Triều Tiên Nhân Tổ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Triều Tiên Nhân Tổ
Vua Triều Tiên
Vua nhà Triều Tiên
Tại vị 1623 - 1649
Đăng quang 1623
Tiền nhiệm Quan Hải Quân
Kế nhiệm Triều Tiên Hiếu Tông
Thông tin chung
Thân phụ Định Viễn quân Lý Phu (Jeongwon, 정원군)
Thân mẫu Nhân Hiến vương hậu họ Cụ (인헌왕후 구씨)
Sinh 1595
Hán Thành
Mất 1649 (30 tuổi)
Triều Tiên Nhân Tổ
Hangul 인조
Hanja (Hán tự) 仁祖
Hán-Việt Nhân Tổ
Romaja quốc ngữ Injo
McCune-Reischauer Injo

Triều Tiên Nhân Tổ (1595 - 1649, trị vì 1623-1649) là vị vua thứ mười sáu của nhà Triều Tiên. Ông là cháu của Triều Tiên Tuyên Tổ. Triều đại của Nhân Tổ phải đối mặt với hai cuộc xâm lăng Triều Tiên của Mãn Châu, và kết thúc với sự đầu hàng của Triều Tiên vào năm 1636.

Thân thế và hoàn cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Triều Tiên Nhân Tổ, tên húy là Lý Tông. Ông sinh năm 1595, là con trai của Định Viễn quân Lý Phu (李琈) và là cháu nội của Triều Tiên Tuyên Tổ. Năm 1607, ông được phong làm Lăng Dương quân nhưng không được sự ủng hộ của bất kỳ phe phái nào.

Năm 1608, Triều Tiên Tuyên Tổ băng hà, Quang Hải Quân kế vị. Lúc ấy. triều đình chia thành nhiều phe phái khác nhau; trong đó phái Đông Nhân đứng đầu kể từ sau cuộc chiến tranh với Triều Tiên, chủ trương chống lại Nhật Bản. Nhưng sau đó phái này lại bị chia rẽ làm hai những năm cuối thời vua Tuyên Tổ: Bắc Nhân muốn cải cách triệt để, trong khi phái Nam Nhân đồng ý với cải cách dần dần. Sau khi vua Tuyên Tổ qua đời, phái Bắc Nhân, phe giành quyền điều khiển triều đình lúc ấy được chia thành "Đại Bắc Nhân Tiểu Bắc Nhân. Khi Quang Hải Quân lên ngôi, phái Đại Bắc Nhân do ủng hộ nhà vua nên trở thành phe phái chủ chốt. Trong khi phái Tây Nhân chỉ là một nhóm nhỏ, không có ảnh hưởng gì. Tuy nhiên, những người của phái Tây Nhân vẫn nung nấu chờ cơ hội để nắm quyền.

Cuộc binh biến năm 1623[sửa | sửa mã nguồn]

Quang Hải Quân là một nhà chính trị tài năng, nhưng ông không được sự ủng hộ của đại đa số quan lại, quí tộc và nho sĩ vì ông chỉ là con thứ của một tì thiếp. Phái Đại Bắc Nhân đã cố gắng để gạt bỏ những dư luận đó bằng cách đàn áp phái Tiểu Bắc Nhân; sát hại Lâm Hải Quân, con trai đầu của vua Tuyên Tổ, người anh cùng mẹ Quang Hải Quân và Vĩnh Xương Đại Quân, con của Vương hậu. Đây không phải là ý chỉ của Quang Hải Quân, ông cố gắng khôi phục các đại thần từ nhiều phái chính trị nhưng điều này bị ngăn chặn bởi phái Đại Bắc Nhân bao gồm Yi IcheomJeong In-hong. Những cải cách của Quang Hải Quân không nhận được sự đồng thuận của tầng lớp quí tộc, vì thế họ âm mưu tạo phản.

