triển. Trong phương pháp này, các nhà hoạch định sẽ cố gắng để làm chậm sự phát triển của công nghệ có thể có hại và các ứng dụng của họ, trong khi thúc đẩy sự phát triển của công nghệ có thể mang lại lợi ích, đặc biệt là những người cung cấp bảo vệ chống lại các tác hại của những người khác. Một lập luận cho một người phản đối theo chủ nghia cấp tiến và bi quan phiên bản của triết học siêu nhân học "cũng đã được trình bày bởi Philippe Verdoux.