Triều Tiên Cảnh Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Triều Tiên Cảnh Tông
Vua Triều Tiên
Vua nhà Triều Tiên
Tại vị năm 1720 - năm 1724
Đăng quang năm 1720
Tiền nhiệm Triều Tiên Túc Tông
Kế nhiệm Triều Tiên Anh Tổ
Thông tin chung
Hậu duệ
Miếu hiệu Cảnh Tông
Vương tộc Vương tộc họ Lý
Thân phụ Triều Tiên Túc Tông
Thân mẫu Hy tần họ Trương
Sinh 1688
Mất 1724 (36 tuổi)

Triều Tiên Cảnh Tông (1688 - 1724), làm vua 4 năm (1720 - 1724), tên của ông là 李昀(Hán Việt: Lý Quân), là vị vua thứ 20 của nhà Triều Tiên.

Ông là con trai của vua Triều Tiên Túc TôngHy tần họ Trương

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1688, sau khi sinh Đại Vương tử Lý Quân, Chiêu Nghi Trương Ngọc Trinh được sắc phong lên hàng Chính nhất phẩm Tần, tước hiệu Hy tần. Cùng trong năm đó vua Túc Tông muốn lập trưởng tử Lý Quân làm người kế vị nhưng gặp phải sự phản đối gay gắt của phái Tây Nhân mà đứng đầu là cha của cố vương hậu Nhân Kính.

Cuối năm 1688, được sự hậu thuẫn của Trương Hy tần và vua Túc Tông, phái Nam nhân trở lại nắm nhiều chức vị trong triều đình Triều Tiên. Phái Tây nhân và Vương phi Nhân Hiển khi đó đã cố gắng ngăn cản việc sắc phong Vương thế tử của Đại vương tử Lý Quân và sự trở lại chính trường của phe Nam nhân. Việc làm này khiến vua Túc tông phẫn nộ và hạ lệnh tước quan vị của nhiều trọng thần thuộc phe Tây nhân. Vương hậu Nhân Hiển cùng cha là Mẫn Huy Trọng bị tước danh vị, tịch thu tài sản, lưu đày. Được sự ủng hộ của phái Nam Nhân, vua Túc Tông chính thức sắc phong Trương Hy tần lên làm Vương phi, trưởng tử Lý Quân làm được phong làm Thế tử.

Năm 1694, phái Nam Nhân bành chướng bức ép Túc tông loại bỏ hết các đại thần phái Tây nhân để chiếm quyền chính sự, lạm dụng quyền hành, tham ô, nhận hối lộ, vơ vét công quỹ khiến đời sống xã hội Triều Tiên khi đó đi xuống trầm trọng. Lo sợ sự mất cân bằng trên chính trường làm suy giảm Vương quyền, Túc Tông quay sang trợ giúp phái Tây Nhân. Từ khi lên ngôi Vương phi, Trương thị tỏ ra ngỗ ngược, độc đoán, lạm quyền và tìm cách mưu hại các phi tần trong hậu cung khiến vua dần xa lánh, chán ghét. Sự tác động từ Thục tần họ Thôi và phái Tây nhân giúp vua ra quyết định phục vị cho Vương phi Nhân Hiển, đồng thời giáng Trương Vương phi trở về tước vị Hy Tần. Triều đình khi đó diễn ra một cuộc tranh luận lớn khi phái Tây Nhân muốn phế Thế tử, phái Nam Nhân ủng hộ Thế tử.

Năm 1698, thế tử Lý Quân bị mắc bệnh quai bị, do không kiêng kỵ đúng nên dẫn tới biến chứng viêm và teo tinh hoàn (bị vô sinh).

Năm 1701, Nhân Hiển vương hậu đột ngột qua đời. Phái Tây Nhân tìm ra bằng chứng Trương Hy tần dùng bùa phép ám hại Vương hậu Nhân hiển và câu kết vớinhà Thanh khi tiết lộ nhiều tài liệu quân sự cơ mật nhàm nhận được sự đồng thuận cho việc sắc phong Thế tử. Các nho sinh, sĩ phu trên toàn triều tiên đồng loạt dâng tấu yêu cầu vua giết Trương Hy tần, phế Thái tử. Trước tình hình chính trị bất ổn, vua Túc Tông quyết định ban chết cho Hy tần để an ủi vong linh và trả lại sự công bằng cho cái chết của Mẫn Vương phi, trấn an các nho sinh, sĩ phu trong cả nước. Cái chết của mẹ khiến thế tử Lý Quân căm hận phái Tây Nhân và phụ vương.