Năm 1623, phái Tây Nhân đứng đầu là Kim Tự ĐiểmKim Ja-jeom, Kim LưuKim Ryu, Lí QuýYi Gwi, Lý Quát đã lật đổ và truất ngôi Quang Hải Quân rồi sau đó lưu đày ông tới đảo Tế Châu (Jeju). Lí Nhĩ ChiêmYi Icheom và Trịnh Nhân HoằngJeong In-hong bị giết, phái Tây Nhân lên nắm quyền thay phái Bắc Nhân. phái Tây Nhân tìm một người khác lên ngôi, đó là vua Nhân Tổ. Mặc dù là vua, nhưng Nhân Tổ không có bất cứ quyền lực nào vì hầu hết đều nằm trong tay phái Tây Nhân, những người đã phế truất Quang Hải Quân.

Cuộc biến loạn của Lý Quát[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1624, Lý Quát (李适, 이괄, I Kwal) cho rằng mình đã không được đối xử và ưu đãi xứng với công lao, trong khi những người khác được ban thưởng và thăng quan tước, còn ông thì lại bị điều lên phía Bắc Bình Nhưỡng để ngăn chặn sự bành trường của người Mãn Châu nên nổi dậy chống lại vua Nhân Tổ. Lý Quát chỉ huy 12 nghìn quân, trong đó bao gồm 100 lính Nhật Bản (những người đã đào ngũ sang Triều Tiên trong chiến tranh Triều Tiên-Nhật Bản) tiến đánh Hán Thành. Trong trận Jeotan, Lý Quát đã đánh bại quân đội triều đình dưới sự chỉ huy của tướng Trương Văn (張晩Jang Man), và bao vây Hán Thành. Vua Nhân Tổ phải bỏ chạy đến Công Châu (公州, 공주, Kongchu). Kinh đô Hán Thành rơi vào tay quân phản loạn.

Ngày 11 tháng hai năm 1624, Lý Quát suy tôn Hưng An quân làm vua mới; tuy nhiên, tướng Trương Văn đã nhanh chóng phản công với một đội quân khác và tiêu diệt lực lượng của Lý Quát. Chẳng bao lâu quân đội Triều Tiên tái chiếm lại kinh đô, còn Lý Quát thì bị giết bởi chính binh sĩ của mình; cuộc nổi loạn kết thúc. Mặc dù Nhân Tổ đã giữ vững được ngôi vị, song cuộc nổi loạn cho thấy quyền lực của nhà vua đã suy yếu và rơi dần vào tay của tầng lớp quí tộc, những người đã tìm được chỗ đứng lớn hơn do có công chống lại cuộc nổi loạn. Ngoài ra, nền kinh tế được khôi phục yếu ớt từ thời Quang Hải Quân đã bị hủy hoại thêm lần nữa và nền kinh tế này sẽ còn yếu đuối trong một thời gian nữa.

Chiến tranh với Mãn Châu[sửa | sửa mã nguồn]

Quang Hải Quân đã khéo léo trong việc giữ chính sách trung lập giữa Mãn Châunhà Minh (Trung Quốc), đồng minh truyền thống của Triều Tiên. Tuy nhiên, sau khi Quang Hải Quân bị phế truất, phái Tây nhân đã theo đường lối thân Minh chống Mãn. Mãn Châu từ trước vẫn quan hệ tốt đẹp với Triều Tiên, thì nay bắt đầu lưu tâm tới Triều Tiên như một kẻ thù. Han Yun, người đã tham gia vào cuộc nổi loạn của Lý Quát, chạy sang Mãn Châu cầu cứu Nỗ Nhĩ Cáp Xích; mối quan hệ giữa Mãn ChâuTriều Tiên chấm dứt.

Năm 1627, 3 vạn kỵ binh dưới sự chỉ huy của A Mẫn (阿敏 Ah Min) và tướng Khương Hoằng Lập tiến đánh Triều Tiên, yêu cầu phục ngôi cho Quang Hải Quân và xử tử phái Tây Nhân đứng đầu là Kim Tự Điểm. Tướng Trương Văn lại một lần nữa cầm quân, nhưng không thể đẩy lui được quân xâm lược, vua Nhân Tổ phải chạy trốn đến đảo Giang Hoa; trong lúc đó, quân Mãn Châu cảm thấy không có lý do để tấn công Triều Tiên nên quyết định rút về để chuẩn bi giải quyết nhanh chóng chiến tranh với nhà Minh. Hậu KimTriều Tiên tuyên bố nối lại quan hệ như cũ, sau đó Mãn Châu rút quân. Cuộc chiến này được lịch sử gọi với cái tên là Đinh Mùi Hồ loạn (丁卯胡亂, 정묘호란, Chŏngmyo horan).

Tuy vậy, phái Tây Nhân vẫn giữ vững quan điểm của mình. Nỗ Nhĩ Cáp Xích có cái nhìn thiện cảm với Triều Tiên nên không muốn tấn công lân nữa. Nhưng chắng bao lâu sau đó, khi ông mất. Hoàng Thái Cực lên kế vị, Mãn Châu lại chuẩn bị cơ hội đế xâm lược Triều Tiên. Khi tướng Minh là Mao Văn Long (Mao Wenrong) chạy trốn đến Triều Tiên cùng với quân đội của mình, Nhân Tổ đã che chở và giúp đỡ nên gây ra cuộc xâm lược lần thứ hai của Mãn Châu.

Năm 1636, Hoàng Thái Cực chính thức đổi tên nhà Hậu Kim thành nhà Thanh và tự mình tổ chức một cuộc tấn công xâm lược Triều Tiên lần thứ hai, lịch sử gọi là Bính Tý Hồ loạn (丙子胡亂, 병자호란, Pyŏngcha horan). Quân nhà Thanh tránh đụng độ với lực lượng trấn thủ biên giới do tướng Lâm Khánh Nghiệp-Im Gyeong Eop, một viên tướng được nhà Thanh đánh giá cao. 2 vạn kị binh tiến thẳng đến Hán Thành trước khi Nhân Tổ có thể bỏ chạy đến đảo Giang Hoa, ông phải chạy tới Nam Hán Sơn thành (南漢山城, 남한산성, Namhansansŏng) và bị vây đói tại đây. Cuối cùng Nhân Tổ cũng đầu hàng nhà Thanh và kí Hòa ước Tam Điền Độ (三田渡, 삼전도, Sam-chŏn-do) nhục nhã: vua Nhân Tổ đã phải dập đầu cúi lạy tới chín lần như người đầy tớ với Hoàng đế nhà Thanh. Tiếp theo, hai vương tử đầu của Nhân Tổ bị đưa tới Trung Quốc như những tù nhân. Triều Tiên trở thành nước phiên thuộc của nhà Thanh vào năm 1636.

Cái chết của Thế tử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1644, sau khi nhà Thanh thống nhất toàn bộ Trung Quốc, hai vương tử được trở về Triều Tiên. Con trai đầu của Nhân Tổ, Chiêu Hiển Thế tử đã mang nhiều tư tưởng mới từ các nước phương Tây như Thiên chúa giáo, và đề nghị vua Nhân Tổ cải cách, trong đó có việc hy vọng biến Triều Tiên thành một quốc gia Thiên chúa giáo. Tuy nhiên, Nhân Tổ và quần thần không chấp nhận các ý kiến đó và thi thể của thế tử được tìm thấy trong phòng của nhà vua với một vết thương nặng ở đầu. Nhiều người đã cố gắng tìm hiểu nguyên nhân, nhưng Nhân Tổ ra lệnh mai táng nhanh chóng, sau đó ông buộc tội phản nghịch cho vợ của thế tử và xử tử bà. Phượng Lam Đại quân, người cũng trở về từ Trung Quốc, được chỉ định làm thế tử mới, sau này trở thành vua Hiếu Tông.

Năm 1628, một người Hà Lan có tên Weltevree bị trôi dạt tới Triều Tiên đã trở thành công dân và giới thiệu văn hóa Châu Âu vào Triều Tiên.