Năm 1702, Túc Tông lập Tiểu thư họ Kim là Nhân Nguyên Vương hậu, thế tử Lý Quân nhận bà làm dưỡng mẫu. Năm 1705, Thế tử Lý Quân khi đó 15 tuổi, được ban hôn với tiểu thư họ Thẩm, sắc phong Thế tử tần.

Năm 1717, Túc Tông lâm bệnh, ông cho phép thế tử Lý Quân thay ông phê tấu chương và ngồi cạnh thượng triều. Cũng trong năm này vua Túc Tông ban chỉ luận tội một số quan chức cấp cao phái Lão Luận (tiền thân là phái Tây Nhân trước đây). Đầu năm 1718, Thế tử tần họ Thẩm qua đời. Giữa năm đó, vua Túc Tông bệnh trở nặng không thể thiết triều, ông ban chiếu chỉ cho thế tử Lý Quân nhiếp chính. Cũng trong năm này. để dọn đường chính sự cho con trai kế vị, vua Túc Tông tiếp tục ban chiếu chỉ luận tội thêm một số quan chức cao cấp của phái Lão Luận. Tuy nhiên Túc tông cũng yêu cầu Cảnh tông sau khi lên ngôi phải lập con trai của Thục tần họ thôi là Lý Khâm làm người kế vị tiếp theo.

Năm 1719, Thế tử Lý Quân lập tiểu thư họ Ngự làm Thế tử tần. Năm 1720 vua Túc Tông băng hà, Thế tử Lý Quân chính thức lên ngôi, lấy hiệu là Cảnh Tông, truy phong cố Thế tử tần họ Thẩm làm Đoan Ý Vương hậu đồng thời sắc phong Thế tử tần họ Ngự làm Vương phi.

Trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1718, thế tử Lý Quân chính thức nhiếp chính, cai trị đất nước thay vua cha lâm bệnh

Năm 1720 thế tử Lý Quân lên ngôi, lấy hiệu Triều Tiên Cảnh Tông, dưới sự phò tá của các đại thần phái Thiếu Luận (tiền thân là phái Nam Nhân và một bộ phận phái Tây Nhân khác). Nhờ có công đưa Cảnh Tông lên ngôi, các triều thần phái Thiếu luận gây bè kết cánh, lũng đoạn triều chính suốt thời kì Cảnh Tông cai trị.

Năm 1723 và 1724 là thời kỳ hết sức khó khăn khi vua Cảnh Tông phải tìm cách dung hòa cuộc chiến giữa hai đảng phái chính trị Lão Luận và Thiếu Luận, đặc biệt là phái Thiếu Luận lúc này lớn mạnh thường xuyên lấn át Vương quyền.

Năm 1724, vua đột tử sau bữa ăn, kết thúc bốn năm trị vì đất nước.Cảnh tông bị đánh giá là một trong những vị vua nhu nhược, bất tài nhất của nhà Triều Tiên. Có ý kiến cho rằng cái chết của Cảnh Tông là sự sắp đặt của Vương đệ Lý Khâm, con trai Thục tần họ Thôi nhằm đoạt ngôi.

Sau khi Cảnh Tông mất, vương đệ Lý Khâm lên ngôi, tức Triều Tiên Anh Tổ.

An táng và mộ phần[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi mất, Cảnh Tông được an táng ở Ý lăng (懿陵, Uireong) (nay thuộc vùng Seokgwan-dong, khu Thành Bắc, Seoul).

Thụy hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cảnh Tông Đức Văn Dực Vũ Thuần Nhân Tuyên Hiếu Đại Vương
  • 景宗德文翼武純仁宣孝大王
  • 경종덕문익무순인선효대왕
  • Gyeongjong Deokmun Igmu Sunin Seonhyo Daewang

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cha: Triều Tiên Túc Tông
  • Mẹ: Hy tần họ Trương
  • Cậu (Bác):Jang Hye Jae
  • Đoan Ý vương hậu họ Thẩm ở Thanh Tùng (端懿王后沈氏, Danui Wanghu Shimssi, 1686-1718). Bà là con gái của Thanh Ân phủ viện quân Thẩm Hạo (靑恩府院君沈浩) và Linh Nguyện phủ phu nhân họ Phác ở Cao Linh (靈原府夫人高靈朴氏)
  • Tuyên Ý vương hậu họ Ngự ở Hàm Tùng (宣懿王后魚氏, Seonui Wanghu Eossi, 1705-1730). Bà là con gái của Hàm Nguyện phủ viện quân Ngự Hữu Quân (咸原府院君魚有龜) và Hoàn Dương phủ phu nhân họ Lí ở Toàn Châu (完陽府夫人全州李氏)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]