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày nay, vua Nhân Tổ bị xem là một vị vua kém, không giải quyết và ổn định trong việc cai trị, gây ra cuộc nổi loạn của Lý Quát, hai cuộc chiến tranh với Mãn Châu và tàn phá nền kinh tế. Ông thường được so sánh với người tiền nhiệm, Quang Hải Quân, người đã thực hiện nhiều cải cách và bị truất ngôi, trong khi Nhân Tổ hầu như không có thành tích nào trong thời gian trị vì và còn được đặt thụy hiệu. Nhiều người nhận xét ông không phải là tấm gương của các chính trị gia, ông cũng bị chê trách vì đã không quan tâm đến đất nước. Tuy nhiên, ông cũng cải cách quân đội và tăng cường quân sự để phòng thủ chiến tranh, khi đất nước bị nhiều cuộc xâm lược từ năm 1592-1636. Ông mất năm 1649.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Song thân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cha: Định Viễn quân Lý Chương (Jeongwon, 정원군)
  • Mẹ: Nhân Hiến vương hậu họ Cụ (인헌왕후 구씨)

Vợ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nhân Liệt Vương hậu họ Hàn ở Thanh Châu (仁烈王后 韓氏, 인렬왕후 한씨, Inryŏl Wanghu Hanssi, 1/7/1594 - 9/11/1635, 42 tuổi). Bà là con gái của Tây Bình phủ viện quân Hàn Tuấn Khiêm và Cối Sơn phủ phu nhân họ Hoàng ở Xương Nguyện
  • Trang Liệt Vương hậu họ Triệu ở Dương Châu (莊烈王后 趙氏, 장렬왕후 조씨, Changryŏl Wanghu Chossi, 7/11/1624 - 26/8/1694, 69 tuổi). Bà là con gái của Hán Nguyện phủ viện quân Triệu Xương Viễn và Hoàn Sơn phủ phu nhân họ Thôi ở Toàn Châu
  • Phế Quý nhân họ Triệu (廢貴人 趙氏, 귀인 조씨, P'yekwiin Chossi, ? - 16/12/1651)[3]
  • Quý nhân họ Trương ở Đức Thủy (貴人張氏, 귀인 장씨, Kwiin Changssi)

Con trai[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chiêu Hiển Thế tử Lý Vương (昭顯世子, 소현세자, Sohyŏn Secha, 1612-1645, 33 tuổi) - con trưởng của Nhân Liệt Vương hậu họ Hàn. Lấy Mẫn Hoài tần Họ Khương ở Câm Xuyên
  • Phượng Lâm Đại quân Lý Hạo (鳳林大君, 봉림대군, Pongrim Taikun, 1619-1659, 40 tuổi), tức vua Triều Tiên Hiếu Tông (1649-1659) - con thứ của Nhân Liệt Vương hậu họ Hàn.
  • Lân Bình Đại quân Lý Tuấn (인평대군, Rinp'yŏng Taikun 1622-1658) - Nhân Liệt Vương hậu họ Hàn. Lấy phủ phu nhân họ Ngô ở Phúc Xuyên
  • Long Thành Đại quân Lý Cổn (용성대군, Ryongsŏng Taikun) - con thứ tư của Nhân Liệt Vương hậu họ Hàn.
  • Sùng Thiện quân Lý Trừng (숭선군, Sungsŏn Kun, 1639-1690) - trưởng nam của Phế Quý nhân họ Triệu. Lấy Vĩnh Phong quận phu nhân họ Thân ở Bình Sơn
  • Lạc Thiện quân Lý Tiêu (낙선군, Raksŏn Kun, 1641-1695, 54 tuổi) - thứ nam của Phế Quý nhân họ Triệu. Lấy Đông Nguyện quận phu nhân họ Kim ở Giang Lăng

Con gái[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phế Hiếu Minh ông chúa (효명옹주, Hyomyŏng Ongchu) - con gái duy nhất của Phế Quý nhân họ Triệu. Hạ giá lấy Lạc Thành úy Kim Thế Long

Thụy hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

  • 인조개천조운정기선덕헌문열무명숙순효대왕
  • 仁祖開天肇運正紀宣德憲文烈武明肅純孝大王
  • Nhân Tổ Khai Thiên Triệu Vận Chính Kỷ Tuyên Đức Hiến Văn Liệt Vũ Minh Túc Thuần Hiếu Đại Vương

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]